Phan Khôi (1887 – 1959)

Phan Khôi (1887 – 1959)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

“Phan Khôi là một trong những nhà văn xuất sắc nhất trong phái Nho học. Ở một nhà cựu học như ông, người ta đã thấy nhiều cái rất mới, nhiều cái mà đến nhiều nhà tân học cũng phải cho là “mới quá. Đó thật là một sự chẳng ngờ.” (Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại). Một trong những cái mới đầu tiên của Phan Khôi là “tấn công” mãnh liệt vào thành trì thơ cũ, để từ đó mở ra một lối thơ mới từ thập niên 30 của thế kỷ XX. Trước đây cả hàng ngàn năm, do ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Quốc, các nhà văn nhân tài tử nước ta khi làm thơ thường tuân thủ niêm luật một cách nghiêm ngặt. Hình ảnh nhiều lúc giả tạo, vay mượn; ngôn ngữ nhiều khi quá trau chuốt, dùng nhiều điển tích, điển cố xa xôi bên Tàu mất hẳn tính chân thực vốn cần thiết cho thơ; thậm chí họ còn quan niệm tiếng Nôm của dân tộc “nôm na là cha mách qué” mà phải dùng chữ Hán để diễn đạt tư tưởng của mình! Nói như vậy, không phải nhằm mục đích phủ nhận kho tàng thi ca cổ điển của nước nhà – mà để thấy rằng với niêm luật nghiêm ngặt, ràng buộc từng câu chữ, bó buộc từng vần điệu đã hạn chế không ít tinh thần sáng tạo của văn nhân trong nước. Điều này, theo Phan Khôi là do ảnh hưởng của khoa cử, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng bãi bỏ chế độ thi cử chữ Hán thì loại thơ cũ cũng dần dần mất vị trí độc tôn. Văn minh phương Tây đã thổi một luồng gió mới vào nước ta, sự va chạm của hai luồng tư tưởng Đông – Tây đã tạo ra những thay đổi trong tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn học, tình cảm… Các trí thức như Phạm Quỳnh, Trịnh Đình Rư, Phan Khôi… đã công khai công kích thể thơ có quá nhiều ràng buộc đã nêu trên. Chẳng hạn, trong Chương dân thi thoại, Phan Khôi viết:

Thật thế, An Nam ta phần nhiều làm thi cứ mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ, cái đó đã thành ra như một cái luật chung mà ít ai nghĩ thử tại làm sao.

Ấy là tại lối học khoa cử của ta đã mấy đời nay di truyền lại. Ngày xưa mỗi khoa thi chữ Nho, trường nhì có một bài thi và một bài phú, mà bài thi thì dùng thể thất ngôn luật này. Thi chữ như vậy, rồi thi Nôm cũng quen theo.

Thể thất ngôn ấy bắt đầu có từ đời Đường cho nên cũng gọi là “thất ngôn Đường luật.

Nguyên hồi bấy giờ đặt ra thể mới ấy, gọi là luật, thì đã có ý bó buộc rồi, nhưng mà còn rộng rãi. Coi như hai câu đầu thì kêu câu mở, hai câu nữa gọi là câu tam tứ, hai câu nữa gọi là câu ngũ lục, hai câu cuối cùng gọi là câu kết; trong câu tam tứ và câu ngũ lục muốn nói ý gì cũng được, không có luật nhất định. Nói rằng rộng rãi là vì thế. Song từ ngày đem thất ngôn vào khoa cử rồi thì thể ấy trở nên bó buộc quá mà mất cả sanh thú.

Họ bắt phải kêu câu tam tứ là câu trạng, nghĩa là trạng ra ý hoặc cảnh của đầu đề; kêu câu ngũ lục là câu luận hoặc câu bồi, nghĩa là ban thêm để bồi thấu ý câu trạng. Phải nhất định như thế, không được sai đi, sai đi thì hỏng.

Ấy chỉ là luật riêng dạy về lối làm bài thi trong việc khoa cử mà thôi, nào có phải cái phép tắc chánh quyền của nghề thi như vậy? Nhưng mà ngày nay người ta cũng tuân theo, không biết cởi mình ra khỏi trói.

Thấy một vài cuốn sách quốc ngữ tự xưng dạy phép làm thi mà cũng dạy theo lối khoa cử ấy, thì thật là tục quá. Thi quý cho nhã, mà đã tục đi còn dạy ai?

