Lê Tư Tề (1401– 1472)

Lê Tư Tề (1401– 1472)

Thông tin cơ bản

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn

Lê Lợi có ba người vợ được sử sách ghi nhận, trong đó có hai bà giữ ngôi chính phi và một bà là thứ phi. Người vợ chính thứ nhất là Thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ, quê ở trang Bái Đê, huyện Lôi Dương (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Bà sinh cho Lê Lợi người con trai trưởng là Lê Tư Tề. Người vợ chính thứ hai là Hiền phi Phạm Thị Ngọc Trần, bà sinh ra Lê Nguyên Long, tức vua Lê Thái Tông, vào thời điểm cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vừa mới bắt đầu. Ngoài ra, Lê Lợi còn có một người vợ lẽ là Huệ phi Phạm Thị Nghiêu, nhưng bà không sinh con.

Do hoàn cảnh chiến tranh liên miên trong những năm đầu khởi nghĩa, sử sách không ghi chép rõ năm sinh của Lê Tư Tề. Tuy nhiên, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra, ông đã đủ tuổi theo cha chinh chiến. Theo Đại Việt thông sử, Lê Tư Tề sớm bộc lộ tính cách dũng mãnh, hiếu chiến, “ham giết giặc”, thường trực cùng Lê Lợi trong các trận đánh lớn nhỏ chống quân Minh. Việc con trưởng của thủ lĩnh nghĩa quân trực tiếp xông pha trận mạc không chỉ thể hiện tinh thần gia tộc mà còn góp phần khích lệ sĩ khí trong hàng ngũ Lam Sơn.

Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, để đáp ứng yêu sách của tổng binh nhà Minh là Vương Thông nhằm tiến tới giảng hòa, Lê Lợi chấp nhận lập Trần Cảo làm vua bù nhìn. Trong bối cảnh chính trị phức tạp đó, Lê Tư Tề được phong giữ chức Thị trung, một chức quan cận kề bên vua, nhằm thể hiện vị thế và vai trò của ông trong triều đình lâm thời của nghĩa quân. Đến tháng 6 năm 1427, ông tiếp tục được gia phong chức Tư đồ, một trong những chức quan cao trong hệ thống quan chế truyền thống.

Tháng 11 năm 1427, cục diện chiến tranh chuyển hẳn về phía nghĩa quân Lam Sơn khi hai đạo viện binh lớn của nhà Minh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy lần lượt bị tiêu diệt trong các chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang và Lê Hoa. Trước thất bại nặng nề ấy, Vương Thông buộc phải chấp nhận giảng hòa và chuẩn bị rút quân về nước. Tuy nhiên, các quan người Việt theo nhà Minh như Lương Nhữ Hốt và Trần Phong lại khuyên Vương Thông không nên hoàn toàn tin vào thiện chí của Lê Lợi, lo ngại việc giảng hòa chỉ là kế nghi binh nhằm tiêu diệt toàn bộ quân Minh.

Để củng cố lòng tin lẫn nhau, hai bên thỏa thuận thực hiện việc trao đổi con tin. Phía nhà Minh cử hai tướng là Sơn Thọ và Mã Kỳ sang doanh trại Lam Sơn, trong khi Lê Lợi sai Lê Tư Tề cùng tướng Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan. Việc lựa chọn Lê Tư Tề – con trưởng của Lê Lợi – làm con tin cho thấy mức độ quan trọng của thỏa thuận và cũng phản ánh vị thế chính trị của ông trong mắt cả hai phía.

Đến tháng 12 năm 1427, Hội thề Đông Quan chính thức được tổ chức bên bờ sông Cái, đánh dấu sự kết thúc của cuộc kháng chiến chống Minh kéo dài hơn mười năm. Sau lễ thề, Vương Thông dẫn quân Minh rút về nước theo đúng cam kết, còn Lê Tư Tề trở về doanh trại Lam Sơn, khép lại vai trò đặc biệt của ông trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng.

