Tham tụng Nguyễn Quán Nho (1638 – 1708)

Tham tụng Nguyễn Quán Nho (1638 – 1708)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Nguyễn Quán Nho là người làng Đông Triều, xã Vãn Hà, huyện Thụy Nguyên, thuộc nội trấn Thanh Hoa thời Lê Trung Hưng. Nguyễn Quán Nho sinh ngày 2 tháng 10 năm 1638 (Mậu Dần), thuộc đời thứ sáu của dòng họ Nguyễn Quán. Cha ông là Nguyễn Quán Hoàn, mất sớm khi Nguyễn Quán Nho còn nhỏ. Mẹ là Trịnh Thị Phúc quê ở làng Bồng Thượng, huyện Vĩnh Lộc.

Sự nghiệp

Năm 1657, ông dự thi Hương và đỗ Hương cống. Hai năm sau vào năm 1659, ông thi Hội đỗ tam trường và được tuyển vào làm quan trong triều. Đến năm 1667, dưới triều Lê Huyền Tông, ông đỗ đồng tiến sĩ khoa Đinh Mùi khi mới 30 tuổi.

Năm 1672, Nguyễn Quán Nho được bổ nhiệm làm Đô đốc hai tỉnh Hải Dương – Yên Quảng. Trong giai đoạn 1674–1681, ông bốn lần tham gia phái đoàn của triều đình Lê – Trịnh sang nhà Thanh công cán, ngoại giao. Năm 1684, ông được bổ làm Phó đô ngự sử, rồi đầu năm 1691 thăng làm Tả thị lang bộ Lại, cuối năm 1692 kiêm thêm chức Đô ngự sử.

Sang năm 1693, ông được thăng làm Thượng thư bộ Binh và cùng Thượng thư bộ Hình Lê Hy vào phủ chúa Trịnh làm Tham tụng. Năm 1694, hai ông dâng tờ khải kiến nghị sáu việc cải cách như kiểm tra mốc giới ruộng đất, chỉnh đốn việc xử kiện và khảo công quan lại, được chúa Trịnh phê chuẩn. Trong suốt 5 năm ở ngôi Tể tướng, Nguyễn Quán Nho làm việc giản dị, minh bạch và khoan dung.

Sách “Lịch triều tạp kỉ” của Ngô Cao Lăng viết: Mùa thu năm Bính Tý (1696) thi các quan trong, quan ngoài, Khang Vương (Trịnh Căn) triệu ông vào nghĩ đầu bài và bảo giữ bí mật. Ông nói chuyện với người, không ngờ hơi lộ, có kẻ hoạn thụ ở phủ chúa tâu lên. Khang Vương giận lắm, cắt chức Tể tướng giáng ông xuống làm Tả Thị lang ở bộ ấy, rồi sau nhận chức đài ngự sử 7 năm.

Năm Nhâm Ngọ (1702), ông được phục chức cũ, lại làm tham tụng rồi thăng Thượng thư bộ Lễ coi việc tòa Trung thư, tước Hương Giáng bá. Lúc đó cùng với ông có Lê Hy ở Thạch Khê cũng giữ chức Thượng thư. Tuy vậy, Lê Hy tính tình đố kỵ nghiêm khắc trong khi ông thì xử sự khoan hậu, thiên hạ được nhờ. Vì vậy đương thời có câu ca dao: “Thượng thư Lê Hy, thiên hạ sầu bi, Tể tướng Vãn Hà, thiên hạ âu ca”.

Sách Đại Nam quốc sử diễn ca cũng ghi:

Bởi ai thiên hạ âu ca.
Chẳng quan Tham tụng Vạn Hà là chi.

Trong cuộc đời 40 năm làm quan, trải qua 4 đời vua Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông và Lê Dụ Tông, Nguyễn Quán Nho luôn thể hiện là một vị quan thanh liêm, hết lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự đất nước

Năm Vĩnh Thịnh – Đinh Hợi (1707), ông về hưu ở tuổi 70. Hơn một năm sau ông mất, và được thăng Lại bộ Thượng thư, tước Quận Công. Về nơi cửu tuyền ông được nhà Lê truy phong là Trung đẳng thần, đến thời Nguyễn gia phong là Cương ý dực bảo trung lương, Thượng đẳng thần. Khi mất đi, tài sản ông để lại không đủ xây dựng nhà thờ cho chính mình, mãi sau một viên quan địa phương nể trọng tài đức và sự thanh liêm, nên đứng ra kêu gọi quyên góp xây dựng đền thờ ông ngay tại mảnh đất nhà thờ ngày nay.

