Thiền sư Minh Hành – Tại Tại (1596 – 1659)

Thiền sư Minh Hành – Tại Tại (1596 – 1659)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Theo văn bia Sắc kiến tôn đức tháp khoán thạch, Thiền sư có pháp danh Minh Hành, hiệu Tại Tại, được sắc tặng Thành đẳng Chính giác Đại đức Thiền sư hóa thân Bồ Tát. Ngài họ Hà, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, nước Đại Minh (Trung Quốc). Ngài thuộc phái thiền Lâm Tế, đời 32 (truyền theo bài kệ của Tổ Trí Bảng: “Trí Tuệ Thanh Tịnh, Đạo Đức Viên Minh”). Thiền sư là đệ tử xuất sắc nhất và là người phụ giúp đắc lực của Hòa thượng Chuyết Công (Viên Văn – Chuyết Chuyết) trong việc hoằng dương Phật pháp ở nhiều nơi, nhất là ở Đàng Ngoài.

Hành trình hành đạo

Năm 1630, Thiền sư Minh Hành – Tại Tại theo Hòa thượng Chuyết Công và một số huynh đệ, đạo hữu rời Trung Quốc qua Chân Lạp[1] bằng thuyền, khi người Nữ Chân (Mãn Thanh) đánh người Hán (nhà Minh). Sau một thời gian hoằng hóa ở Chân Lạp, Thiền sư và sư phụ Chuyết Công dùng thuyền đi ra Đàng Trong, có dừng chân ở Quy Nhơn và Thuận Hóa.

Tiếp theo đó ra Đàng Ngoài, ngài ghé chùa Thiên Tượng, ở lưng chừng núi Thiên Tượng, thuộc dãy núi Hồng Lĩnh, xã Vân Xá, huyện Can Lộc, tỉnh Nghệ An. Sau đó, Thiền sư cùng sư phụ và các huynh đệ môn đồ hoằng hóa ở chùa Trạch Lâm. Chùa Trạch Lâm ở xã Trạch Lâm huyện Tống Sơn, trấn Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), do bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, chính phi của Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1623 – 1657) lập. Hiện chùa có thờ tượng Thiền sư Minh Hành và tượng bà Ngọc Tú.

Sách Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục[2] kể: “Bấy giờ, có vị thương nhân lớn ở kinh thành Thăng Long (lúc đó gọi là Đông Đô) tên là Nguyễn Tề, thỉnh Sư (tức Chuyết Chuyết) đến kinh thành làm lễ cầu siêu cho cha mẹ. Thầy trò bàn kín với nhau, Sư nói: “Đây chẳng phải là việc của chúng ta, nhưng nếu muốn khai quyền hiển thật thì không thể không theo” (ý nói nếu muốn truyền Đạo thì phải ra kinh thành làm việc Tề nhờ). Thế rồi, thầy trò cùng nhau đến kinh thành.”

Các bia Sắc kiến Tôn Đức khoán thạch và Ninh Phúc thiền tự Tam Bảo tế tự điền bi đều lược ghi về hành trạng của Thiền sư Minh Hành, như sau: “Năm Quý Dậu niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633), ngài theo thầy là Thiền sư Phổ Giác[3] sang kinh đô nước Đại Việt đi hành đạo truyền giáo.” Công cuộc truyền bá tông Lâm Tế ở Đàng Ngoài Đại Việt được sự hỗ trợ đắc lực hai người là Chính vương phủ cung tần Trần Thị Ngọc Am[4] và Dũng Lễ công Trịnh Khải, họ là cầu nối với vua Lê và chúa Trịnh. Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục chép: “Bấy giờ có đức bà lão cung tần giàu có lại mến mộ Phật pháp, xin theo Sư học đạo, lại cho ba cô con gái quy y với Sư. Không lâu thì lại có em trai Thanh vương Trịnh Tráng là Dũng Lễ công Trịnh Khải hâm mộ Thiền học của Sư, bèn sai người rước Sư đến phủ. Trong lúc hỏi đáp, Khải biết Sư là người tinh thâm thấu triệt lẽ huyền vi, biện tài vô ngại, liền bái Sư làm thầy, giữ lễ đệ tử. Khải tuy rất yêu mến Sư, nhưng vẫn còn hoài nghi về đạo pháp của Sư, mới đem tục tình ra thử. Tuy roi vàng giơ lên mà ngựa ý chẳng động, không nhiễm mảy bụi trần. Qua đây, Trịnh Khải mới biết được Sư chẳng phải là hạng tầm thường. Sau đó, Trịnh Khải còn cho con gái theo Sư xuất gia.”