Bọn thanh niên ta bây giờ nếu muốn làm thi mà không biết chữ Nho thì học vào đâu? Túng thế tất phải học những sách quốc ngữ dạy một cách tục tằn hủ bại ấy, thì trách nào mà chẳng đưa mình vào con đường tối tăm dốt nát?”.

Cũng trong năm 1928 này, trên báo Trung Bắc tân văn lần đầu tiên có in bài thơ dịch không niêm luật, số chữ trong mỗi câu thơ không giống nhau, đó là bài Con ve sầu và con kiến của Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Nhưng vẫn chưa tạo ra một sự chú ý nào đáng kể trong công chúng. Một nhân chứng của thời đại này là nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh có ghi nhận: “Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10/3/1932. Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ đã hiện ra một lỗ thủng. Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận. Ông tự giới thiệu: “Trước kia… ít ra trong một năm tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm, bảy bài của tôi không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết án thơ cũ! Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên mất chơn. Bởi vậy ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ mới.

Cũng trong năm 1928 này, trên báo Trung Bắc tân văn lần đầu tiên có in bài thơ dịch không niêm luật, số chữ trong mỗi câu thơ không giống nhau, đó là bài Con ve sầu và con kiến của Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Nhưng vẫn chưa tạo ra một sự chú ý nào đáng kể trong công chúng. Một nhân chứng của thời đại này là nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh có ghi nhận: “Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10/3/1932. Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ đã hiện ra một lỗ thủng. Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận. Ông tự giới thiệu: “Trước kia… ít ra trong một năm tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm, bảy bài của tôi không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết án thơ cũ! Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên mất chơn. Bởi vậy ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ mới.

Thân thế

Nhưng Phan Khôi là ai?

Phan Khôi, hiệu Chương Dân, sinh ngày 20 tháng 8 năm Đinh Hợi (1887) tại làng Bảo An (nay thuộc xã Điện Quang, Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) thuộc dòng dõi khoa bảng. Cha là Phó bảng Phan Trân – tri phủ Diên Khánh, mẹ là bà Hoàng Thị Lệ – con Tổng đốc Hoàng Diệu. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, học giỏi và hay… lý sự! Khi giải quyết chuyện gì bao giờ ông cũng lật ngược vấn đề để tìm hiểu một cách thấu đáo. Tính cách ấy phù hợp cho công việc mà sau này ông sẽ đeo đuổi: viết báo và viết nghiên cứu. Với tính cách hay lý sự, cãi cọ, vặn vẹo nên không phải ngẫu nhiên mà ở Quảng Nam có câu phương ngôn “Lý sự quá Phan Khôi” là vậy. Năm 1905, vừa 18 tuổi, Phan Khôi thi đậu Tú tài Hán học, nhưng ông không thích dấn thân vào con đường khoa cử. Lúc này, ngọn gió Đông Du và Duy Tân của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp… đã thổi đến Quảng Nam. Phan Khôi hăng hái cắt tóc theo xu thế chung của thời đại mà câu ca dao hóm hỉnh đã diễn tả thực tế:

Văn minh khắp cả hoàn cầu
Ông sư cũng cúp cái đầu 3 xu!

Và ông cũng tự nguyện đi tuyên truyền, cổ động cho phong trào và tìm thầy học chữ Quốc ngữ. Đêm đêm, ông cùng các cậu học trò 6, 7 tuổi siêng năng cắp sách đến học ở nhà thầy Phan Thành Tài – người sau này tham gia cuộc khởi nghĩa Duy Tân, bị giặc Pháp xử trảm ở Điện Bàn. Thời gian sau, ông chuyển sang học với thầy Lê Hiên. Năm 1907, trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập ở Hà Nội, Phan Khôi là một trong những người được phong trào Duy Tân tại Quảng Nam gửi ra học tiếng Pháp. Nối gót các bậc đàn anh, Phan Khôi bắt đầu viết cho tờ Đăng cổ tùng báo và tiếp tục tuyên truyền cho phong trào Duy Tân. Tình hình chính trị trong năm 1908 đã có nhiều biến động như vụ “Hà thành đầu độc”, vụ biểu tình vĩ đại chống sưu cao thuế nặng nổ ra ở Trung Kỳ… Ngay lập tức thực dân Pháp đóng cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Phan Khôi lánh về Nam Định theo học với thầy Nguyễn Bá Học. Nhưng ít lâu sau, vì nghi ngờ Nguyễn Bá Học có hoạt động chính trị, Pháp theo dõi rất ngặt, Phan Khôi bỏ về quê và tiếp tục xin học trường Dòng Pellerin ở Huế. Thấy ông đã 22 tuổi, nhưng ham học nên trường chiếu cố nhận đơn. Dù vậy, ông bị bắt buộc phải vào học lớp nhì với bọn trẻ mới lên mười! Hai tháng đầu, ông đội sổ hạng chót, nhưng qua tháng thứ ba thì vọt lên đứng đầu.