Dưới thời Lê Thái Tổ

 Năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), Thái Tổ lên ngôi, sáng lập Triều đại, ông được phong làm Hữu tướng quốc, tước Quận vương (郡王). Sau đó, Thái Tổ già yếu nhiều bệnh, sai Nhập nội kiểm hiệu Bình chương sự Phạm Vấn, Nhập nội Đại tư mã Lê Ngân và Nhập nội thiếu phó Lê Văn Linh mang kim sách lập ông là Quốc vương để tạm coi việc nước; lập người con thứ là Lương quận công làm Hoàng thái tử. Hễ ai có việc trình bày phải xưng hô là Quốc vương điện hạ, phải dùng chữ “Khải” thay cho chữ “Tấu”, nếu Quốc vương có tuyên cáo hiệu lệnh thì dùng “Quốc vương chỉ huy” thay cho “Sắc”.

Năm thứ 5 (1432), tù trưởng Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lễ nổi loạn; ông được lệnh làm tướng đi đánh dẹp, bức hàng Đèo Cát Hãn và con là Đèo Mạnh Vượng.

Lúc bây giờ, vua Thái Tổ nhiều bệnh, việc chính sự lớn đều do Quốc vương Tư Tề quyết định, nhưng Tư Tề mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tì thiếp, dần dần không hợp ý vua cha.

Vậy mà chỉ trong ba năm, từ 1430 đến 1433, số phận của Lê Tư Tề đã quay ngoắt một trăm tám mươi độ. “Năm Quý Sửu, Thuận thiên thứ sáu, 1433, mùa thu tháng 8, giáng con trưởng Tư Tề làm Quận vương, lấy con thứ Nguyên Long kế thừa tông thống. Ngày 22 tháng 8, Vua băng ở chính tẩm”. Kết cục, ông con trai trưởng 32 tuổi từng kinh qua trận mạc, từng học chữ thánh hiền, từng được các văn thần như Nguyễn Trãi, Bùi Quốc Hưng, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Phan Thiên Tích…, các võ tướng Bắc Hà: Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Chú… rèn cặp, phụ giúp để nối nghiệp lớn của người cha vĩ đại, lại bị giáng chức, còn cậu bé Lê Nguyên Long mười một tuổi, đang tuổi chơi bời lại được lên làm vua, lấy hiệu là Lê Thái Tông.

Nguyên do những thay đổi cuối đời của vua Lê Thái Tổ, mà việc cuối cùng trước khi ngài mất là phế trưởng lập thứ, sử sách đã nói nhiều. Tính đa nghi của bậc quân vương; triều đình phân rẽ; phe Lam Sơn công thần lộng quyền, phe Bắc Hà bị nghi kỵ; Trần Nguyên Hãn cáo quan về quê vẫn không tránh khỏi bị chết, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Chú bị hãm hại, Nguyễn Trãi bị vào nhà lao… Trong bối cảnh ấy, câu chuyện ân nghĩa, lời hứa với thần linh, với người vợ hiến tế cho thần Hà Bá trên sông Khả Lam trong cuộc vây hãm của giặc Minh, đã làm Lê Lợi thay đổi ý định về người kế nghiệp.

Năm thứ 6 (1433), Lê Thái Tổ gọi người cháu ruột đang trấn thủ Hóa châu là Thiếu uý Lê Khôi vào bàn định việc chọn ai nối ngôi. Lê Khôi bàn nên chọn Nguyên Long, nên Thái Tổ mới quyết định chọn người con thứ.

Tháng 8 năm 1433, ông bị giáng xuống làm Quận vương. Cuối tháng đó Thái Tổ Cao Hoàng qua đời, người em Nguyên Long được lập lên ngôi, tức là Lê Thái Tông. Đô đốc Phạm Vấn và Đại tư đồ Lê Sát được chiếu chỉ phò đế, nắm quyền phụ chính.