Di sản để lại

Trước tác của Nguyễn Quán Nho chỉ còn 01 bài văn sách thi Đình, 03 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục và 01 văn bia ở Từ chỉ Đông Lao (xã Đông La, huyện Hoài Đức, Hà Nội).

Ngày 20.1, Thư viện Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá đã khai mạc “Triển lãm sách báo mùa xuân và trưng bày, giới thiệu tài liệu địa chí Thanh Hóa xưa và nay xuân Kỷ Sửu – 2009”. Đặc biệt, trong đợt trưng bày này, có một hiện vật giá trị vẽ cách đây hơn 4 thế kỷ mới được tìm thấy, đó là bức chân dung của tiến sĩ Nguyễn Quán Nho (1638-1709), do một họa sĩ người Trung Quốc vẽ khi ông được cử đi sứ sang Trung Quốc.

Thờ tự

Khi mất, Nguyễn Quán Nho được thăng Lại bộ Thượng thư, tước Quận Công. Đền thờ Tể tướng Nguyễn Quán Nho hiện thuộc tiểu khu 5, thị trấn Thiệu Hóa (huyện Thiệu Hóa), được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1993. Ngôi đền có quy mô không lớn, nhưng cổ kính, trang nghiêm với mái ngói rêu phong, nóc nhà trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt, trước cửa có đôi nghê chầu.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Prime Minister Nguyen Quan Nho (1638–1708)

Background
Nguyen Quan Nho was born in Dong Trieu village, Van Ha commune, Thuy Nguyen district, within the Thanh Hoa inner territory during the Later Le period. He was born on October 2, 1638 (Mau Dan year), belonging to the sixth generation of the Nguyen Quan family. His father, Nguyen Quan Hoan, died when Nguyen Quan Nho was still a child. His mother, Trinh Thi Phuc, came from Bong Thuong village, Vinh Loc district.

Career
In 1657, he passed the regional examination (Huong) and earned the title Huong Cong. Two years later, in 1659, he passed the national examination (Hoi) and was selected as a court official. By 1667, under King Le Huyen Tong, he passed the Dong Tien Si examination in the Dinh Mui year at the age of 30.

In 1672, Nguyen Quan Nho was appointed Commander of Hai Duong and Yen Quang provinces. Between 1674 and 1681, he participated four times in diplomatic missions to the Qing dynasty on behalf of the Le–Trinh court. In 1684, he was appointed Deputy Imperial Inspector (Pho Do Ngu Su), then in early 1691 promoted to Left Minister of the Ministry of Personnel (Tra Thi Lang Bo Lai), and by late 1692 concurrently held the post of Imperial Inspector (Do Ngu Su).

In 1693, he was promoted to Minister of War (Thuong Thu Bo Binh) and, together with Minister of Justice Le Hy, served at the Trinh lord’s palace as Prime Minister (Tham Tung). In 1694, the two submitted a memorial proposing six reforms, including checking land boundaries, reforming judicial procedures, and auditing officials; these were approved by Lord Trinh. During his five years as Prime Minister, Nguyen Quan Nho was known for his simplicity, transparency, and leniency.

According to Lich Trieu Tap Ki by Ngo Cao Lang: In the autumn of 1696 (Binh Ty year), Lord Khang (Trinh Can) summoned him in secret, instructing him to keep confidential a matter involving civil and military officials. Nguyen Quan Nho accidentally revealed some details in conversation. A palace eunuch reported it, and Khang Lord, angry, removed him from the Prime Minister position, demoting him to Left Minister of the same ministry. He later served seven years as Imperial Inspector.

In 1702 (Nham Ngo year), he was reinstated as Prime Minister and promoted to Minister of Rites (Thuong Thu Bo Le) in charge of the Central Secretariat, with the noble title Huong Giang Ba. At the same time, Le Hy of Thach Khe also held the position of Minister of Rites. While Le Hy was strict and jealous, Nguyen Quan Nho was lenient and fair, benefiting the people. This led to the popular saying:
“Thuong Thu Le Hy, thien ha sau bi; Te Tuong Van Ha, thien ha au ca”
(“Minister Le Hy, the world laments; Prime Minister Van Ha, the world sings.”)

Similarly, Dai Nam Quoc Su Dien Ca recorded:
“By whom does the world sing? None but Prime Minister Van Ha.”

Over a 40-year career under four kings—Le Huyen Tong, Le Gia Tong, Le Hy Tong, and Le Du Tong—Nguyen Quan Nho was consistently recognized as an honest official, devoted to serving the people and the country.