Sự nghiệp

Mới học dăm ba tháng thì nhận tin cha mất, ông trở về quê nhà thọ tang. Đây là thời gian ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Hội An – vì trước đây ông từng phục vụ cho phong trào Duy Tân. Vào trong tù, ông nhờ người nhà bí mật gửi sách Pháp vào để ông tiếp tục tự học! Đọc chỗ nào không hiểu thì ông lật tự điển ra tra cứu. Nghe nói có thầy Ưng Diễn dạy giỏi, ông viết thư nhờ thầy ra bài và kiểm tra bài cho mình. Làm được vài bài thi thì Án sát Quảng Nam là Trần Văn Thống phát hiện và tịch thu hết sách vở với câu hăm dọa:

– Các anh còn học làm gì nữa, vì có ai cho các anh thi đâu mà học!

Đầu năm 1913, ra khỏi tù, ông cưới vợ và mở lớp dạy chữ Hán ở nhà. Nhưng Phan Khôi cũng không thể yên tâm ngồi dạy học được nữa, vì sau một thời gian thăm dò, thực dân Pháp quyết định bãi bỏ khoa thi chữ Hán. Năm 1915 là khoa thi cuối cùng ở trường Nam và ở Trung Kỳ khoa thi cuối cùng là năm 1918. Phan Khôi thôi dạy học và bảo học trò:

– Dạy các anh cho giỏi chữ Nho tôi vẫn dạy được, nhưng thời buổi này các anh có học giỏi thì cũng làm được gì! Thôi, hãy học chữ Tây đi!

Năm 1916, Phan Khôi ra Bắc, xuống Hải Phòng làm thư ký cho công ty Bạch Thái Bưởi. Ít lâu sau, ông nghỉ việc vì thấy nghề “cạo giấy” không phù hợp với chí hướng của mình. Lúc đó, năm 1918, cử nhân Hán học Nguyễn Bá Trác giới thiệu ông vào làm việc ở tạp chí Nam Phong. Tại đây, một lần trong lúc trà dư tửu hậu, Phạm Quỳnh có nói với Phan Khôi:

– Các người đi giảng đạo Thiên Chúa thường lý luận giỏi nên ít ai bắt bẻ được, vì họ có học khoa lý đoán.

Phan Khôi ngớ người ra hỏi lại:

– Lý đoán là gì?

Môn này còn quá mới mẻ nên Phạm Quỳnh cũng chỉ đáp xuôi xị:

– Lý đoán là… lý đoán!

Không hài lòng với cách giải thích này, Phan Khôi tìm ngay sách chữ Hán và chữ Pháp để nghiên cứu về khoa lý luận học. Để củng cố sự hiểu biết của mình, ông thường gặp gỡ trao đổi, tranh luận với các sinh viên trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Nhờ vậy, Phan Khôi là một trong những nhà báo đầu tiên có lối viết câu cú gẫy gọn, trình bày tư tưởng dễ hiểu, dễ thuyết phục độc giả. Làm việc ở tạp chí Nam Phong một thời gian, do không thích lối “học phiệt” của ông chủ bút Phạm Quỳnh, Phan Khôi bỏ vào Nam và làm báo Lục tỉnh tân văn. Làm việc ở đây một thời gian, ông lại quay ra Bắc cộng tác với Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu Thanh. Giai đoạn này, ông đã làm một việc khó ai ngờ là sử dụng bản chữ Hán đối chiếu với bản chữ Pháp để dịch Kinh thánh cho Hội Tin Lành. Bản dịch của ông câu cú gãy gọn, trong sáng, văn phạm chuẩn mực, chứng tỏ một trình độ học vấn uyên thâm. Nhưng lúc này, thực dân Pháp vẫn chưa buông tha Phan Khôi, chúng vẫn bí mật theo dõi. Năm 1922, ông bỏ đất Bắc để vào Nam. Nhưng lần này, không dừng chân tại Sài Gòn mà ông xuống tận dưới Cà Mau. Trong thời gian tạm trú ở đồn điền của một người bạn, lúc nhàn rỗi, ông giải khuây bằng cách viết thư bằng chữ Pháp gửi cho nhà báo tiếng tăm lúc bấy giờ là Dejean – người cộng sự đắc lực của Nguyễn An Ninh khi xuất bản tờ La Cloche Fêlée. Nhận được thư, Dejean thành thật khen ngợi và khuyên ông nên cố gắng viết báo bằng tiếng Pháp.

