Bối cảnh
Năm 1940 trong nhà tù Bà Rá (Sông Bé) có tên cai ngục người Pháp rất tàn ác. Hàng ngày như một con thú dữ, hắn thường xuyên đi kiểm tra tù chính trị, trên tay cầm cây roi mây, hễ gặp bất cứ ai là quất lấy quất để xuống đầu! Người nào tỏ ý chống cự, lập tức hắn xua con chó bẹc giê xông vào cắn xé! Hắn còn có một thú vui khác nữa là sau những lúc say rượu, sai người tù cầm chai để cho hắn rút súng ra bắn. Trong cơn say ngất ngưởng của hắn, chỉ cần viên đạn chệch hướng, người tù có thể kết thúc cuộc đời! Do đó, khi hắn nổi hứng với trò chơi này thì ai nấy đều khiếp vía. Chiều nọ, cũng sau cơn say, hắn gọi một phụ nữ ra đứng cầm chai. Lạ thay! Chị nghiến chặt hàm răng với vẻ căm thù, đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, không run lẩy bẩy như những bạn tù khác. “Đoàng!”. Viên đạn chính xác vào mục tiêu. Cái chai vỡ toang, chị vẫn không thay đổi sắc mặt. Tên cai ngục cười sặc sụa:
– Con nhỏ cộng sản này gan lắm!
Mãi đến cuối năm 1943, do bị bệnh đau tim nặng, chị mới được chúng phóng thích. Trở về quê nhà, chưa kịp lành lặn vết thương trong nhà tù đế quốc thì chị phải gánh lấy một vết thương khác đau đớn hơn nhiều lần. Đó là người chồng mà chị rất mực yêu thương bị giặc tra tấn tàn khốc đã chết ngoài Côn Đảo! Dù vậy, chị vẫn không dám khóc vì đứa con trai duy nhất còn quá nhỏ, chưa đủ sức để chịu đựng được nỗi đau như chị. Nỗi đau ấy phải lặn vào trong tim và biến thành lòng căm thù sâu sắc.
Cuộc đời và sự nghiệp
Người phụ nữ đó tên thật là Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/2/1920 trong một gia đình nông dân tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm (Bến Tre). Ngay từ nhỏ, bà đã được người anh ruột giác ngộ lý tưởng cách mạng. Mới 12 tuổi, bà đã nhận nhiệm vụ đi giao liên và rải truyền đơn. Lớn lên, bà đảm nhận nhiều công việc gian khổ và nguy hiểm. Sau này, trong số bạn bè của người anh ruột, có anh Ba Bích – là tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre – đã ngỏ lời kết hôn với bà. Đám cưới của họ diễn ra vào cuối năm 1938. Lúc bà sinh con được ba ngày, chưa kịp đặt tên thì chồng bị bắt đày ra Côn Đảo. Còn bà thì vài tháng sau cũng bị giặc bắt và đày đi Bà Rá. Được thả tự do, bà vừa nuôi con vừa sống theo lý tưởng của người chồng đã hy sinh và giữ lòng chung thủy với người chồng đã mất. Sau cuộc khởi nghĩa năm 1945, bà được giao công tác ở Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Đến cuối năm 1946, trong Đại hội phụ nữ, bà được bầu làm ủy viên Ban chấp hành. Trong lúc đang cùng với Hội Phụ nữ Bến Tre làm hết sức mình để động viên, giúp đỡ bộ đội thì bà được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ mới. Đó là cùng với ông Đào Văn Trường – Tư lệnh Quân khu 8, giáo sư Ca Văn Thỉnh và bác sĩ Trần Hữu Nghiệp ra thủ đô báo cáo với Bác Hồ, với chính phủ về tình hình Nam bộ sau Hiệp định Sơ bộ và xin chi viện vũ khí. Vào cuối tháng 3/1946, đoàn của bà đi theo đường biển từ Bến Tre đến Phú Yên, và từ đó tiếp tục đi xe lửa ra Hà Nội. Ra thủ đô được gặp Bác Hồ, bà nhớ như in lời dạy của Bác:
– Người cách mạng phải học suốt đời, học lý luận, học quần chúng, học thực tế. Người không học thì như đi ban đêm không có đèn, không có gậy dễ vấp té.