Thời Lê Thái Tông

Tháng 1 năm 1434, có 3 thị nữ đến tâu với Thái Tông rằng ông phát ngôn nhiều điều càn bậy quái gở, có ý không thuận. Vì vậy Thái Tông hạ lệnh cấm cố ông, không cho các quan lại gần nơi ở của ông; còn ông, nếu không có lệnh gọi thì không được vào triều. Lại có lệnh: Nếu ai tự ý đến thăm hoặc dẫn ông vào triều sẽ bị tội nặng.

Tháng 5 năm 1438, Thái Tông nắm đại quyền sau khi giết Lê Sát và Lê Ngân. Thái Tông ra chỉ phế truất ông làm dân thường. Định cư ở xã Phù Lưu Tế huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội. Đổi tên thành họ Nguyễn Hữu và ở đây vẫn còn ngôi mộ của ông. Sau đó ông qua đời, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. Ông được truy phong là Quận Ai vương.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Le Tu Te (1401–1472)

Participation in the Lam Son Uprising

Le Loi had three wives recorded in historical sources, including two principal consorts and one secondary consort. His first principal consort was Than phi Trinh Thi Ngoc Lu, from Bai De village, Loi Duong district (now in Thanh Hoa province). She gave birth to Le Loi’s eldest son, Le Tu Te. His second principal consort was Hien phi Pham Thi Ngoc Tran, who gave birth to Le Nguyen Long—later King Le Thai Tong—at the time when the Lam Son uprising had just begun. In addition, Le Loi had a secondary consort, Hue phi Pham Thi Nghieu, who bore him no children.

Because of the continuous warfare during the early years of the uprising, historical records do not clearly state the birth year of Le Tu Te. However, when the Lam Son uprising broke out, he was already old enough to accompany his father on military campaigns. According to Dai Viet Thong Su, Le Tu Te early displayed a brave and aggressive temperament, being “fond of killing the enemy,” and was constantly at Le Loi’s side in both major and minor battles against the Ming forces. The fact that the eldest son of the rebel leader directly charged into battle not only embodied the family’s spirit but also helped inspire morale within the Lam Son ranks.

In the final stage of the resistance, in order to meet the demands of the Ming commander-in-chief Vuong Thong to move toward negotiations, Le Loi agreed to install Tran Cao as a puppet king. In this complex political context, Le Tu Te was appointed to the position of Thi trung, an office close to the ruler, to demonstrate his status and role within the provisional court of the insurgents. By June 1427, he was further promoted to the rank of Tu do, one of the highest offices in the traditional bureaucratic system.

In November 1427, the tide of war turned decisively in favor of the Lam Son forces when two major Ming relief armies led by Lieu Thang and Moc Thanh were successively destroyed in the Chi Lang–Xuong Giang and Le Hoa campaigns. Facing such devastating defeats, Vuong Thong was forced to accept negotiations and prepare to withdraw his troops. However, Vietnamese officials serving the Ming, such as Luong Nhu Hot and Tran Phong, advised Vuong Thong not to fully trust Le Loi’s goodwill, fearing that the negotiations were merely a ruse to annihilate the Ming army.

To strengthen mutual trust, both sides agreed to exchange hostages. The Ming side sent two generals, Son Tho and Ma Ky, to the Lam Son camp, while Le Loi dispatched Le Tu Te together with General Luu Nhan Chu into Dong Quan Citadel. The choice of Le Tu Te—the eldest son of Le Loi—as a hostage underscored the importance of the agreement and reflected his political standing in the eyes of both sides.

By December 1427, the Dong Quan Oath Conference was officially held on the banks of the Cai River, marking the end of more than ten years of resistance against the Ming. After the ceremony, Vuong Thong led the Ming troops back to their country as agreed, while Le Tu Te returned to the Lam Son camp, bringing his special role in the final phase of the war of liberation to a close.