Với tính cách của mình, khi lao vào công việc làm báo Phan Khôi đã là người “châm ngòi nổ” cho nhiều cuộc bút chiến vang dội từ Nam chí Bắc. Có thể kể đến những cuộc tranh luận với Trần Trọng Kim về quyển Nho giáo – bắt đầu trên báo Phụ Nữ tân văn số 54, ra ngày 29/5/1930 rồi kéo dài nhiều số báo sau. Qua đó, ông bộc bạch quan điểm của mình: “Vì trong sự học vấn phải giữ thái độ quang minh chính đại, khi người ta bẻ bác mình, mình còn lẽ nói lại thì đem mà nói lại, mình hết lẽ thì phải tỏ ý chịu cái thuyết người ta đi, nói cho rõ ra hễ thua thì chịu thua, chớ không được làm cái thói trù trợ cho qua việc. Tôi cũng biết rằng sự cãi nhau về học vấn chẳng qua là bênh vực cho chân lý. Thế thì dầu tiên sinh có hơn mà tôi thua đi nữa, cái đó cũng chẳng làm cho kẻ vui người buồn giữa đôi ta, và nếu tôi là kẻ biết điều thì cũng chẳng buồn, mà phải lấy sự chân lý đắc thắng làm vui”. Rồi tranh luận với Phạm Quỳnh về lý luận Truyện Kiều. Nguyên nhân là trước đây chí sĩ Ngô Đức Kế có công kích Phạm Quỳnh qua bài “Luận về chánh học và tà thuyết”, Phạm Quỳnh không trả lời. Nhưng sau khi Ngô Đức Kế qua đời, Phạm Quỳnh mới nhân đấy viết những lời không tốt đẹp về chí sĩ này. Thế là Phan Khôi nhảy vào cuộc, ông công kích Phạm Quỳnh là học phiệt – bắt đầu trên báo Phụ Nữ tân văn số 62, ra ngày 24/7/1930. Không dừng lại đó, qua năm 1931, Trịnh Đình Rư phê bình cuốn Bạch Vân thi tập do Lê Dư biên soạn, có viết: “Nước ta chưa có quốc học như ông Lê Dư chủ trương”. Lê Dư lên tiếng phản bác lại Trịnh Đình Rư và phê phán cả Phạm Quỳnh bội bạc với tiền nhân – đăng trên báo Đông Tây số ra ngày 18/7/1931. Cuộc tranh luận mới mở màn thì Phan Khôi hưởng ứng và kéo Phạm Quỳnh vào “vòng chiến”. Tiếp theo sau đó, ông còn tranh luận với Tản Đà, Nguyễn Tiến Lãng về vấn đề luân lý, đạo đức của người Việt. Cuộc tranh luận này kịch liệt đến nỗi thi sĩ Tản Đà nổi cơn thịnh nộ muốn phạt Phan Khôi “ba trăm roi”! Nhưng nhìn lại các cuộc tranh luận, bút chiến này, GS. Thanh Lãng – Ủy viên BCH Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ đầu tiên – có nhận định xác đáng về Phan Khôi: “Lý luận rất rắn mà không đài các, đả kích đến nơi mà không kiêu căng, cho nên thường người bị đả kích không thể giận ông. Mà ông cũng chẳng để cho họ có thời giờ để mà giận. Cái hồn nhiên của ông làm cho cả thù địch của ông nếu không ghét thì cũng nể ông”.