Nơi hai thầy trò Hòa thượng Minh Hành – Tại Tại đến hoằng hóa đầu tiên là chùa Khán Sơn, ở trên núi Khánh Sơn, phía Tây bắc kinh thành Thăng Long. Vào đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1479), vua thường lên núi này để tuyển duyệt võ nghệ nên núi có tên là Khán Sơn. Sau khi vua Lê Thánh Tông băng hà, đài duyệt võ được đổi lên đền thờ vua và sau sửa thành chùa.

Sau đó Thiền sư Minh Hành – Tại Tại và sư phụ về chùa Phật Tích (Vạn Phúc) trên núi Phật Tích (núi Lạn Kha) thuộc huyện Tiên Du, trấn Kinh Bắc, cách kinh thành Thăng Long khoảng 30km về hướng Đông bắc. Thượng hoàng Lê Thần Tông, chúa Trịnh Tráng, Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, cung phi triều thần đến thọ giáo rất đông. Vua Lê, chúa Trịnh hỗ trợ cho chùa Phật Tích khắc bản gỗ in kinh sách để phổ biến ở Đàng Ngoài. Công việc khắc bản in này có lễ do Thiền sư Tại Tại đứng ra quản lý.

Chúa Trịnh Tráng nhờ Hòa thượng Chuyết Công cử người qua Trung Quốc thỉnh Đại Tạng kinh, Hoa thượng giao cho Thiền sư Tại Tại đi thỉnh kinh. Thiền sư Tại Tại thỉnh kinh về Đông Đô, chúa cho đưa về tàng trữ ở chùa Phật Tích.

Năm 1644, sư phụ viên tịch, Thiền sư Minh Hành – Tại Tai lập tháp thờ Kim thân của Hòa thượng Chuyết Công, đặt tên là tháp Báo Nghiêm. Sau đó, Thiền sư qua trụ trì chùa Ninh Phúc lại cho xây dựng tháp Báo Nghiêm ở chùa Ninh Phúc để làm tháp vong. Tháp được xây cao năm tầng trên đỉnh có mũi nhọn giống đầu ngọn bút lông, nhìn toàn cảnh tháp thấy giống cây bút viết chữ nho nên dân thời đó gọi là chùa Bút Tháp. Năm 1647, tháp Báo Nghiêm được xây dựng xong. Thiền sư Tại Tại nhờ cư sĩ Thanh Nguyên soạn bài minh khắc lên bia tháp để kể về thành trạng và công đức của Hòa thượng Chuyết Công, gọi là Hiển thoại Báo Nghiêm tháp bi minh.

Từ năm 1645 – 1658, Thiền sư còn hoằng hóa ở chùa Hoa Yên (Vân Yên) trên núi Yên Từ, nhờ đó sư nghiên cứu và tham học thêm kinh sách của phái thiền Trúc Lâm của Đại Việt, kết hợp tinh hoa của hai phái thiền Trúc Lâm và Lâm Tế tạo thành đặc trưng của phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài. Năm Khánh Đức 4 (1652), thiền sư cho in tác phẩm Tâm Châu Nhất Quán của Thích Viên Diễn (Trung Quốc), trong đó cho in hai bài viết của mình là Thánh hiền tương nhược tự và Thánh chúa hiền thần tụng. Năm Thịnh Đức thứ 5 (1657), thiền sư in tác phẩm Thiên Đồng Tụng Cổ. Bản này được in lại năm Cảnh Hưng 24, do Tỳ Khiêu tự Như Không, bản lưu tại chùa Đoan Nghiêm, xã An Lâm, huyện Đông Triều. Đây là một tác phẩm thiền tông Trung Hoa, có ảnh hưởng nhiều đến các chùa ở Việt Nam.

Các môn đồ nổi danh của Thiền sư

  • Thiền sư Chân Trú – Tuệ Nguyệt trụ trì chùa Văn Yên trên núi Yên Tử.
  • Đệ nhị cung tần Trần Thị Ngọc Am (cung tần của chúa Trịnh Tráng), pháp danh là Pháp Giới
  • Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ Thượng hoàng Lê Thần Tông) là con gái của chúa Trịnh Tráng, quy y với Thiền sư Minh Hành – Tại Tại được ban pháp danh là Pháp Tính, biệt hiệu là bà chúa Kim Cương).
  • Công nữ Lê Thị Ngọc Duyên (con của bà Trịnh Thị Ngọc Trúc và Cương Quận công Lê Trụ. Sau khi Lê Trụ mất, bà được chọn làm Hoàng hậu cho vua Lê Thần Tông), cũng quy y với Thiền sư Minh Hành – Tại Tại, được ban pháp danh là Diệu Tuệ.