Under the Reign of Le Thai To

In the first year of Thuan Thien (1428), Le Thai To ascended the throne and founded the dynasty. Le Tu Te was appointed Huu tuong quoc and granted the title of Quan vuong (郡王). Later, as Thai To grew old and frequently ill, he ordered Pham Van, holding the post of Nhap noi kiem hieu Binh chuong su, Le Ngan, Nhap noi Dai tu ma, and Le Van Linh, Nhap noi Thieu pho, to present a golden book appointing Le Tu Te as Quoc vuong to temporarily handle state affairs. At the same time, he designated his second son, Luong quan cong, as Crown Prince. Anyone submitting matters had to address him as “Quoc vuong dien ha,” use the term “Khai” instead of “Tau,” and if the Quoc vuong issued proclamations, they were to be styled “Quoc vuong chi huy” instead of “Sac.”

In the fifth year (1432), the chieftain Deo Cat Han of Phuc Le chau rebelled; Le Tu Te was ordered to lead a campaign to suppress the uprising, forcing Deo Cat Han and his son Deo Manh Vuong to surrender.

At this time, King Thai To was often ill, and major state affairs were decided by Quoc vuong Tu Te. However, Tu Te developed bouts of madness, indiscriminately killing his concubines, and gradually fell out of favor with his father.

Yet within just three years, from 1430 to 1433, the fate of Le Tu Te took a complete turn. “In the year Quy Suu, the sixth year of Thuan Thien (1433), in the autumn, eighth lunar month, the eldest son Tu Te was demoted to Quan vuong, and the second son Nguyen Long was chosen to inherit the dynastic line. On the 22nd day of the eighth month, the king passed away in the main palace.” Thus, the eldest son—32 years old, battle-hardened, educated in the Confucian classics, and mentored by civil officials such as Nguyen Trai, Bui Quoc Hung, Nguyen Mong Tuan, Ly Tu Tan, Phan Thien Tich, and military commanders of Bac Ha such as Tran Nguyen Han, Pham Van Xao, and Luu Nhan Chu—was demoted, while the eleven-year-old Le Nguyen Long, still in his playful youth, ascended the throne as King Le Thai Tong.

Historians have long discussed the reasons behind Le Thai To’s late-life decision to depose the elder son in favor of the younger. Factors included the ruler’s suspicious nature, factional divisions at court, the excesses of Lam Son meritorious officials, and the distrust of the Bac Ha faction. Tran Nguyen Han, though retired, still met a tragic death; Pham Van Xao and Luu Nhan Chu were persecuted; Nguyen Trai was imprisoned. In this context, matters of gratitude, vows to deities, and a promise made to the spirit of the river god Ha Ba—following the sacrifice of a wife during a Ming siege on the Kha Lam River—led Le Loi to change his mind regarding the successor.

In the sixth year (1433), Le Thai To summoned his nephew Le Khoi, then guarding Hoa chau with the rank of Thieu uy, to discuss the choice of heir. Le Khoi advised selecting Nguyen Long, leading Thai To to decide in favor of his second son.

In the eighth lunar month of 1433, Le Tu Te was demoted to Quan vuong. Later that month, Thai To Cao Hoang passed away, and his younger brother Nguyen Long ascended the throne as Le Thai Tong. Do doc Pham Van and Dai tu do Le Sat were ordered by edict to assist the young emperor as regents.

Under the Reign of Le Thai Tong

In January 1434, three palace maids reported to Thai Tong that Le Tu Te often uttered strange and inappropriate remarks, showing signs of disloyalty. As a result, Thai Tong ordered him placed under house arrest, forbidding officials from approaching his residence, and decreed that he was not to enter court unless summoned. Anyone who visited him without permission or brought him to court would face severe punishment.

In May 1438, after eliminating Le Sat and Le Ngan and seizing full authority, Thai Tong issued an edict stripping Le Tu Te of his rank and reducing him to commoner status. He was resettled in Phu Luu Te commune, My Duc district, Hanoi, and forced to change his surname to Nguyen Huu. His tomb still exists there. He later died at an unknown age and was posthumously granted the title Quan Ai vuong.

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.