Với một tính cách đặc trưng của một con người “Quảng Nam hay cãi”, Phan Khôi đã làm nổ ra cuộc tranh luận dữ dội giữa thơ mới và thơ cũ thì cũng là điều dễ hiểu. Nhưng trước hết, phải ghi nhận do địa thế của Sài Gòn có vị trí tốt, là cảng biển để dễ dàng giao lưu với nhiều nguồn văn hóa mà Phan Khôi đã tiếp thu được trong những năm tháng sống nơi đây. Đó là một trong những yếu tố cần thiết để tạo nên sự phóng khoáng và cảm hứng trong bài thơ Tình già của Phan Khôi. Do lần đầu tiên công bố ở tờ báo Phụ Nữ tân văn (số 10/3/1932) đang cực thịnh ở miền Nam, rồi ngay tờ Phong Hóa có uy tín, có số lượng độc giả cao nhất miền Bắc in lại vào số Xuân (24/1/1933) nên nó đã tạo tiếng vang lớn trong cả nước. Khi “khai sinh” đứa con tinh thần này, có lẽ Phan Khôi cũng cho rằng việc làm này khá mạo hiểm nên ông mới cẩn thận đặt tựa “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” và rào trước đón sau có những đoạn như: “Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh thì cái hồn thơ của tôi bị lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, Bà Huyện Thanh Quan đè ngang ngực làm tôi thở không ra! Cái ý nào mình muốn nói lại không nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào chưa nói: mình muốn nói ra thì lại bị những niêm luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh luẩn quẩn trong bàn tay họ hoài, thật là dễ tức.

Duy tân đi! Cải lương đi!”

Những dòng tâm huyết muốn đổi mới thơ ca, nay đọc lại thấy vẫn có lý. Phan Khôi viết tiếp: “Đại phàm làm thơ là để tả cảnh, tư tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý chỗ chân. Lối thơ cũ của ta ngũ ngôn hay thất ngôn tứ tuyệt hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Hễ câu thúc thì nó mất cái chân đi, không mất hết cũng mất già phân nửa.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ là bài nào cũng như bài nấy, cứ nhau khen hay thì nó là hay, chứ nếu lột tận xương ra mà xem thì không biết cái hay ở đâu.

Bởi vậy, tôi sắp toan bày ra một cách thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa đặt tên kêu là lối gì được, song cứ thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: đem thật ý trong tâm khảm tả ra bằng những câu, có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết. Ấy như là:

Tình già Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ Hai mái đầu xanh kề nhau than thở:

– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng
Mà lấy nhau hẳn là không đặng
Để đến nỗi, tình trước phụ sau
Chi bằng sớm liệu mà buông nhau!
-Hay! Mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau.
Tình cờ đất khách gặp nhau…
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi
Con mắt còn có đuôi.

Đó là bài thơ tôi làm trước đây mấy tháng mà tôi kêu là một lối thơ mới. Chẳng qua là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm miếng đất mới, mà miếng đất tôi kèm theo đó, kiếm được đó chẳng biết có được không, nên mới đem ra trình chánh giữa làng thơ. Chẳng phải tôi là người thứ nhất làm việc này. Hơn nữa mười năm trước Hà Nội cũng có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại. Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng lối thơ cũ của ta đã hết chỗ hay rồi, chẳng khác một đế đô mà vượng khí đã tiêu tan, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi sẽ thất bại lần nữa, nhưng tôi tin rằng sau này có người làm như tôi mà thành công”.

Lời tiên tri của Phan Khôi là chính xác.