Những tác phẩm của Thiền sư Minh Hành – Tại Tại

  • Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục
  • Thánh hiền tương nhược tự, viết năm Khánh Đức thứ 3 (1651)
  • Thánh chúa hiền thần tụng, viết năm Khánh Đức thứ 3 (1651)
  • Trùng san tịnh từ kinh tự, viết năm Quý Tỵ (1653)
  • Sắc kiến Ninh Phúc thiền tự bi ký.

Những bài kệ của Thiền sư Minh Hành – Tại Tại

  • Minh Chân Như Tánh Hài.
  • Kim Tường Phổ chiếu Thông.
  • Chí Đạo Thành Chánh Quả.
  • Giác Ngộ Chứng Chân Không.

Viên tịch

Ngày 25 tháng 3 năm Kỷ Hợi (1659), Thiền sư Minh Hành – Tại Tại viên tịch ở chùa Bút Tháp, thọ 64 tuổi, tháp của ngài được ban tên là tháp Tôn Đức. Chúng đồ lập tháp Tôn Đức thờ sư ở ba chùa: chùa Bút Tháp (trấn Kinh Bắc), chùa Trạch Lâm (Thanh Hóa), chùa Vân Yên (Hoa Yên) trên núi Yên Tử.

Chú thích

[1] Chân Lạp, Chenla hay Zhenla (giản thể: 真腊; phồn thể: 真臘; Hán – Việt: Chân Lạp; bính âm: Zhēnlà; Wade – Giles: Chen-la; tiếng Khmer: ចេនឡា, phát âm: Chơn La) là nhà nước của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện tại.

[2] Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục là sách viết bằng chữ Hán do Thiền sư Minh Hành Tại Tại và Thiền sư Tuệ Tiến biên tập, ghi về lai lịch, quá trình hành đạo, các bài thuyết pháp của Thiền sư Chuyết Chuyết.

[3] Phổ Giác: Cách gọi khác của đệ tử gọi Chuyết Chuyết sau khi viên tịch, đồng thời là một trong ba mỹ tự được vua Lê Thần Tông phong cho Chuyết Chuyết là: “Phổ Giác – Quảng Tế – Đại đức Thiền sư nhục thân Bồ tát”. Tương tự với mỹ tự “Chính Giác” là Minh Hành, “Hoằng Giác” là Minh Nghĩa, “Mãn Giác” là Minh Lương, “Thiện Giác” là Hương Hải, “Quảng Giác” là Chân Lai, “Giác Tính” là Chân An.

[4] Trần Thị Ngọc Am là Đệ nhị cung tần của Thanh Đô vương Trịnh Tráng. Bà tên thật là Trần Thị Cư (1580 – 1647), quê xã Vũ Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Sau này, bà được ban quốc tính họ Trịnh, dân gian gọi là bà chúa Mụa.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đại Đồng, “Hành trình truyền bá tông Lâm Tế của Chuyết Chuyết ra Đàng Ngoài”, Giác ngộ online, ngày 05/10/2018.
  2. Thiền sư Minh Hành Tại Tại, Thiền sư Tuệ Tiến biên tập (2017), Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục, Nguyễn Quang Khải, Thích Nguyên Đạt dịch, Nxb Thanh Hóa.
  3. Ngô Đức Thọ (1990), Thiền Uyển tập anh, Nxb Văn học, Bản ebook Tự viện Quảng Đức.
  4. Ngô Quốc Trưởng (2009), “Về bài kệ truyền pháp của Thiền sư Minh Hành Tại Tại”, Tập san Pháp Luân, số 67, tr. 89.

_____________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Biography

According to the inscription on the stele Sac Kien Ton Duc Thap Khoan Thach, the Zen Master bore the Dharma name Minh Hanh, with the title Tai Tai, and was posthumously honored as Thành đẳng Chính giác Đại đức Thiền sư hóa thân Bồ Tát (Great Virtuous Zen Master, embodiment of Bodhisattva). He belonged to the Ha family, from Jianxiong Prefecture, Jiangxi Province, in the Great Ming (China). He was a 32nd-generation descendant of the Linji (Rinzai) Zen school (according to the transmission gatha of Patriarch Zhi Bang: Wisdom and Purity, Morality and Perfection). Zen Master Minh Hanh was the most outstanding disciple and a close assistant of Venerable Chuyet Cong (Yuan Wen – Chuyet Chuyet) in propagating the Dharma across many places, especially in Northern Vietnam (Dang Ngoai).