Lời khuyên này đã được bà Nguyễn Thị Định cố gắng thực hiện suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Nhờ không ngừng học tập, rèn luyện mà sau này bà trở nên nhân vật lẫy lừng như phát biểu của Bác Hồ: “Phó tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”. Tháng 11-1946, bà trở về Nam một mình vì những người trong đoàn nhận nhiệm vụ ở lại miền Bắc hoặc về sau. Từ Hà Nội, bà đi gặp Ủy ban kháng chiến Nam Trung bộ đang đóng tại Quảng Ngãi. Tại đây bà nhận vũ khí rồi đi xe lửa vào đến Tuy Hòa. Bắt đầu từ đoạn đường này về Nam thì giặc đã bố trí lực lượng và kiểm soát rất ngặt. Không bó tay, bà cùng đồng đội của mình quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Họ tính đến phương án dùng ghe và đánh lừa giặc bằng cách ngụy trang thành ghe bán nước mắm. Vượt qua biết bao sóng gió nguy hiểm và mạng lưới kiểm soát dày đặc của kẻ thù, đoàn ghe chở vũ khí đã về đến nơi an toàn. Tất cả vũ khí này đã được trao tận tay cho thượng tướng Trần Văn Trà – bấy giờ là Tư lệnh khu 8. Ông Trà phát biểu: “Có thể nói chị Ba Định đã thành công trong một chuyến chuyển vũ khí mạo hiểm, đầy thông minh để tăng cường đúng lúc sức mạnh vật chất cho cuộc kháng chiến Nam bộ. Nhưng cái quý giá hơn là những giá trị tình cảm ruột thịt Bắc – Nam, giá trị động viên tinh thần gói ghém trong sự kiện đặc biệt này, đối với đồng bào, chiến sĩ Nam bộ trong những ngày đầu kháng chiến”. Nhờ số vũ khí này cộng với lòng yêu nước nồng nàn, quân dân miền Nam đã đánh thắng giặc Pháp những trận thất điên bát đảo! Tình hình ngày càng thay đổi, sau chiến dịch Đông Xuân cuối năm 1953, đầu năm 1954, phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ, chiến tranh du kích ở Nam bộ có những bước chuyển rõ rệt. Ách thống trị của thực dân Pháp bị dân tộc ta lật nhào bằng những trận đòn sấm sét.
Sau năm 1954 nhiều cán bộ chủ chốt tập kết ra miền Bắc, nhưng bà Nguyễn Thị Định nhận lệnh ở lại miền Nam. Bà được chỉ định vào thường vụ Tỉnh ủy bí mật tỉnh Bến Tre. Bà đành dứt ruột gởi đứa con trai duy nhất của mình (con trai của bà tên On, sau này đổi tên là Nguyễn Ngọc Minh) ra Bắc học tập. Lúc này, Hiệp định Genève ký chưa ráo mực thì Mỹ đã thúc ép Pháp phải chấp nhận chế độ Ngô Đình Diệm, lập ra chính quyền tay sai ở Sài Gòn. Từ năm 1955 đến năm 1960, Mỹ đã đưa vào miền Nam gần 1,5 tỷ đôla vũ khí và các phương tiện chiến tranh. Nhà tù mọc lên như nấm. Những người kháng chiến cũ đều bị chúng bắt bớ, đàn áp. Biết bà là cán bộ chủ chốt còn ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào kháng chiến, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ra truyền đơn truy nã: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được tên Nguyễn Thị Định, một tên “Việt Cộng cái” rất lợi hại, người mập trắng, mày rậm, tóc quăn, có cái bớt ở má phải”. Sau này trong hồi ký Không còn đường nào khác (NXB Quân đội nhân dân – 1979) bà có kể lại: “Tình hình chung ở các nơi càng đen tối. Ngay ở xã quê tôi lúc bấy giờ, bọn Diệm đã lập xong hội đồng hương chính. Chúng đưa tên Phán, một