Tiểu sử
Hòa thượng người dòng họ Đặng, sinh năm 1876; nguyên quán xã Đức Phổ, Tổng Thuận Lý, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình.
Ngài tên thật là Đặng văn Khốn, sinh trong một gia đình thâm tín Tam bảo. Thân phụ là cụ Ông Đặng Văn Ngân (Ngạn), người tỉnh Quảng Bình vào Huế ở gần chùa Linh Mụ; sau đó lấy vợ và sinh hạ được ba người con trai, cả ba đều được cha mẹ cho xuất gia. Anh đầu là Hòa thượng Đắc Ân, anh kế là Hòa thượng Đắc Hậu và em út là Hòa thượng Đắc Quang.
Hòa thượng Đắc Quang được thân phụ cho xuất gia ở tuổi thiếu niên tại chùa Linh Mụ. Sau này ngài cầu pháp với Hòa thượng Thạnh Hy (tức Như Hán, tự Nguyên Cát) và được pháp danh là Như Đồng, tự Thanh Khốn, hiệu là Đắc Quang.
Ngày mồng 8 tháng 2 năm Giáp Tuất (22.03.1934) được Bổn sư trao kệ đắc pháp:
清 晃 道 法 廣 無 邊
迷 悟 色 空 自 心 堅
日 夜 慇 勤 常 精 進
堅 持 梵 行 得 真 傳
Thanh Khống đạo pháp quảng vô biên
Mê ngộ sắc không tự tâm kiên
Nhật dạ ân cần thường tinh tấn
Kiên trì phạm hạnh đắc chân truyền.
Thanh không đạo mầu rộng vô biên,
Sắc không, mê ngộ tự tâm chuyên.
Ngày đêm cố gắng thường tinh tiến,
Phạm hạnh kiên trì đắc pháp thiền.
Do tuổi tác ngày càng cao, Phật sự quá nhiêu khê, gánh nặng hai vai đã bào mòn cơ thể, nên sức khỏe của Ngài đã giảm sút. Ngài đã quy Tây ở tuổi thất thập cổ lai hy vào năm 1947, trụ thế 70 tuổi.
Tháp của Ngài được lưu giữ ở Tổ Đình Quốc Ân, Huế, gần tháp ngài Tế Chánh – Bổn Giác, bia tháp ghi : “Sắc tứ Thiên Mụ Tăng Cang trùng hưng Quốc Ân tự chủ thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang Hòa thượng chi tháp”. Long vị chùa ghi : “Từ Lâm Tế tứ thập nhị thế Thiên Mụ tự Tăng Cang trùng hưng Quốc Ân tự thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang giáo thọ A-xà-lê chi Giác linh”.
Theo Thích Như Tịnh, Lịch Đại Tổ Sư trú trì chùa Quốc Ân, tạp chí Liễu Quán số 8
Thiền sư pháp danh Như Đông, hiệu Đắc Quang là bào đệ của Thiền sư Như Thông Đắc Ân. Ngài kế vị trú trì chùa Quốc Ân sau khi pháp huynh Như Thông Đắc Ân viên tịch.
Năm 1941, Ngài có mở Giới đàn tại chùa Quốc Ân. Giới đàn này ngài Trí Độ thọ Tỳ-kheo; ngài Trí Tịnh thọ Sa-di. Đến năm 1944, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại Giới đàn chùa Thiền Tôn, Huế.
Ngài viên tịch vào năm 1947, mộ tháp lập tại chùa, lòng long vị ghi: “嗣臨濟四十二世天慕寺僧倉重興國恩寺上如下東號得光教授阿闍黎師覺靈聳” (Tự Lâm Tế tứ thập nhị thế, Thiên Mụ tự Tăng cang, trùng hưng Quốc Ân tự thượng Như hạ Đông hiệu Đắc Quang Giáo thọ A-xà-lê sư Giác linh nghê tòa).
Đệ tử của Ngài có các vị như: Hồng Chân tức Hòa thượng Thích Trí Độ, người có công rất lớn trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo; Hồng Cảnh Viên Dung Huyền Nghĩa (trú trì chùa Khánh Vân); Hồng Nam Hương Mãn Huyền Không (trú trì chùa Quốc Ân); Hồng Nhân Phát Huệ Huyền Vân (chùa Thiền Lâm)…v.v.
Nguồn: Thích Như Tịnh, Lịch Đại Tổ Sư trú trì chùa Quốc Ân, tạp chí Liễu Quán số 8.