Journey of Dharma Propagation

In 1630, Zen Master Minh Hanh – Tai Tai, together with Venerable Chuyet Cong and several fellow monks, left China by boat for Chenla (modern-day Cambodia), when the Jurchens (later the Manchus, Qing dynasty) attacked the Han people (Ming dynasty). After a period of Dharma propagation in Chenla, they sailed to Central Vietnam (Dang Trong), making stops in Quy Nhon and Thuan Hoa.

Subsequently, they traveled to Northern Vietnam (Dang Ngoai), where the Master stayed at Thien Tuong Pagoda, located halfway up Thien Tuong Mountain, part of the Hong Linh range in Van Xa village, Can Loc district, Nghe An province. Later, the Master and his disciples propagated the Dharma at Trach Lam Pagoda, founded by Lady Nguyen Thi Ngoc Tu, consort of Thanh Do Vuong Trinh Trang (1623–1657), in Thanh Hoa. Today, statues of Zen Master Minh Hanh and Lady Ngoc Tu are still enshrined there.

The book Chuyet Chuyet To Su Ngu Luc records: “At that time, a wealthy merchant in Thang Long (then called Dong Do), named Nguyen Te, invited Master Chuyet Chuyet to the capital to perform memorial rites for his parents. After a private discussion, the Master said: ‘This is not truly our task, but if we wish to manifest the True Dharma, we must accept this request.’ Thus, Master and disciples together went to the capital.”

The steles Sac Kien Ton Duc Khoan Thach and Ninh Phuc Thien Tu Tam Bao Te Tu Dien Bi both briefly noted the activities of Zen Master Minh Hanh: “In the year Quý Dậu, the 5th year of Đức Long era (1633), he followed his teacher, Zen Master Pho Giac, to the capital of Dai Viet to propagate the Dharma.” The spread of the Linji school in Northern Dai Viet was strongly supported by Lady Tran Thi Ngoc Am (imperial concubine of Trinh Trang) and Duke Dung Le Cong Trinh Khai, who acted as intermediaries with the Le kings and Trinh lords. The records also mention how both Ngoc Am and Trinh Khai became devoted disciples, with Trinh Khai even sending his daughter to ordain under the Master.

The first place where Masters Minh Hanh – Tai Tai and Chuyet Cong taught was Khan Son Pagoda, on Khanh Son Mountain northwest of Thang Long. Later, they moved to Phat Tich Pagoda (Van Phuc) on Phat Tich Mountain (Lan Kha) in Tien Du, Kinh Bac, about 30 km northeast of Thang Long. Many dignitaries, including King Le Than Tong, Lord Trinh Trang, and Queen Trinh Thi Ngoc Truc, came to study under them. With royal support, Phat Tich Pagoda produced woodblock prints of sutras for widespread distribution, a project overseen by Master Tai Tai.

Lord Trinh Trang also commissioned Chuyet Cong to send someone to China to obtain the Tripitaka. The task was entrusted to Master Tai Tai, who successfully brought the scriptures back to Dong Do for preservation at Phat Tich Pagoda.

In 1644, when Chuyet Cong passed away, Master Minh Hanh – Tai Tai built a stupa named Bao Nghiem to enshrine his teacher’s relics. Later, he constructed another Bao Nghiem Stupa at Ninh Phuc Pagoda, which due to its pen-shaped design came to be called But Thap (Pen Stupa Pagoda). The construction was completed in 1647, and the stupa inscription, composed by layman Thanh Nguyen, was engraved to honor Chuyet Cong’s virtues.

Between 1645–1658, Master Tai Tai likely also taught at Hoa Yen Pagoda on Yen Tu Mountain, where he studied the Truc Lam Zen tradition of Dai Viet, blending it with Linji teachings to form the distinctive character of Northern Linji Zen.

Notable Disciples

Zen Master Chan Tru – Tue Nguyet, abbot of Van Yen Pagoda on Yen Tu Mountain.

Lady Tran Thi Ngoc Am, imperial concubine of Lord Trinh Trang, Dharma name Phap Gioi.

Empress Dowager Trinh Thi Ngoc Truc, daughter of Lord Trinh Trang, wife of King Le Than Tong, Dharma name Phap Tinh, also known as the “Diamond Queen.”

Princess Le Thi Ngoc Duyen, daughter of Ngoc Truc and Le Tru, later Empress of King Le Than Tong, Dharma name Dieu Tue.