Từ đây, trong nền thi ca Việt Nam hiện đại đã mở ra cả một phong trào thơ mới – đỉnh cao từ 1932-1945 – với đội ngũ hùng hậu, nhiều tài năng như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Bích Khê v.v… Nhưng để đạt đến vinh quang này, giữa thơ mới và thơ cũ đã nổ ra cuộc tranh luận dữ dội từ Nam chí Bắc. Người đầu tiên hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Khôi là nhà thơ Lưu Trọng Lư. Kế đó, báo Phụ Nữ tân văn đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh, Hồ Văn Hảo… Rồi báo Phong Hóa cũng ủng hộ thơ mới, thường xuyên đăng thơ của Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông… và công kích thơ cũ. Vừa tranh luận trên báo chí, họ lại diễn thuyết để bênh vực cho quan điểm của mình. Từ năm 1933, nữ sĩ gan dạ là Nguyễn Thị Manh Manh lên diễn đàn Hội khuyến học Nam Kỳ cổ vũ cho thơ mới. Rồi những năm kế tiếp, những người ủng hộ thơ mới có mặt nhiều nơi để diễn thuyết bênh vực cho thơ mới – như Lưu Trọng Lư ở Quy Nhơn, Đỗ Đình Vượng, Trương Tửu ở Hà Nội, Vũ Đình Liên ở Nam Định… Phe ủng hộ thơ cũ cũng đăng đàn phản pháo lại – như Nguyễn Văn Hanh ở Sài Gòn.. và cuộc bút chiến diễn ra liên tục trên các mặt báo với sự tham gia của Tản Đà, Tùng Lâm, Thái Phỉ, Hoàng Duy Từ v.v… Nhà phê bình Hoài Thanh nhận định: “Trong mười năm ấy, thơ mới đã đấu tranh gắt gao với thơ cũ, một bên giành quyền sống, một bên giữ quyền sống. Cuộc đấu tranh kéo dài cho đến ngày thơ mới toàn thắng. Trong sự thắng lợi ấy, cũng có công của những người tả xung hữu đột nơi chiến trường, nhưng trước hết là công những nhà thơ mới. Tôi không so sánh các nhà thơ mới với Nguyễn Du để xem ai hơn ai kém. Đời xưa có thể có những bậc kỳ tài đời nay không sánh kịp. Đừng lấy một người sánh với một người. Hãy sánh thời đại cùng thời đại. Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.

Có thể nói, từ bài thơ Tình già của Phan Khôi đến những thành tựu rực rỡ này, chúng ta không còn phân biệt đâu là thơ mới, đâu là thơ cũ mà chỉ biết rằng, nếu là thơ hay thì nó tồn tại, còn thơ dở thì nhanh chóng bị lãng quên. Sau khi trình làng bài thơ mới nổi tiếng, Phan Khôi còn tiếp tục tranh luận, bút chiến nhiều vấn đề khác nữa. Điều này cho thấy ông là người năng động và làm việc không mệt mỏi. Từ năm 1936, ông vào Huế cộng tác với báo Tràng An, xuất bản tập Chương Dân thi thoại, tiểu thuyết Trở vỏ ra lửa. Sau đó, ông về Quảng Nam cho đến cách mạng tháng Tám. Truớc đó, tháng 2/1945, Nguyễn Bá Trác có lần đến tận nhà thuyết phục ông tham gia chính phủ Trần Trọng Kim sẽ thành lập nay mai sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Vốn là người cương trực, Phan Khôi cương quyết từ chối với thái độ coi khinh những người cơ hội. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Phan Khôi là một trong những trí thức đầu tiên hăng hái xông ra chiến trường. Sống trong sinh khí mới của toàn dân tộc, Phan Khôi đã viết được những bài thơ hay như Thăm bộ đội:

Vượt núi trèo non tôi đến đây,
Về thăm anh nghỉ dưới chân mây.
Chúc anh khỏe mạnh rồi ra trận,
Máu sức càng hăng để đánh Tây.
Đánh đến bao giờ độc lập thành,
Tôi dù già rụi ở quê anh.
Cũng đành nhắm mắt không ân hận,
Nằm dưới mồ nghe khúc thái bình.

Trong báo Văn Nghệ của Hội nhà văn Việt Nam xuất bản ở Việt Bắc số ra ngày 11/12/1949, có bài tường thuật lúc phát động văn nghệ sĩ đầu quân, đi vào mặt trận. Đây là hình ảnh Phan Khôi lúc đã 62 xuân: “Và quắc thước, nghiêm nghị, tôn trọng kỷ luật, đấy là cụ Phan Khôi. Cái ba lô nằm nghiêng trên lưng, cây gậy bịt đồng thẳng như tấm lòng và lời nói cụ… Khi cụ bước lên bục, một cán bộ quân sự sợ cụ yếu, đỡ cụ. Cụ đẩy tay anh ra. Trong thâm tâm cụ không muốn tuổi già được riêng biệt đãi. Mắt cụ hơi ngơ ngác, nhưng trên gương mặt nghiêm khắc, hình như thoáng một nét cười.

