Thiền sư Vô Ngôn Thông (759 – 826)

Thiền sư Vô Ngôn Thông (759 – 826)

Thông tin cơ bản

Tổ khai sáng dòng Thiền Vô Ngôn Thông ở Việt Nam

Đời vua Đức Tông nhà Đường (780 – 832) quan tể tướng là Quyền Đức Dư(1) có đề bài tựa trong cuốn Truyền Pháp Lục, có viết một đoạn: “Sau khi tổ Tào Khê(2) tịch rồi, Thền tông thịnh hành, ở đâu cũng có tông phái truyền thống. Ở Giao Châu thì có Vô Ngôn Thông, đạo sĩ đem tôn chỉ của Bách Trượng thiền sư mà khai ngộ cho dân chúng”.(3)

Vô Ngôn Thông là người Quảng Châu, họ Trịnh, từ nhỏ đã mộ đạo, đến thụ nghiệp tại chùa Song Lâm ở Vũ Châu (một địa danh đời Đường, nay là huyện lỵ Vụ Xuyên, Quý Châu, Trung Quốc). Tính tình Sư trầm hậu, ít nói, im lặng mà biết, rõ hiểu mọi việc một cách tổng quát, cho nên người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông. 

Một ngày kia, khi đang lễ Phật, ngài gặp một vị thiền sư đến điểm hóa rồi đưa ngài đi tìm Mã Tổ Đạo Nhất(4)  xin học, nhưng đi được nửa đường thì hay tin Mã Tổ Đạo Nhất đã tịch bèn đến bái yết Bách Trượng thiền sư(5) (đệ tử của Mã Tổ) xin học. 

Trong một lần học Pháp, có một vị tăng đến hỏi Bách Trượng: “Con đường giác ngộ cấp thời của Ðại Thừa là gì?” Thiền sư Bách Trượng liền đáp: “tâm địa nhược thông, huệ nhật tự chiếu (Nếu tâm địa được thông thì mặt trời tự nhiên chiếu sáng)”. Nghe câu nói này Vô Ngôn Thông tự nhiên ngộ đạo. Sau đó, Vô Ngôn Thông trở về chùa Hòa An ở Quảng Châu, Trung Quốc làm trụ trì. 

Sách Cao Tăng Truyện (Tam Tập) của Thông Tuệ nói rằng ông cũng có một thời gian sư trụ trì chùa Hoa Nam ở Thiều Châu, nơi đây ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng đã từng cư ngụ.

Trong thời gian ở chùa Hoa Nam, ông có dạy thiền sư Ngưỡng Sơn học. Sách Thiền Uyển Tập Anh chép rằng một hôm Vô Ngôn Thông bảo Ngưỡng Sơn: “Chú khiêng cái ghế kia qua đây cho tôi một chút”. Khi Ngưỡng Sơn khiêng ghế tới, ông nói: “Chú khiêng giúp trở lại chỗ cũ”. Ngưỡng Sơn khiêng lại chỗ cũ. Ông hỏi Ngưỡng Sơn: “Bên này có gì không?” Sơn nói: “Không có gì”. Ông lại hỏi: “Còn bên kia có gì không?” Sơn nói: “Không có gì”. Ông gọi: “Chú ơi”. Sơn đáp: “Dạ!”. Ông bèn nói: “Thôi, chú đi đi!”.

Những câu đối đáp kia chính là để ông thử trình độ của Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn sau này còn đi học với Ðàm Nguyên, Ứng Chân và Quy Sơn, thành lập một trong năm thiền phái nổi tiếng ở Trung Hoa là thiền phái Quy Ngưỡng tông.(6)

Năm Canh Tý, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đời Đường (820), thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang Việt Nam, từ đó một thiền phái khác được thành lập mang tên thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài trú ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội. Ngài dành hết thời gian vào việc tu thiền, ngài tu thiền theo lối bích quán (nhìn vách tường), sống đời sống giản dị, lặng im tu thân. Nhiều năm trôi qua, chẳng mấy ai để ý đến Ngài, chỉ có duy nhất Lập Đức, một vị sư trong chùa thấy Ngài phong thái đặc biệt bèn hết lòng chăm sóc cho Vô Ngôn Thông. Cảm động trước lòng thành của sư Lập Đức, Ngài đã trao truyền pháp nhũ cho Lập Đức với pháp môn Đốn ngộ và tư tưởng Phật tại tâm, đổi hiệu thành Cảm Thành.  

Một hôm Ngài đòi đi tắm rửa sạch sẽ bèn gọi Cảm Thành đến căn dặn vài lời rồi chắp tay lại mà tịch. Cảm Thành làm lễ trà tỳ(7) thu xá lợi mang về núi Tiên Du xây tháp thờ. Ngài tịch vào ngày 12 tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Lịch thứ 2 đời Đường (826), trụ thế 68 năm.