tên ác ôn khét tiếng lên làm đại diện. Chúng đã lập xong hai cái bót lù lù ở hai đầu xã, tay chân của chúng từ lũ dân vệ, đến công an, cảnh sát đều là một lũ con cái địa chủ, lưu manh, ác ôn hết chỗ nói. Bọn này hùng hổ xách súng sục sạo từng nhà đòi nộp lúa ruộng cho địa chủ, nghi ai “Việt cộng” là bắn giết không gớm tay, như chúng đã giết cháu tôi. Cả tỉnh Bến Tre sống trong cảnh ngột ngạt khó thở như vậy, bao nhiêu người yêu nước bị chúng nó tập trung đi giết mất tăm. Giữa lúc Bến Tre đang ở trong cảnh dầu sôi lửa bỏng như vậy thì anh Ba Lê Duẩn cũng có mặt ở đây. Anh vừa từ miền Tây lên để trực tiếp nắm tình hình của khu 8 và Sài Gòn. Việc này chỉ có mấy đồng chí chúng tôi trong thường vụ Tỉnh ủy được biết”. Chính trong những ngày đen tối này, với cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, ông Lê Duẩn đã viết bản “Đề cương đường lối cách mạng miền Nam” nổi tiếng, trở thành cơ sở cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa 2) về con đường tiến lên của cách mạng miền Nam. Từ tháng 11/1959 bà Nguyễn Thị Định nhận nhiệm vụ về Khu ủy ở Đồng Tháp Mười để lãnh hội Nghị quyết 15. Học xong trở về lại Bến Tre, với vai trò Phó bí thư tỉnh ủy bà đã chủ trì hội nghị truyền đạt lại tinh thần của Nghị quyết. Sau cuộc thảo luận sôi nổi đến tận khuya, hội nghị này đã hoàn toàn nhất trí và hạ quyết tâm phát động phong trào toàn dân đồng khởi phá đồn bót, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của giặc, giành lại quyền làm chủ, giành lại ruộng đất bị địa chủ chiếm đoạt và kiên quyết cướp lấy vũ khí của giặc để xây dựng các lực lượng vũ trang… Cũng trong hội nghị này, bà Nguyễn Thị Định đề nghị chọn quận Mỏ Cày làm trọng điểm nổ ra phong trào Đồng Khởi. Trong lúc mọi người còn phân vân, đắn đo thì bà khẳng định một điều gần như là chân lý:
– Điều căn bản là ta phải tin tưởng quần chúng và luôn bám chặt vào quần chúng để chiến đấu thì nhất định thắng lợi.
Đúng như nhận định của bà, phong trào Đồng khởi nổ ra như tiếng sét dội xuống đầu kẻ thù. Từ ngày 17/1/1960 cuộc Đồng khởi đầu tiên đã diễn ra ở ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp (Bến Tre), rồi nhanh chóng lan rộng ra các nơi ở Nam bộ, mạnh nhất là các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Trà Vinh, Tây Ninh v.v… Trong lúc bà hăng hái lao vào nhiệm vụ thì một nỗi đau lớn lại ập đến. Bên cạnh bức điện chỉ thị công tác, bà đọc được dòng chữ: “Cháu On con chị Ba, bị bệnh mất ngày 4/5/1960”. Đọc xong bức điện, bà ngất xỉu. Còn nỗi đau nào hơn khi người mẹ mất con? Lá thư bà vừa viết gửi cho con trai với những dòng chữ thắm thiết tình mẹ con: “Ngày này năm rồi má cũng viết cho con một lá thư, nhưng không biết con có nhận được không? Con lâu thư cho má. Má băn khoăn lắm: không biết tình hình thực tế như thế nào? Có phải vì nguyên tắc? Hay vì con đã quên má và bao nhiêu người thân yêu rồi?…” thì On chẳng bao giờ còn đọc được nữa! Lúc bấy giờ phong trào đang chuẩn bị bước vào đợt hai, bà phải nén nỗi đau, giấu tiếng khóc để tiếp tục lãnh đạo phong trào.
