Thiền Sư Như Đông Đắc Quang (?-1947)

Thiền Sư Như Đông Đắc Quang (?-1947)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Hòa thượng người dòng họ Đặng, sinh năm 1876; nguyên quán xã Đức Phổ, Tổng Thuận Lý, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình.

Ngài tên thật là Đặng văn Khốn, sinh trong một gia đình thâm tín Tam bảo. Thân phụ là cụ Ông Đặng Văn Ngân (Ngạn), người tỉnh Quảng Bình vào Huế ở gần chùa Linh Mụ; sau đó lấy vợ và sinh hạ được ba người con trai, cả ba đều được cha mẹ cho xuất gia. Anh đầu là Hòa thượng Đắc Ân, anh kế là Hòa thượng Đắc Hậu và em út là Hòa thượng Đắc Quang.

Hòa thượng Đắc Quang được thân phụ cho xuất gia ở tuổi thiếu niên tại chùa Linh Mụ. Sau này ngài cầu pháp với Hòa thượng Thạnh Hy (tức Như Hán, tự Nguyên Cát) và được pháp danh là Như Đồng, tự Thanh Khốn, hiệu là Đắc Quang.

 
Ngài thọ Cụ túc giới ở giới đàn Báo Quốc do ngài Hải Thuận Diệu Giác làm Đàn đầu Hòa thượng.
Ngày mồng 8 tháng 2 năm Giáp Tuất (22.03.1934) được Bổn sư trao kệ đắc pháp:
Nguyên văn :                 
清 晃 道 法 廣 無 邊        
迷 悟 色 空 自 心 堅
日 夜 慇 勤 常 精 進         
堅 持 梵 行  得 真  傳
Phiên âm :
Thanh Khống đạo pháp quảng vô biên       
Mê ngộ sắc không tự tâm kiên
Nhật dạ ân cần thường tinh tấn                   
Kiên trì phạm hạnh đắc chân truyền.
Nguyên Hồng dịch:
Thanh không  đạo mầu rộng vô biên,
Sắc không, mê ngộ tự tâm chuyên.
Ngày đêm cố gắng thường tinh tiến,
Phạm hạnh kiên trì đắc pháp thiền.
Năm 1935, sau khi Hòa thượng Đắc Ân (Sư huynh, Tăng cang Linh Mụ, trú trì chùa Quốc Ân viên tịch, Sơn môn đề cử Ngài giữ chức Trú trì chùa Quốc Ân và năm 1936, Hội An Nam Phật học Trung Phần mời Ngài vào ngôi vị Chứng Minh Đại Đạo sư cho Hội.
 
Đương thời ngài là người thông minh, ham học, giới hạnh thanh tịnh, khoa nghi bái sám tinh thông. Ngài rất có uy tín trong sơn môn và sự kính nể của đương triều, bổn đạo trong và ngồi tỉnh qui y rất đông. Hòa thượng là người tu hành nghiêm cẩn. Ngài học Phật pháp với nhiều Đại sư danh tiếng trong các tổ đình nổi tiếng ở Huế như ngài Bửu Tích Tăng cang chùa Linh Mụ, Sư huynh Đắc Ân… Ngồi ra, Ngài cầu học nghi lễ với các Đại sư trong sơn môn, nhất là Sư huynh Đắc Ân, đương kim Trú trì chùa Quốc Ân lúc bấy giờ.
Hòa thượng là người có đời sống nội tâm rất phong phú, ai nói gì Ngài cũng “Mô Phật”; thích tu không ưa gây sự. Do giới hạnh, do học vấn uyên thâm và tinh thông khoa nghi Phật giáo, nên Ngài được Bộ Lễ và Sơn môn cử giữ chức Tăng cang chùa Linh Mụ và Trú trì chùa Quốc Ân sau khi Hòa thượng Đắc Ân viên tịch.
Trong thời gian giữ chức Tăng cang chùa Linh Mụ, thời cuộc lúc ấy có nhiều biến động. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, bao vây và đánh phá kinh thành Huế và vùng phụ cận; Ngài đã phải bao lần nhọc sức để lo cho hai Tổ đình được yên ổn. Sau đó, Ngài lại lo tu bổ Tổ đình, sửa sang tháp Tổ trong khuôn viên tổ đình, cố gắng lo đời sống cho Tăng chúng của hai Tổ đình được no ấm yên ổn tu hành.
Trong thời buổi khó khăn, Hòa thượng phải chạy vạy nuôi Tăng chúng cho đủ ngày ba bữa, nhưng kinh tế thì chỉ trông cậy vào một số ruộng cho làm thuê và của cúng dường của thập phương để trang trải cho kinh phí sinh hoạt cũng như tu sửa chùa, tháp không phải là đơn giản, nhưng Ngài đã cố gắng vượt qua tất cả.
Đương thời Hồ thượng là người giỏi về khoa nghi và tinh thông Phật Pháp nên đã độ được rất nhiều đệ tử xuất gia và tại gia. Trong đó hàng xuất gia có thể kể đến như  các vị: Thầy Mãn (tức Ht. Huyền Không), thầy Tề, thầy Huệ, thầy Khai, thầy Thứ, thầy Dẫn, thầy Nghệ (Pháp danh Hồng Nhị, tự Vĩnh Thừa hiệu Tín Nguyện), thầy Diệu Pháp danh Hồng Nhật tự Trí Minh hiệu Bửu Cảnh …