Tiếng Pháp

Le Tu Te (1401–1472)

Participation a l’insurrection de Lam Son

Les sources historiques mentionnent que Le Loi eut trois epouses, dont deux epouses principales et une concubine. La premiere epouse principale etait Than phi Trinh Thi Ngoc Lu, originaire du hameau de Bai De, district de Loi Duong (actuelle province de Thanh Hoa). Elle donna naissance au fils aine de Le Loi, Le Tu Te. La seconde epouse principale etait Hien phi Pham Thi Ngoc Tran, qui mit au monde Le Nguyen Long, futur roi Le Thai Tong, au moment ou l’insurrection de Lam Son venait a peine de commencer. Par ailleurs, Le Loi eut egalement une concubine, Hue phi Pham Thi Nghieu, mais celle-ci n’eut pas d’enfant.

En raison des guerres incessantes durant les premieres annees de l’insurrection, les chroniques ne consignent pas avec precision l’annee de naissance de Le Tu Te. Toutefois, lorsque l’insurrection de Lam Son eclata, il etait deja en age d’accompagner son pere au combat. Selon Dai Viet thong su, Le Tu Te manifesta tres tot un caractere vaillant et belliqueux, « aimant combattre et tuer l’ennemi », et participa regulierement aux batailles grandes et petites contre les troupes Ming aux cotes de Le Loi. Le fait que le fils aine du chef de l’insurrection s’engage personnellement sur le champ de bataille incarnait non seulement l’esprit familial, mais contribuait aussi a stimuler le moral des troupes de Lam Son.

Dans la phase finale de la guerre, afin de satisfaire les exigences du commandant en chef Ming Vuong Thong en vue d’une paix negociee, Le Loi accepta d’etablir Tran Cao comme roi fantoche. Dans ce contexte politique complexe, Le Tu Te fut nomme Thi trung, une fonction proche du souverain, afin d’affirmer son rang et son role au sein du gouvernement provisoire de l’insurrection. En juin 1427, il fut de nouveau promu au poste de Tu do, l’une des plus hautes charges de l’administration traditionnelle.

En novembre 1427, l’evolution de la guerre tourna definitivement a l’avantage de l’armee de Lam Son, lorsque les deux grandes armees de secours Ming commandees par Lieu Thang et Moc Thanh furent successivement anéanties lors des campagnes de Chi Lang – Xuong Giang et de Le Hoa. Face a cette lourde defaite, Vuong Thong dut accepter la paix et se preparer a rapatrier ses troupes. Cependant, certains fonctionnaires vietnamiens collaborateurs des Ming, tels que Luong Nhu Hot et Tran Phong, conseillerent a Vuong Thong de ne pas faire entierement confiance a la bonne volonte de Le Loi, craignant que la paix ne fut qu’une ruse destinee a aneantir completement les forces Ming.

Afin de renforcer la confiance mutuelle, les deux parties convinrent d’un echange d’otages. Le camp Ming envoya les generaux Son Tho et Ma Ky au quartier general de Lam Son, tandis que Le Loi depêcha Le Tu Te, accompagne du general Luu Nhan Chu, dans la citadelle de Dong Quan. Le choix de Le Tu Te, fils aine de Le Loi, comme otage soulignait l’importance de l’accord et refle­tait egalement son statut politique aux yeux des deux camps.

En decembre 1427, la ceremonie du serment de Dong Quan fut officiellement organisee sur les rives de la riviere Cai, marquant la fin de plus de dix annees de resistance contre les Ming. Apres cette ceremonie, Vuong Thong retira ses troupes conformement aux engagements pris, tandis que Le Tu Te regagna le camp de Lam Son, mettant un terme a son role particulier dans la phase finale de la guerre de liberation.

Sous le regne de Le Thai To

En l’an Thuan Thien premier (1428), lorsque Le Thai To monta sur le trone et fonda la dynastie, Le Tu Te fut nomme Huu tuong quoc et eleve au rang de Quan vuong. Par la suite, Le Thai To, affaibli par l’age et la maladie, chargea Pham Van, Le Ngan et Le Van Linh de remettre le livre d’or etablissant Le Tu Te comme Quoc vuong, charge provisoirement d’administrer les affaires de l’Etat, tandis que son second fils, Luong quan cong, etait designe comme Hoang thai tu. Des lors, toute requete devait s’adresser a lui en l’appelant « Quoc vuong dien ha », et les edicts emanant de lui portaient la formule « Quoc vuong chi huy ».