Works of Zen Master Minh Hanh – Tai Tai

Chuyet Chuyet To Su Ngu Luc

Thanh Hien Tuong Nhuoc Tu (1651)

Thanh Chua Hien Than Tung (1651)

Trung San Tinh Tu Kinh Tu (1653)

Sac Kien Ninh Phuc Thien Tu Bi Ky

Verses

Minh Chan Nhu Tanh Hai

Kim Tuong Pho Chieu Thong

Chi Dao Thanh Chanh Qua

Giac Ngo Chung Chan Khong

Passing

On the 25th day of the 3rd lunar month, Year Ky Hoi (1659), Zen Master Minh Hanh – Tai Tai passed away at But Thap Pagoda, at the age of 64. His stupa was named Ton Duc Stupa. Disciples enshrined stupas for him at three temples: But Thap (Kinh Bac), Trach Lam (Thanh Hoa), and Van Yen (Hoa Yen, Yen Tu Mountain).

Notes

[1] Chenla (Chinese: 真腊 Zhenla; Khmer: ចេនឡា, pronounced Chon La) was a Khmer polity that existed from around 550 to 802 CE in the southern part of the Indochinese Peninsula, covering present-day Cambodia and parts of southern Vietnam.

[2] Chuyet Chuyet To Su Ngu Luc is a text written in classical Chinese, compiled by Zen Masters Minh Hanh Tai Tai and Tue Tien. It records the biography, Dharma propagation journey, and sermons of Zen Master Chuyet Chuyet.

[3] Pho Giac (“Universal Enlightenment”) is another posthumous honorific used for Zen Master Chuyet Chuyet after his passing. It was one of the three titles conferred by King Le Than Tong: Pho Giac – Quang Te – Great Virtuous Zen Master, living Bodhisattva. Similarly, “Chinh Giac” referred to Minh Hanh, “Hoang Giac” to Minh Nghia, “Man Giac” to Minh Luong, “Thien Giac” to Huong Hai, “Quang Giac” to Chan Lai, and “Giac Tinh” to Chan An.

[4] Tran Thi Ngoc Am was the second consort of Lord Trinh Trang, originally named Tran Thi Cu (1580–1647), from Vu Xa village, Kim Dong district, Hung Yen province. Later, she was granted the royal surname “Trinh,” and popularly remembered as “Lady Chua Mua.”

References

  1. Nguyễn Đại Đồng, “Hành trình truyền bá tông Lâm Tế của Chuyết Chuyết ra Đàng Ngoài”, Giác ngộ online, ngày 05/10/2018.
  2. Thiền sư Minh Hành Tại Tại, Thiền sư Tuệ Tiến biên tập (2017), Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục, Nguyễn Quang Khải, Thích Nguyên Đạt dịch, Nxb Thanh Hóa.
  3. Ngô Đức Thọ (1990), Thiền Uyển tập anh, Nxb Văn học, Bản ebook Tự viện Quảng Đức.
  4. Ngô Quốc Trưởng (2009), “Về bài kệ truyền pháp của Thiền sư Minh Hành Tại Tại”, Tập san Pháp Luân, số 67, tr. 89.

________________

Tiếng Pháp (français’)

Vie et Origine

Selon l’inscription Sac kien Ton Duc Thap Khoan Thach, le maître zen portait le nom religieux Minh Hanh, le titre Tai Tai, et reçut à titre posthume l’honneur de Thanh dang Chinh giac Dai duc Thien su hoa than Bo Tat (Grand maître vertueux de méditation, incarnation du Bodhisattva).

Il appartenait à la famille Ha, originaire de la préfecture de Kien Xuong, province de Jiangxi, dans l’empire des Grands Ming (Chine). Il était de la 32e génération de l’école zen Linji (Rinzai) (selon le poème de transmission du patriarche Zhi Bang : Sagesse et Pureté, Moralité et Lumière parfaite).

Le maître Minh Hanh fut le disciple le plus remarquable et l’assistant fidèle du vénérable Chuyet Cong (Yuan Wen – Chuyet Chuyet) dans la propagation du bouddhisme, notamment dans le Nord du Vietnam (Dang Ngoai).

Parcours de propagation

En 1630, le maître Minh Hanh – Tai Tai accompagna le vénérable Chuyet Cong et quelques frères de religion, quittant la Chine par bateau pour le Chenla (Cambodge actuel), au moment où les Jürchen (Mandchous, future dynastie Qing) attaquaient les Han (dynastie Ming).

Après un temps d’enseignement au Chenla, le maître et son maître spirituel se rendirent en Dang Trong (Vietnam central), faisant escale à Quy Nhon et Thuan Hoa.

Puis ils gagnèrent le Dang Ngoai (Nord du Vietnam). Minh Hanh séjourna d’abord au pagode Thien Tuong, situé à mi-pente de la montagne Thien Tuong, dans la chaîne Hong Linh, village de Van Xa, district de Can Loc, province de Nghe An. Ensuite, lui, son maître et leurs disciples enseignèrent au pagode Trach Lam, fondé par dame Nguyen Thi Ngoc Tu, épouse principale du seigneur Trinh Trang (1623–1657), dans la province de Thanh Hoa. Aujourd’hui encore, le pagode conserve les statues du maître Minh Hanh et de dame Ngoc Tu.