Tính đến cuối năm 1960, trong số 1.296 xã toàn Nam bộ, có đến 800 xã do nhân dân làm chủ với mức độ khác nhau. Sự kiện long trời lở đất này trong văn kiện “50 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” đã nhận định: “Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo ra một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược làm thay đổi cục diện, là một đòn bất ngờ giáng vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo ra cơ sở để phát động cuộc chiến tranh nhândân, toàn dân toàn diện, chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, đẩy bộ máy ngụy quyền vào tình trạng khủng hoảng triền miên không có lối thoát. Phong trào Đồng khởi đã giành được thắng lợi vì nó nổ ra đúng vào lúc địch đang thất bại cơ bản về chính trị. Quần chúng căm thù đến tột độ, đã dùng bạo lực cách mạng bất ngờ tiến công dồn dập và mãnh liệt vào khâu yếu nhất của địch là chính quyền cơ sở ở nông thôn”; và “Thắng lợi của phong trào Đồng khởi góp phần phát triển một cách sáng tạo hình thức và phương pháp đấu tranh của cách mạng miền Nam: đánh địch bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận), áp dụng phương châm, phương pháp đấu tranh chính trị, quân sự thích hợp ở cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị” (Việt Nam đất nước anh hùng – NXB Sự Thật -1975). Đội quân làm nên phong trào Đồng khởi chính là những phụ nữ miền Nam kiên cường, trung hậu, đảm đang. Do đó không phải ngẫu nhiên mà Mỹ – Diệm khiếp đảm gọi là “Đội quân tóc dài”!
Đánh giá vai trò của bà Nguyễn Thị Định, thượng tướng Trần Văn Trà cho biết: “Chị Ba Định là người trực tiếp đi nhận nhiệm vụ của cấp trên, trực tiếp chỉ đạo triển khai, tiến hành cuộc Đồng khởi ở Bến Tre. Khi nghiên cứu cụ thể và có hệ thống về cuộc đồng khởi nổi tiếng này, tôi không khỏi ngạc nhiên về tài tổ chức, huy động lực lượng, về trình độ vạch kế hoạch và triển khai thực hiện, về nghệ thuật lãnh đạo và ứng phó với tình hình, về phương châm, phương thức đối với những phản ứng của địch. Không có một lòng tin vững chắc vào tinh thần cách mạng của nhân dân, cũng như không có một tinh thần trách nhiệm cao,một dũng khí mạnh mẽ, thì khó mà có một chủ trương và một sự chỉ đạo phong trào thành công lớn như vậy. Rõ ràng qua phong trào này, nổi bật lên tài thao lược, ý chí cao, nghệ thuật điều hành của người chỉ huy đội quân tóc dài, vừa hình thành tổ chức, vừa tác chiến ngay tại chiến trường vô cùng phức tạp và đã đem lại thắng lợi vẻ vang”. Chính từ thắng lợi này mà ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời – góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam. Từ tháng 12/1960, bà Nguyễn Thị Định là Ủy viên đoàn chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng. Và qua năm sau, bà được bầu là Bí thư Đảng Đoàn phụ nữ khu 8. Sau thất bại của cuộc “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ – Diệm chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Từ tháng 2-1965, giặc Mỹ đưa những đơn vị lính thủy đánh bộ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng, sau đó quân đội của chúng ồ ạt đổ vào miền Nam. Trước tình hình này, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng được phái vào chiến trường làm Chính ủy Bộ chỉ huy Miền. Vào đến nơi, sau khi nghe báo cáo về phong trào Đồng khởi, về tinh thần quyết chiến quyết thắng của phụ nữ miền Nam, Đại tướng cho mời bà lên gặp để giao nhiệm vụ mới. Sau những lời hỏi han thân mật, Đại tướng nói:
– Chị Ba à, theo nhận định của Trung ương, chị có quá trình tham gia lãnh đạo Đồng khởi ở Bến Tre, nắm được nghệ thuật tiến hành chiến tranh du kích và biết đánh địch bằng ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận. Do đó, theo yêu cầu hiện nay đang diễn ra ở chiến trường, Bác Hồ và Bộ Chính trị quyết định rút chị lên làm Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Ngoài công tác chung, Bộ chỉ huy phân công chị theo dõi phong trào chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị.