Do tuổi tác ngày càng cao, Phật sự quá nhiêu khê, gánh nặng hai vai đã bào mòn cơ thể, nên sức khỏe của Ngài đã giảm sút. Ngài đã quy Tây ở tuổi thất thập cổ lai hy vào năm 1947, trụ thế 70 tuổi.

Tháp của Ngài được lưu giữ ở Tổ Đình Quốc Ân, Huế, gần tháp ngài  Tế Chánh – Bổn Giác, bia tháp ghi : “Sắc tứ Thiên  Mụ Tăng Cang trùng hưng Quốc Ân tự chủ thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang Hòa thượng chi tháp”. Long vị chùa ghi : “Từ Lâm Tế tứ thập nhị thế Thiên Mụ tự Tăng Cang trùng hưng Quốc Ân tự thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang giáo thọ A-xà-lê chi Giác linh”.

Theo Thích Như Tịnh, Lịch Đại Tổ Sư trú trì chùa Quốc Ân, tạp chí Liễu Quán số 8

Thiền sư pháp danh Như Đông, hiệu Đắc Quang là bào đệ của Thiền sư Như Thông Đắc Ân. Ngài kế vị trú trì chùa Quốc Ân sau khi pháp huynh Như Thông Đắc Ân viên tịch.

Năm 1941, Ngài có mở Giới đàn tại chùa Quốc Ân. Giới đàn này ngài Trí Độ thọ Tỳ-kheo; ngài Trí Tịnh thọ Sa-di. Đến năm 1944, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại Giới đàn chùa Thiền Tôn, Huế.

Ngài viên tịch vào năm 1947, mộ tháp lập tại chùa, lòng long vị ghi: “嗣臨濟四十二世天慕寺僧倉重興國恩寺上如下東號得光教授阿闍黎師覺靈聳” (Tự Lâm Tế tứ thập nhị thế, Thiên Mụ tự Tăng cang, trùng hưng Quốc Ân tự thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang Giáo thọ A-xà-lê sư Giác linh nghê tòa).

Đệ tử của Ngài có các vị như: Hồng Chân tức Hòa thượng Thích Trí Độ, người có công rất lớn trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo; Hồng Cảnh Viên Dung Huyền Nghĩa (trú trì chùa Khánh Vân); Hồng Nam Hương Mãn Huyền Không (trú trì chùa Quốc Ân); Hồng Nhân Phát Huệ Huyền Vân (chùa Thiền Lâm)…v.v.

Nguồn: Thích Như Tịnh, Lịch Đại Tổ Sư trú trì chùa Quốc Ân, tạp chí Liễu Quán số 8.

5/5 (3 bình chọn)
Chia sẻ
Thiền Sư Như Đông Đắc Quang (0 1947)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)