Le livre Chuyet Chuyet To su ngu luc rapporte :

« À cette époque, un riche marchand de Thang Long (alors appelé Dong Do), nommé Nguyen Te, invita le maître Chuyet Chuyet à accomplir une cérémonie funéraire pour ses parents. Après discussion, le maître dit : “Ce n’est pas véritablement notre tâche, mais si nous voulons révéler la Loi authentique, nous devons y aller.” Ainsi, maître et disciples partirent pour la capitale. »

Les stèles Sac kien Ton Duc Khoan Thach et Ninh Phuc Thien tu Tam Bao te tu dien bi rapportent :

« En l’an Quý Dậu, 5e année de l’ère Duc Long (1633), il accompagna son maître, le maître zen Pho Giac, dans la capitale de Dai Viet pour enseigner le Dharma. »

La propagation de l’école Linji dans le Nord fut favorisée par dame Tran Thi Ngoc Am (concubine du seigneur Trinh Trang) et par le duc Dung Le Cong Trinh Khai, intermédiaires auprès du roi Le et du seigneur Trinh.

Les chroniques ajoutent : dame Ngoc Am se mit à l’étude du Dharma, fit ordonner ses trois filles, et plus tard, Trinh Khai, frère cadet du seigneur Trinh Trang, devint disciple du maître. Constatant son éloquence et sa profondeur, il le reconnut comme maître spirituel et lui fit même ordonner sa fille.

Le premier lieu de prédication des maîtres Minh Hanh – Tai Tai et Chuyet Cong fut le pagode Khan Son, sur la montagne Khanh Son, au nord-ouest de Thang Long. Sous le règne de Le Thanh Tong (1460–1479), le roi y venait pour passer en revue les arts martiaux, d’où son nom de « Montagne des revues ». Après sa mort, le site fut transformé en temple, puis en pagode.

Ensuite, ils s’installèrent au pagode Phat Tich (Van Phuc), sur la montagne Phat Tich (Lan Kha), district de Tien Du, province de Kinh Bac, à 30 km au nord-est de Thang Long. Là, le roi Le Than Tong, le seigneur Trinh Trang, la reine Trinh Thi Ngoc Truc et de nombreux dignitaires vinrent recevoir l’enseignement.

Avec le soutien royal, le pagode fit graver des planches de bois pour imprimer et diffuser les sutras, une entreprise supervisée par le maître Tai Tai.

Le seigneur Trinh Trang demanda aussi à Chuyet Cong d’envoyer quelqu’un en Chine chercher le Tripitaka. La mission fut confiée à Tai Tai, qui rapporta les écritures à Dong Do, pour les conserver au pagode Phat Tich.

En 1644, à la mort de Chuyet Cong, le maître Minh Hanh – Tai Tai fit construire une stupa appelée Bao Nghiem pour abriter ses reliques. Plus tard, il fit bâtir une autre stupa Bao Nghiem au pagode Ninh Phuc. La stupa, haute de cinq étages et terminée en pointe comme un pinceau, valut au temple le nom populaire de pagode But Thap (Pagode du Pinceau). Elle fut achevée en 1647, avec une inscription rédigée par le lettré Thanh Nguyen, louant les vertus de Chuyet Cong.

De 1645 à 1658, le maître Tai Tai enseigna aussi probablement au pagode Hoa Yen (Van Yen) sur la montagne Yen Tu, où il étudia les textes de l’école Truc Lam du Dai Viet. En combinant cette tradition avec celle de Linji, il contribua à former un zen Linji propre au Nord du Vietnam.

Disciples notables

Maître zen Chan Tru – Tue Nguyet, abbé du pagode Van Yen (montagne Yen Tu).

Tran Thi Ngoc Am, concubine du seigneur Trinh Trang, nom religieux Phap Gioi.

Impératrice douairière Trinh Thi Ngoc Truc, fille de Trinh Trang et épouse du roi Le Than Tong, nom religieux Phap Tinh, surnommée « Dame du Diamant ».

Princesse Le Thi Ngoc Duyen, fille de Ngoc Truc et de Le Tru, devenue épouse du roi Le Than Tong, nom religieux Dieu Tue.