Với cương vị này, bà ra sức học tập để có thể đảm đương nhiệm vụ mà nhân dân đã giao phó. Thượng tướng Trần Văn Trà có kể lại: “Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian không dài, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng trên chiến trường. Trong công tác chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng ở nơi đóng quân và ngay cả đơn vị đang tác chiến. Chị không chỉ quan tâm đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến của bộ đội, mà còn chăm lo cụ thể đến việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ. Anh em tiếp đón chị như người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị bằng cái tên “Chị Ba” trìu mến. Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói đùa với chị là: “Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ chiến sĩ đối với chị Ba đấy”. Còn trung tướng Trần Độ có kể lại một chi tiết khá thú vị: “Ở Bộ Tư lệnh Miền, chị vừa đảm nhiệm chức trách của một Phó tư lệnh, vừa là một nữ chủ nhân của một gia đình gồm cả các tướng lĩnh, các sĩ quan và các cô, các chú binh nhất, binh nhì… Chị lo cho mọi người từ miếng ăn, manh áo, liều thuốc. Các cô cấp dưỡng, y tá thường tíu tít quanh chị, nhận những lời khuyên nhủ, dạy bảo của một bà mẹ hiền. Cũng rất độc đáo là trong Bộ Tư lệnh đã hình thành một tục lệ do anh Nguyễn Chí Thanh đề xướng: Hễ từ chiến trường có gởi báo cáo về tiêu diệt một tiểu đoàn thì chị Ba phải chiêu đãi anh em một bữa bánh bao. Thế là những lúc đó, chị Phó Tư lệnh lại có mặt ở nhà bếp để chỉ đạo các cô cấp dưỡng nhào bột, làm nhân bánh, hấp bánh”. Thật vậy, với vai trò của người chỉ huy tối cao, bà còn là người mẹ, người chị của chiến sĩ giải phóng. Hình ảnh bà ngồi khâu áo cho chiến sĩ mãi mãi là hình ảnh đẹp làm sao kẻ thù có thể hiểu được sức mạnh lạ lùng của cuộc chiến tranh nhân dân như thế. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, với tư cách Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam, bà lãnh đạo đội quân tóc dài làm nên những chiến công lừng lẫy. Với những đóng góp tích cực của mình, và tháng 4/1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng và là người dẫn đầu đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà vẫn tiếp tục công tác ở nhiều cương vị khác nhau và được Đảng, Nhà nước và các tổ chức quốc tế trao tặng nhiều phần tưởng cao quý. Bà mất lúc 22 giờ 50 phút ngày 26/8/1982 tại TP. Hồ Chí Minh. Nói như GS Trần Văn Giàu thì: “Chị Ba Định là một trong những phụ nữ tiêu biểu của đất nước ta, là một người lãnh đạo có uy tín, có tấm lòng nhân hậu, được nhân dân, chiến sĩ, phụ nữ cả nước tin yêu, kính trọng. Với 72 tuổi đời, có 56 năm hoạt động kiên cường, liên tục, chị Ba Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng quyết liệt rất đáng tự hào của dân tộc ta, đặc biệt trong bước ngoặt lịch sử của thập niên 60, chị đã góp một bàn tay quan trọng trên dây kéo, kéo lá buồm của con thuyền cách mạng vượt qua bão tố, tiến về phía trước”. Cuộc đời của nữ tướng Nguyễn Thị Định mãi mãi là tấm gương sáng, là niềm tự hào cho các thế hệ mai sau.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.