En l’an Thuan Thien cinquieme (1432), le chef local Deo Cat Han du district de Phuc Le se rebella. Le Tu Te recut l’ordre de conduire les troupes pour reprimer la revolte et contraignit Deo Cat Han ainsi que son fils Deo Manh Vuong a la soumission.

A cette epoque, Le Thai To etait souvent malade et les grandes affaires de l’Etat etaient en realite decidees par Quoc vuong Tu Te. Toutefois, celui-ci manifesta des troubles mentaux, allant jusqu’a tuer arbitrairement des servantes, ce qui le rendit progressivement indigne de la confiance de son pere.

En l’espace de trois annees seulement, de 1430 a 1433, le destin de Le Tu Te bascula radicalement. En l’an Quy Suu, Thuan Thien sixieme (1433), a l’automne, au huitieme mois, le fils aine Tu Te fut degrade au rang de Quan vuong, tandis que le second fils Nguyen Long fut choisi comme heritier de la lignee. Le 22 du huitieme mois, Le Thai To mourut dans ses appartements. Ainsi, Le Tu Te, age de trente-deux ans, forme par les lettrés et les grands generaux, fut ecarte, tandis que Nguyen Long, age de onze ans, monta sur le trone sous le nom de Le Thai Tong.

Les chroniques attribuent ce changement a la mefiance croissante du souverain, aux divisions de la cour et aux luttes entre factions de Lam Son et de Bac Ha. Dans ce contexte trouble, Le Thai To modifia sa decision quant a son successeur. En 1433, il consulta son neveu Le Khoi, qui recommanda Nguyen Long, conduisant a la decision finale de designer le second fils.

Sous le regne de Le Thai Tong

En janvier 1434, trois servantes informerent Le Thai Tong que Le Tu Te tenait des propos incoherents et inconvenants. Le roi ordonna alors son assignation a residence, interdisant aux fonctionnaires de l’approcher et lui defendant toute presence a la cour sans autorisation expresse.

En mai 1438, apres l’elimination de Le Sat et de Le Ngan, Le Thai Tong detint le pouvoir absolu et prononca la destitution definitive de Le Tu Te, le rendant simple roturier. Celui-ci fut installe a Phu Luu Te, district de My Duc, a Hanoi, prit le nom de Nguyen Huu, et y fut enterre apres sa mort, a une date inconnue. A titre posthume, il fut honore du titre de Quan Ai vuong.

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.

Tiếng Trung

黎思齊(Le Tu Te,1401–1472)

参加蓝山起义

据史书记载,黎利有三位妻子,其中两位为正妃,一位为次妃。第一位正妃为神妃郑氏玉吕(Trinh Thi Ngoc Lu),籍贯拜堤庄,雷阳府(今清化省),生长子黎思齐(Le Tu Te)。第二位正妃为贤妃范氏玉陈(Pham Thi Ngoc Tran),在蓝山起义初起之时生下次子黎元龙(Le Nguyen Long),即后来的黎太宗。此外,黎利还有一位妾室惠妃范氏宜娆(Pham Thi Nghieu),但未生育子嗣。

由于起义初期战事频繁,史书并未明确记载黎思齐的出生年份。但可以确定的是,在蓝山起义爆发时,他已成年并随父出征。据《大越通史》记载,黎思齐性情勇猛好战,“嗜杀敌寇”,常随黎利亲临战阵。起义领袖之长子亲自冲锋陷阵,不仅体现了家族同心抗敌的精神,也极大鼓舞了蓝山义军的士气。

在抗明战争后期,为回应明朝总兵王通(Vuong Thong)提出的议和要求,黎利同意拥立陈暠(Tran Cao)为傀儡君主。在这一复杂的政治背景下,黎思齐被任命为侍中,这一职位位居君主近侧,显示了他在义军临时政权中的重要地位。至1427年6月,他又被加封为司徒,属于传统官制中的高位。