– Tôi là một đoàn viên trong đoàn văn nghệ sĩ đi chiến dịch thế mà tôi được lên nói, là vì tôi nhiều tuổi, già mà đi thì cũng lạ một chút. Tôi chỉ xin giải thích thế này. Chuyến này tôi đi với ai? Tôi đi với đội viên, chắc là các đội viên sẽ lo ngại, họ cho rằng cái anh già này đi sẽ làm họ vướng víu. Vậy xin Bộ chỉ huy nói với đội viên rằng: tôi đi được, một ngày tôi đi được ba bốn chục cây số. Và tôi xin hứa rằng – cụ dằn từng tiếng – trong khi đi, tôi sẽ không dám phiền Bộ chỉ huy, không phiền một ông Vệ quốc quân nào đưa tôi về.

Mục đích của tôi đi chiến dịch là thế nào? Là nhìn sự thật mà viết… Còn như nhiệm vụ là một, kỷ luật sắt là hai, tôi chưa biết có chịu được không… Lời cụ đến đây, như từng nhát búa, mắt cụ long lanh:

– Nhưng tôi muốn chịu.

Cụ vác gậy về chỗ, chống gậy nhìn lên. Tiếng hoan hô như nước dâng. Trăm con mắt châu tuần vào cụ. Nhạc binh tấu bản nhạc Lên đàng lập chiến công”.

Đây cũng là thời gian mà Phan Khôi bắt tay vào viết tác phẩm ngôn ngữ học Việt ngữ nghiên cứu với tâm nguyện rất đáng quý: “Hiện nay, các nhà giáo, các nhà văn chúng ta có cái trách nhiệm phải làm cho tiếng nước ta tiến dần lên đến bậc hoàn mỹ. Tiếng nói có hoàn mỹ thì mới đẩy văn học, khoa học tiến lên được, mới phục vụ được cho nhân dân, cho quốc gia dân tộc đi nhanh trên con đường tiến hóa của hiện đại. Tiếng Việt Nam nếu còn cứ ở cái trình độ cũ thì dân tộc Việt Nam có tiến đi đâu nữa cũng chậm lắm”. Sách này được in tại Hà Nội sau ngày giải phóng Thủ đô năm 1954. Điều thú vị, Phan Khôi không chỉ là người trí thức xông xáo trên trường văn trận bút mà ông còn là người tích cực trong hoạt động chính trị. Trong thời gian chuyển quân tập kết theo tinh thần của Hiệp định Genève, ông được cử vào phái đoàn Chính phủ đi thăm Liên khu 5, nói chuyện với đồng bào về thắng lợi tại hai cuộc mít-tinh lớn ở Quảng Ngãi và Bình Định. Sau khi trở về miền Bắc, năm 1956, Phan Khôi được Bộ Văn hóa và Hội Văn nghệ cử sang Bắc Kinh (Trung Quốc) dự lễ kỷ niệm 100 năm sinh văn hào Lỗ Tấn. Nhân dịp này, cuối bài phát biểu ông có đọc bài thơ chữ Hán “Tụng Lỗ Tấn” (Ca tụng Lỗ Tấn) – sau đó tờ Nhân dân nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc có đăng bài thơ này:

Ca tụng Lỗ Tấn

Phản bác lời Khổng Tử không nên làm việc gì quá đáng
Ông chủ trương đánh chó phải đánh cả lúc nó đã rơi xuống nước
Nhất thiết không được dung tha bất cứ kẻ thù nào
Chống lại lời dạy của đạo Gia tô phải yêu kẻ thù như bạn
Mao chủ tịch xưng tụng Lỗ Tấn là ông thánh của giai cấp vô sản
Tôi tin tưởng sâu sắc lời xưng tụng ấy không hề có sai lầm
Đã ba mươi năm nay tôi đọc sách của ông
Giận chẳng được diện kiến một lần trước khi ông mất
May làm sao trước lúc xuôi tay nhắm mắt
Tôi còn được nhìn thấy nước Trung Quốc mới của ông

(Bản dịch của Phan Nam Sinh)

Qua đời

Phan Khôi mất lúc 11 giờ trưa ngày 16/1/1959 tại nhà riêng số 73 phố Thuốc Bắc – Hà Nội, thọ 72 xuân. Ông được chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện. Trong chiến tranh, phần mộ của ông đã thất lạc. Nay nhìn lại cuộc tranh luận giữa thơ mới và thơ cũ, đã phá bỏ lối thơ ngự trị hàng ngàn năm trên thi đàn và dựng nên thành tựu của phong trào thơ mới, thì dẫu muốn hoặc không các nhà nghiên cứu cũng phải ghi nhận bài thơ Tình già đầu tiên của Phan Khôi.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Phan Khôi

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)