Thánh Quang Bồ Tát – Trần Thị Ngọc Am

Thánh Quang Bồ Tát – Trần Thị Ngọc Am

Thông tin cơ bản

Thân thế

Bà Trần Thị Ngọc Am (Yêm) tên thật là Trần Thị Cư tự là Pháp Tiên, sinh ngày 5 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1580) tại làng Mụa, tổng Thiên Thi, phủ Khoái Châu xưa, nay thuộc thôn Cộng Vũ, xã Vũ Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Dân gian thường gọi bà là Bà Chúa Mụa. Bà là Đệ Nhị cung tần trong phủ chúa Trịnh Tráng, sau này được ban Quốc tính đổi sang họ Trịnh. Cha của bà là quan Thái bảo An nghĩa hầu trong triều, em trai của bà là Tham đốc phủ Việt hầu – Quận công Trần Ngộ Phúc vị quan thân cận phò chúa Trịnh Tráng.

Cuộc đời

Bà cùng chúa Trịnh Tráng sinh được một người con gái tên là Trịnh Thị Minh, chúa hết mực yêu thương và ban cho con gái 4 chiếc đĩa vàng 1 chiếc địa bạc, trong đó có một chiếc khắc dòng chữ Hán: “Thụy Minh Công chúa, kim phụ lai bút tinh Công chúa” có nghĩa là “vàng bạc của cha ban cho con là Thụy Minh Công chúa”.[1] Nhưng không may Công chúa chết yểu khiến bà rất đau buồn, bà xin chúa Trịnh cho về quê nhà. Ngày 8/6/1963, khi làm thủy lợi khai thông sông Cửu An, nhân dân đã tìm được 5 chiếc đĩa trên dưới đáy giếng trước cổng đền Mụa thờ bà. Như vậy, 5 chiếc đĩa này đã được bà mang về để tại đền ở quê mình, hiện bộ đĩa này đang được lưu trữ tại kho bạc của tỉnh Hưng Yên.

Thí chủ Trần Thị Ngọc Am cùng Dũng Lễ công Trịnh Khải là người đã hỗ trợ đắc lực giúp Hòa thượng Chuyết Công truyền bá Tông Lâm Tế tại Đàng Ngoài, là cầu nối giữa Hòa thượng với vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng. Sách Chuyết Công ngữ lục chép:

“Bấy giờ có đức bà lão cung tần giàu có lại mến mộ Phật pháp, xin theo Sư học đạo, lại cho ba cô con gái quy y với Sư. Không lâu thì lại có em trai Thanh vương Trịnh Tráng là Dũng Lễ công Trịnh Khải hâm mộ Thiền học của Sư, bèn sai người rước Sư đến phủ. Trong lúc hỏi đáp, Khải biết Sư là người tinh thâm thấu triệt lẽ huyền vi, biện tài vô ngại, liền bái Sư làm thầy, giữ lễ đệ tử. Khải tuy rất yêu mến Sư, nhưng vẫn còn hoài nghi về đạo pháp của Sư, mới đem tục tình ra thử. Tuy roi vàng giơ lên mà ngựa ý chẳng động, không nhiễm mảy bụi trần. Qua đây, Trịnh Khải mới biết được Sư chẳng phải là hạng tầm thường. Sau đó, Trịnh Khải còn cho con gái theo Sư xuất gia.”[2]

Sau này, bà xuất gia với Thiền sư Minh Hành – Tại Tại[3] và được ban pháp danh Pháp Giới, pháp hiệu Diệu Pháp. Chính vì mến mộ Phật pháp nên bà đã cho xây dựng và tu sửa rất nhiều ngôi chùa, đình, đền tại Đàng Ngoài trong đó chùa Phật Tích, chùa Vạn Ninh,…Tại quê hương, bà bỏ tiền ra giúp dân khai khẩn ruộng đất, khai sông dẫn thủy, nhập điền, giúp đỡ mọi người và cầu Phật ban phúc lành cho dân chúng. Bà tu sửa các chùa chiền quanh vùng và bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Cũng nhờ công đức ấy bà vinh phong là Thánh Quang Bồ Tát.

Văn bia Cự Đà tự bi ký cho biết, năm 1632 bà đã cử thiền Tăng họ Hà, tự Pháp Nguyên và bà vãi Từ Duyên sửa sang chùa Cự Đà và xây đền Bạch Mã:

“Năm Nhâm Thân (1632), nhân việc sai phái Thiền tăng Hà Pháp Nguyên, vãi chùa hiệu Từ Duyên xây dựng miếu  Bạch Mã Đại vương ở cạnh chợ Đa Tốn, lấy [] thôn; kén thợ khéo, múa rìu trăng, loan búa gió , xây dựng nhà đường theo hình chữ “công”, xây dựng dùng gỗ lim, lợp mái ngói hoa sen. Thần từ hoàn tất, Phật pháp thêm sùng, lại hâm mộ phong cảnh Cự Đà, ý muốn mở rộng quy mô Càn Trúc[4] . Cho nên bà lại cho xây tường bao quanh bốn phía, để làm nơi tụ về của thiền lâm. Thêm nữa, bà lại mua sáu sào đất thanh tịnh, để mở rộng cảnh chùa. Quy mô cảnh Phật theo đó thêm rộng lớn, cảnh vật nhờ đây nguy nga rạng rỡ. Cho dù như ở cung trời Đâu Suất , thì cũng có lấy gì hơn thế. Thêm nữa lại tô vẽ tượng Phật, để làm di tượng về sau. Thêm nữa, bà lại ban bạc ròng cho dân thôn Khoan Hồng để làm “Tông tử”[5], mọi người trong thôn ai nấy đều một lòng kính tín, thảy đều nguyện hương hỏa phụng thờ, lưu truyền muôn đời.”

Ghi nhận những công lao của bà và em trai bà là Quận công Trần Ngộ Phúc, vua Lê, chúa Trịnh đã cho lập đền Bà Chúa Mụa và xây dựng tháp Cửu phẩm liên hoa tại làng Mụa – quê hương bà. Theo tục truyền, chúa Trịnh đã cho hàng trăm thợ giỏi về xây dựng đền, tháp và họa lại tiên dung để tạc tượng bà ngay khi còn sống nên được gọi là “sinh từ”. Để phục vụ việc xây dựng, chúa Trịnh Tráng đã cho khai thông hai nhánh sông qua làng Mụa để vận chuyển nguyên vật liệu, công trình được tiến hành trong ba năm mới hoàn thành.

Cuối đời

Năm 1648, bà qua đời tại quê hương trong sự tiếc nuối của nhân dân. Hằng năm, nhân dân địa phương lấy ngày mùng 5 tháng Giêng là ngày giỗ của bà Chúa Mụa.

Chú thích

[1] Truyền hình Hưng Yên, Chương trình: Đất và người quê nhãn, “Đền Bà Chúa Mụa”, phát sóng ngày 13/12/2014.

[2] Thiền sư Minh Hành Tại Tại, Thiền sư Tuệ Tiến biên tập, Chuyết Công ngữ lục, Nguyễn Quang Khải, Thích Nguyên Đạt dịch, Nxb Thanh Hóa, 2017, tr. 20 – 22.

[3] Thiền sư Minh Hành (1595 – 1659), họ Hà, tên không rõ, pháp danh là Minh Hành, pháp hiệu là Tại Tại, là người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc (nay là địa khu Phủ Châu, tỉnh Giang Tây). Trên đường vân du hoằng hóa ngài Minh Hành gặp Hòa thượng Chuyết Chuyết tại Chân Lạp, rồi tôn Chuyết Chuyết làm thầy. Năm 1630, Hòa thượng Minh Hành theo sư phụ từ vùng Quảng Nam, Thuận Hoá ra Thăng Long (Hà Nội), trên đường Minh Hành đã dừng tại chùa Trạch Lâm, Thanh Hoá. Năm 1633, Minh Hành và Chuyết Công Hòa thượng đến Thăng Long. Sau khi Chuyết Công tịch năm 1644, Thiền sư Minh Hành trụ trì chùa Bút Tháp cho đến năm 1659 thì tịch, xá lợi nhập vào Tôn Đức tháp tại vườn tháp chùa Bút Tháp. Thiền sư Minh Hành được coi Tổ đệ nhị của chùa Bút Tháp, và thiền phái Lâm Tế tại Đàng Ngoài.

[4] Càn Trúc: là cách gọi khác của Thiên Trúc (Ấn Độ xưa), cũng là nơi khởi phát của đạo Phật. Càn Trúc ở đây nghĩa là mở rộng quy mô cảnh chùa, cảnh Phật.

[5] Tông tử: là được thờ phụng truyền đời, người viết bia tôn kính tôn địa vị bà nên dùng điển chương. Theo thể chế chính trị đời nhà Chu, “Tông pháp chế” lấy “Tông tử” làm trung tâm. Thiên tử, vương hầu, quan khanh, đại phu sẽ truyền tước vị cho con trai trưởng dòng đích gọi là đích trưởng tử.

Tài liệu tham khảo

  1. Thiền sư Minh Hành Tại Tại, Thiền sư Tuệ Tiến biên tập (2017), Chuyết Chuyết Công ngữ lục, Nguyễn Quang Khải, Thích Nguyên Đạt dịch, Nxb Thanh Hóa.
  2. Nguyễn Hiền Đức (2006), Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh, tập 1, Nxb Tổng hợp Tp. HCM.
  3. Truyền hình Hưng Yên, Chương trình: Đất và người quê nhãn, “Đền Bà Chúa Mụa”, phát sóng ngày 13/12/2014.

Chấm điểm
Chia sẻ
Thiện Đạo quốc mẫu (3)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)