1427年11月,战局彻底向蓝山义军倾斜。明朝派出的两支大型援军,分别由柳升(Lieu Thang)与沐晟(Moc Thanh)率领,在支陵—昌江(Chi Lang – Xuong Giang)与黎花关(Le Hoa)战役中相继覆灭。遭受惨败后,王通被迫接受议和条件,准备撤军回国。然而,投靠明朝的越人官员如梁汝笏(Luong Nhu Hot)、**陈封(Tran Phong)**却劝说王通对黎利保持警惕,认为议和或只是诱敌之计。

为增强互信,双方商定交换人质。明方派遣将领**山寿(Son Tho)与马骐(Ma Ky)前往蓝山营地;而黎利则派遣长子黎思齐(Le Tu Te)与将领刘仁注(Luu Nhan Chu)**进入东关城。选择黎思齐作为人质,充分显示了协议的重要性,也反映出他在双方眼中的政治分量。

1427年12月,东关会盟在江盖河畔正式举行,标志着持续十余年的抗明战争彻底结束。会盟之后,王通依约率军撤回明朝,黎思齐也顺利返回蓝山营地,完成了他在战争最后阶段所承担的特殊使命。

黎太祖时期

顺天元年(1428),黎利即位称帝,建立黎初王朝。黎思齐被封为右相国,爵郡王(郡王)。其后,因黎太祖年迈多病,便命大臣范问(Pham Van)、黎银(Le Ngan)、黎文灵(Le Van Linh)奉金册,立黎思齐为国王,暂理朝政;同时立次子黎元龙为梁郡公,为皇太子。

此时凡上奏国王,须用“启”字;国王发布命令,则称“国王指挥”,可见黎思齐在这一时期实际上掌握了相当大的政治权力。

顺天五年(1432),福礼州酋长**刁葛罕(Deo Cat Han)发动叛乱,黎思齐奉命统兵讨伐,迫使刁葛罕及其子刁猛旺(Deo Manh Vuong)**归降。

然而,史书记载,黎思齐此后逐渐显露精神异常之状,性情狂躁,甚至杀害侍妾,令黎太祖日益不满。此时太祖病重,国家大事多由国王思齐裁决,朝廷内部矛盾也随之加剧。

1430年至1433年短短三年间,黎思齐的命运发生了巨大逆转。《大越史记全书》记载:“顺天六年癸丑(1433)秋八月,贬长子思齐为郡王,立次子元龙承统。八月二十二日,帝崩于正寝。”

于是,这位曾随父征战、受阮廌(Nguyen Trai)、裴国兴(Bui Quoc Hung)、阮梦旬(Nguyen Mong Tuan)、李子晋(Ly Tu Tan)、潘天积(Phan Thien Tich)等文臣,以及陈元汉(Tran Nguyen Han)、范文巧(Pham Van Xao)、**刘仁注(Luu Nhan Chu)**等北河武将辅佐培养的长子,最终被废黜;而年仅十一岁的黎元龙即位,是为黎太宗。

史家普遍认为,太祖晚年改立继承人的原因,与其多疑性格、朝廷内部分裂、蓝山功臣集团与北河集团的矛盾密切相关。在这一政治氛围中,多位重臣相继遇害或遭清算,直接影响了储位的最终选择。

黎太宗时期

1434年正月,有三名宫女向黎太宗奏称,黎思齐常言语怪诞,心怀不顺。太宗遂下令将其软禁,严禁百官探视,并规定若有人私自接触或带其入朝,必严惩不贷。

1438年5月,黎太宗在诛杀黎察(Le Sat)与黎银(Le Ngan)后亲掌大权,随即下诏废黎思齐为庶人,改姓阮有(Nguyen Huu),迁居扶留济社(Phu Luu Te),美德县(今河内市)。当地至今仍存其墓。

黎思齐卒年不详,享年亦无确载。其身后被追封为哀郡王,其一生至此落幕。

参考

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (8)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)