In 1707 (Vinh Thinh – Dinh Hoi year), he retired at the age of 70. More than a year later, he passed away and was posthumously promoted to Minister of Personnel with the title Quoc Cong. The Later Le dynasty honored him as a Mid-level Deity (Trung Dang Than), and later the Nguyen dynasty conferred the title Cuong Y Duc Bao Trung Luong, Thuong Dang Than. At his death, his estate was insufficient to build his own shrine; eventually, a respected local official raised funds to construct a temple on the land that remains his ancestral shrine today.

Legacy
Nguyen Quan Nho’s surviving works include one memorial from the royal examination, three poems recorded in Toan Viet Thi Luc, and an inscription at Tu Chi Dong Lao (Dong La commune, Hoai Duc district, Hanoi).

On January 20, 2009, the Thanh Hoa General Library opened the “Spring Book and Gazetteer Exhibition” featuring historical geographical documents. Notably, the exhibition displayed a rare over 400-year-old portrait of Doctor Nguyen Quan Nho (1638–1709), painted by a Chinese artist when he was sent on a diplomatic mission to China.

Worship
After his death, Nguyen Quan Nho was posthumously promoted to Minister of Personnel with the title Quoc Cong. His temple, dedicated to Prime Minister Nguyen Quan Nho, is located in Sub-area 5, Thieu Hoa town (Thieu Hoa district) and was recognized as a national historical and cultural site in 1993. The temple is modest in size but ancient and solemn, featuring moss-covered tiled roofs, a double-dragon moon-shaped roof decoration, and a pair of guardian lions at the entrance.

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Nguyen Quan Nho (1638 – 1708)
Origine et famille
Nguyen Quan Nho est originaire du village de Dong Trieu, commune de Van Ha, district de Thuy Nguyen, relevant du territoire de Thanh Hoa sous la dynastie Le Trung Hung. Il est né le 2 octobre 1638 (année Mau Dan), appartenant à la sixième génération de la lignée Nguyen Quan. Son père, Nguyen Quan Hoan, est décédé alors que Nguyen Quan Nho était encore enfant. Sa mère, Trinh Thi Phuc, était originaire du village de Bong Thuong, district de Vinh Loc.

Carrière
En 1657, il réussit l’examen provincial (Huong) et obtint le titre de Huong Cong. Deux ans plus tard, en 1659, il réussit l’examen royal (Hoi), classé troisième, et fut recruté pour servir à la cour. En 1667, sous le règne de Le Huyen Tong, il réussit l’examen de doctorat (Dong Tien Si, promotion Dinh Mui) à l’âge de 30 ans.

En 1672, Nguyen Quan Nho fut nommé gouverneur militaire des provinces de Hai Duong et Yen Quang. Entre 1674 et 1681, il participa à quatre missions diplomatiques envoyées par la cour Le-Trinh auprès de la dynastie Qing en Chine. En 1684, il devint vice-surintendant impérial (Pho Do Ngu Su), puis au début de 1691, il fut promu Ta Thi Lang au ministère de l’Intérieur, et fin 1692, il assuma également le rôle de Do Ngu Su.

En 1693, il fut nommé ministre de la Guerre et, avec Le Hy, ministre de la Justice, entra dans le palais du seigneur Trinh comme conseiller principal (Tham Tung). En 1694, ils présentèrent une pétition en six points pour réformer l’administration, incluant la vérification des limites de terres, la révision des procès et l’évaluation des fonctionnaires, approuvée par le seigneur Trinh. Pendant cinq ans à ce poste, Nguyen Quan Nho se distingua par sa simplicité, sa transparence et sa clémence.

Selon le Lich trieu tap ky de Ngo Cao Lang, en automne 1696, Khang Vuong (Trinh Can) convoqua Nguyen Quan Nho pour un examen secret, mais celui-ci laissa échapper quelques informations. Le seigneur, irrité, le rétrograda de son poste de conseiller principal à Ta Thi Lang, puis il servit comme inspecteur impérial pendant sept ans.

En 1702 (année Nham Ngo), il retrouva ses anciennes fonctions et fut promu ministre des Rites, supervisant le Bureau central, avec le titre de Marquis Huong Giang. Il travaillait alors avec Le Hy de Thach Khe, également ministre. Le tempérament sévère et jaloux de Le Hy contrastait avec la clémence de Nguyen Quan Nho, d’où le proverbe de l’époque :
« Thượng thư Lê Hy, thiên hạ sầu bi, Tể tướng Vãn Hà, thiên hạ âu ca. »

Au cours de ses 40 ans de carrière, sous quatre rois (Le Huyen Tong, Le Gia Tong, Le Hy Tong, Le Du Tong), Nguyen Quan Nho fut reconnu pour son intégrité et son dévouement envers le peuple et l’État.