Œuvres du maître Minh Hanh – Tai Tai

Chuyet Chuyet To su ngu luc

Thanh hien tuong nhuoc tu (1651)

Thanh chua hien than tung (1651)

Trung san tinh tu kinh tu (1653)

Sac kien Ninh Phuc Thien tu bi ky

Vers spirituels

Minh Chan Nhu Tanh Hai

Kim Tuong Pho Chieu Thong

Chi Dao Thanh Chanh Qua

Giac Ngo Chung Chan Khong

Décès

Le 25 mars de l’an Ky Hoi (1659), le maître Minh Hanh – Tai Tai s’éteignit au pagode But Thap, à l’âge de 64 ans. Son stupa fut nommé Ton Duc. Ses disciples érigèrent des stupas à sa mémoire dans trois pagodes : But Thap (Kinh Bac), Trach Lam (Thanh Hoa), et Van Yen (Hoa Yen, montagne Yen Tu).

Notes

[1] Chenla (chinois simplifié : 真腊 ; chinois traditionnel : 真臘 ; pinyin : Zhēnlà ; khmer : ចេនឡា, prononcé Chon La) était un royaume khmer ayant existé de 550 à 802 sur le sud de la péninsule indochinoise (actuel Cambodge et sud du Vietnam).

[2] Chuyet Chuyet To su ngu luc est un ouvrage en chinois classique, compilé par les maîtres Minh Hanh Tai Tai et Tue Tien. Il relate la biographie, les activités et les sermons du maître Chuyet Chuyet.

[3] Pho Giac (« Éveil universel ») est un titre posthume donné au maître Chuyet Chuyet, l’un des trois honorifiques conférés par le roi Le Than Tong : Pho Giac – Quang Te – Grand maître vertueux, Bodhisattva incarné. De même, « Chinh Giac » désignait Minh Hanh, « Hoang Giac » Minh Nghia, « Man Giac » Minh Luong, « Thien Giac » Huong Hai, « Quang Giac » Chan Lai, et « Giac Tinh » Chan An.

[4] Tran Thi Ngoc Am, seconde concubine du seigneur Trinh Trang, née Tran Thi Cu (1580–1647), du village Vu Xa, district Kim Dong, province Hung Yen. Elle reçut plus tard le nom princier « Trinh » et fut connue du peuple sous le nom de « Dame Chua Mua ».

Références

  1. Nguyễn Đại Đồng, “Hành trình truyền bá tông Lâm Tế của Chuyết Chuyết ra Đàng Ngoài”, Giác ngộ online, ngày 05/10/2018.
  2. Thiền sư Minh Hành Tại Tại, Thiền sư Tuệ Tiến biên tập (2017), Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục, Nguyễn Quang Khải, Thích Nguyên Đạt dịch, Nxb Thanh Hóa.
  3. Ngô Đức Thọ (1990), Thiền Uyển tập anh, Nxb Văn học, Bản ebook Tự viện Quảng Đức.
  4. Ngô Quốc Trưởng (2009), “Về bài kệ truyền pháp của Thiền sư Minh Hành Tại Tại”, Tập san Pháp Luân, số 67, tr. 89.

________________

Tiếng Trung (中文)

身世

据《敕建尊德塔券石》碑文记载,禅师法名明行,号在在,敕赐称号为“成等正觉大德禅师化身菩萨”。禅师姓何,江西省建昌府人,大明国(中国)。属于临济宗第三十二世(依智榜祖师传法偈:“智慧清净,道德圆明”)。明行禅师是**拙公和尚(圆文–拙拙)**最杰出的弟子,也是弘扬佛法的重要助手,尤其是在大越北方(当时称“唐外”)。

弘法历程

1630年,明行–在在禅师随拙公和尚及若干同门,从中国乘船至真腊(今柬埔寨),时女真(满清)攻打汉人(明朝)。在真腊弘化一段时间后,禅师与师父乘船前往唐中(越南中部),途经归仁、顺化。

随后北上至唐外(越南北方),曾驻锡于天象寺,该寺位于乂安省干禄县云舍社红岭山脉天象山半腰。其后,禅师与师父及弟子在泽林寺弘化。泽林寺位于清化镇宋山县泽林社(今清化省河中县),由阮氏玉秀夫人(清都王郑梉〔1623–1657〕的正妃)所建。今寺中尚供奉明行禅师与玉秀夫人之像。

《拙拙祖师语录》记载:

“时京城升龙(时称东京)有大商人阮齐,请师(即拙拙)赴京为父母作超度法事。师徒商议,师曰:‘此非我等之事,然若欲开权显实,则不得不往。’于是师徒同往京城。”

《敕建尊德券石碑》与《宁福禅寺三宝祭祀田碑》亦载:

“癸酉年德隆五年(1633),随师普觉禅师至大越京城弘法传教。”

临济宗在北方之弘传,得益于郑氏玉庵夫人(郑梉的嫔妃)及勇礼公郑楷之大力支持,他们为黎王与郑主之间的桥梁。

《拙拙祖师语录》载:

“时有德老太嫔,富而敬佛,求依师学道,并令三女皈依。未久,清王郑梉之弟勇礼公郑楷,慕师禅学,遣人迎师至府。问答之间,楷知师深通奥旨,辩才无碍,即拜为师,奉礼弟子。楷虽敬爱师,然犹以俗情试之。虽黄金之鞭举起,而马意不动,纤尘不染。由此始知师非常人。后楷更令女儿随师出家。”

明行–在在师徒最初弘化之地为看山寺,位于升龙京城西北之庆山。黎圣宗(1460–1479)时,常登此山阅武,因名“看山”。其后圣宗驾崩,阅武台改为祠,再修为寺。

继而,明行–在在禅师与师父移驻佛迹寺(万福),位于京北镇先游县佛迹山(烂柯山),距升龙京城东北约30公里。时上皇黎神宗、郑梉主、皇后郑氏玉竹及众嫔妃臣属皆来受教。黎王与郑主资助佛迹寺雕版印经,广布北方,此事由在在禅师主持。

郑梉主托拙公和尚遣人赴中国请大藏经,拙公命在在禅师前往。在在禅师将经请回东京,郑主命藏于佛迹寺。

1644年,师父圆寂,明行–在在禅师建报严塔以奉和尚金身。继任宁福寺住持后,又建报严塔于宁福寺以为纪念。塔高五层,顶尖如笔锋,远观如大毛笔,故俗称笔塔寺。1647年塔成,在在禅师请居士清源撰文刻碑,记拙公和尚功德,题为《显话报严塔碑铭》。

1645–1658年间,在在禅师或曾驻锡**华严寺(云延)**于安子山,因而研习大越竹林禅派典籍,融合竹林与临济二宗精华,形成北方临济宗之特色。

著名弟子

禅师真住–慧月,住持安子山文延寺。

陈氏玉庵(郑梉嫔妃),法号法界。

太后郑氏玉竹(黎神宗皇后,郑梉之女),皈依明行–在在禅师,法号法性,别号“金刚夫人”。

公主黎氏玉缘(玉竹与黎柱之女,黎柱卒后被立为黎神宗皇后),皈依明行–在在禅师,法号妙慧。

明行–在在禅师著作

《拙拙祖师语录》

《圣贤相若序》,书于庆德三年(1651)

《圣主贤臣颂》,书于庆德三年(1651)

《重刊净慈经序》,书于癸巳年(1653)

《敕建宁福禅寺碑记》

明行–在在禅师偈颂

明真如性谐

金相普照通

至道成正果

觉悟证真空

圆寂

己亥年三月二十五日(1659),明行–在在禅师于笔塔寺圆寂,享年64岁。其塔赐名尊德塔。弟子等又于三寺建尊德塔以祀:笔塔寺(京北)、泽林寺(清化)、文延寺(安子山华严)。

注释

[1] 真腊,又称Chenla、Zhenla(真腊/真臘),为高棉人国家,自约公元550年至802年存在于中南半岛南部,包括今柬埔寨与越南南部若干地区。

[2] 《拙拙祖师语录》系明行–在在禅师与慧进禅师以汉文编撰,记述拙拙禅师生平、弘法事迹与法语。

[3] 普觉:拙拙禅师圆寂后,弟子对师之称呼,亦为黎神宗所赐三美号之一:“普觉–广济–大德禅师肉身菩萨”。相对应,正觉指明行,弘觉指明义,满觉指明良,善觉指香海,广觉指真来,觉性指真安。

[4] 陈氏玉庵,清都王郑梉之第二嫔。原名陈氏居(1580–1647),籍贯兴安省金洞县武舍社。后赐国姓“郑”,民间称“木姑夫人”。

参考文献

  1. Nguyễn Đại Đồng, “Hành trình truyền bá tông Lâm Tế của Chuyết Chuyết ra Đàng Ngoài”, Giác ngộ online, ngày 05/10/2018.
  2. Thiền sư Minh Hành Tại Tại, Thiền sư Tuệ Tiến biên tập (2017), Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục, Nguyễn Quang Khải, Thích Nguyên Đạt dịch, Nxb Thanh Hóa.
  3. Ngô Đức Thọ (1990), Thiền Uyển tập anh, Nxb Văn học, Bản ebook Tự viện Quảng Đức.
  4. Ngô Quốc Trưởng (2009), “Về bài kệ truyền pháp của Thiền sư Minh Hành Tại Tại”, Tập san Pháp Luân, số 67, tr. 89.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Thiền sư Minh Hành - Tại Tại

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)