En 1707 (année Dinh Hoi), il prit sa retraite à 70 ans. Il mourut plus d’un an plus tard et fut promu posthumément ministre des Rites et titré Duc de district. La dynastie Le le reconnut comme esprit de rang moyen (Trung Dang Than), et sous les Nguyen, il fut honoré comme Cương Ý Dực Bảo Trung Lương, Thượng Đẳng Thần. Ses biens ne suffisant pas à ériger son temple, un fonctionnaire local respectueux de sa vertu fit construire le sanctuaire sur le terrain actuel.

Héritage
Les œuvres de Nguyen Quan Nho comprennent : un texte de l’examen royal (Thi Dinh), trois poèmes dans le Toan Viet Thi Luc et une stèle à Tu Chi Dong Lao (commune de Dong La, district de Hoai Duc, Hanoï).
En 2009, la bibliothèque provinciale de Thanh Hoa a exposé un portrait de Nguyen Quan Nho réalisé par un peintre chinois il y a plus de quatre siècles, retrouvé récemment.

Culte
Après sa mort, il fut honoré comme ministre des Rites et Duc de district. Le temple de Nguyen Quan Nho est situé dans le quartier 5 de la ville de Thieu Hoa (district de Thieu Hoa) et est reconnu monument historique national depuis 1993. Le temple est modeste mais ancien et solennel, avec un toit couvert de mousse, un fronton décoré de dragons, et une paire de statues de chiens de garde à l’entrée.

Références

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Trung

阮观儒 (Nguyen Quan Nho)(1638–1708)

身世

阮观儒,黎中兴时期清化(Thanh Hoa)内镇人,属瑞原(Thuy Nguyen)县范河(Van Ha)社东枕(Dong Trieu)乡。生于1638年10月2日(戊寅),为阮观家族第六代子孙。父阮观环(Nguyen Quan Hoan)早逝,母郑氏福(Trinh Thi Phuc)来自永禄(Vinh Loc)县凤上(Bong Thuong)乡。

事業

1657年,阮观儒参加乡试,考中乡贡。1659年,参加会试,殿试得第三名,被选入朝为官。1667年黎玄宗(Le Huyen Tong)时,以30岁年龄中丁未科同进士。

1672年,被任命为海阳-安广两省都督。1674–1681年间,他四次随黎-郑朝廷出使清朝,进行外交。1684年任副都御史,1691年初升为吏部左侍郎,1692年底兼都御史。

1693年,升任兵部尚书,与礼部尚书黎熙(Le Hy)一同入郑府任参丞(Tham Tung)。1694年,两人上奏六项改革,包括土地界标、审理案件与考核官员,获郑主批准。在担任丞相五年间,阮观儒简约、清明且宽厚。

《历朝杂纪》记载:丙子年(1696)秋,朝内外官员被康王(Trinh Can)召入,阮观儒在答题时不慎泄露,宦官上奏,康王大怒,罢其丞相职,降为吏部左侍郎,后任都御史七年。

1702年(壬午),复任参丞,升礼部尚书,主管中书事务,封乡降伯。同期与之共事的黎熙任尚书,但性情嫉妒严厉,而阮观儒宽厚,百姓受益。因此时有民谣:“尚书黎熙,天下愁悲;丞相范河,天下安乐。”《大南国史演歌》亦有:“因谁天下安乐?非参丞范河乎。”

一生四十年仕途,历经黎玄宗、黎嘉宗、黎熙宗及黎裕宗四朝,阮观儒始终清廉,忠于民、忠于国。1707年(永盛-丁亥),70岁退休,一年后逝世,追升礼部尚书,封郡公。黎朝追封中等神,阮朝封“刚毅翼保忠良,上等神”。去世时所留财产不足建祠,后由地方官员发起募捐,在今所在土地建庙以供祭祀。

遗产

阮观儒著作现存:殿试文一篇,《全越诗录》中三首诗,以及东老祠(东拉社,怀德县,河内)一碑文。2009年,清化省图书馆春季书展展出一幅阮观儒肖像,是四百多年前中国画师为其出使中国而绘。

祀庙

逝世后追封礼部尚书,封郡公。范河丞相祠位于绍化镇(Thieu Hoa)第五小区(乡镇),1993年列为国家级历史文化遗址。庙宇规模不大,但古朴庄重,屋顶瓦片覆苔,顶饰双龙朝月,门前有石狮护门。

参考

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (27)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)