Thiền phái Vô Ngôn Thông 

Nằm cách trung tâm Phật giáo Luy Lâu không xa nên tại vùng đất Gia Lâm Phật giáo du nhập vào từ rất sớm. Nơi đây có những ngôi chùa rất cổ, gắn với những sự kiện quan trọng của quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam, điển hình như chùa Kiến Sơ, Gia Lâm gắn với quá trình du nhập của thiền phái Vô Ngôn Thông vào Việt Nam.  

Thiền phái Vô Ngôn Thông du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ IX. Dòng thiền này trải qua 15 thế hệ và 38 thiền sư. Đây là thiền phái mang đậm sắc thái của Phật giáo Trung Quốc, khi vào xứ ta nó thích ứng với đời sống văn hóa bản địa nên không gặp trở ngại mà còn phát triển mạnh mẽ qua nhiều thế hệ. 

Trong cuốn Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam, Thích Mãn Giác viết:“Thiền phái này chủ trương tính Phật trùm khắp và tư tưởng “Tâm, Phật, chúng sinh” cả 3 không khác nhau, thực hành thiền quán nhìn vách, vận dụng phương pháp hiện thành công án và thể nghiệm của Thiền tông Trung Quốc, là một trong các Thiền phái quan trọng của Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ đầu”(8).

Ta có thể thấy Thiền phái này mang đậm dấu ấn Thiền học Trung Hoa với tư tưởng chân lý ở ngay trong lòng mình, Phật tại tâm. Chân lý đó con người có thể tu chứng trực tiếp, chứ không cần nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự. Thiền phái Vô Ngôn Thông chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Đó chính là pháp môn Đốn ngộ mà Lục Tổ Huệ Năng(9) đã đề ra trước đó. 

Tư tưởng của Thiền phái này được biểu hiện ở việc tổ chức tu viện, sử dụng thoại đầu, và nhấn mạnh đến nguyên tắc Vô Đắc trong các kinh sách. 

Vô đắc là không có đối tượng của sự giác ngộ. Trước hết, nó có nghĩa là sự giác ngộ không thể do một ai khác trao truyền cho mình, mà mình phải thực hiện lấy. Đây là phương pháp thiền quán trong đó người hành giả không chạy theo một đối tượng gọi là sự giác ngộ. Ở đây thiền quán, không có người trao truyền và kẻ được trao truyền. Nhưng ở đây cũng không có chủ thể thiền quán và đối tượng thiền quán. Chủ thể và đối tượng là một: giác ngộ cũng giống như một khả năng chiếu rọi sẵn có trong một bức gương; không cần phải đi tìm ngoài tự tâm mình. 

Thoại đầu là một câu hay một mẫu đối thoại có tác dụng thúc đẩy hay làm phát khởi sự đạt ngộ nơi tâm tư người thiền giả. Nó như một con sào do thiền sư đưa ra để người đệ tử nắm bắt, có khi bắt được, có khi không bắt được. Mỗi khi “bước trượt qua” là người đệ tử phải quay về với đời sống thường nhật để gia tăng công phu. 

Phương pháp “ Đốn ngộ”, thiền Vô Ngôn Thông khuyến khích các biện pháp tu chứng, tự cá nhân giác ngộ bằng “thiền định”. “ vô đắc”, “ đạt ngộ” thì tâm là Phật, pháp cũng là Phật. Do đó mà phương pháp thiền này coi trọng thực tế, nhập thế nên ảnh hưởng lớn tới xã hội. Thiền Vô Ngôn Thông tạo cơ sở để người đời gọi Phật giáo là Thiền giáo, gọi tu Phật là tu thiền, gọi sư tăng là Thiền sư.

Dòng thiền Vô Ngôn Thông dù xuất hiện muộn hơn so với dòng phái khác ở Việt Nam nhưng thể hiện vai trò quan trọng của tông phái này đối với chính trị, xã hội và văn hóa của đất nước trải dài từ  thế kỷ VIII đến thế kỷ XII. Hòa nhập vào các dòng thiền khác điển hình là thiền phái Trúc Lâm của Trần Nhân Tông

Đây là dòng thiền rất được coi trọng vào thời tiền Lê, Lý. Các nhà sư ở giai đoạn này thể hiện tinh thần “nhập thế” cực mạnh đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, họ đưa ra những ý kiến đóng góp quyết định tới vận mệnh quốc gia.

Trên lĩnh vực văn hóa, sáng tác của các thiền sư dòng Vô Ngôn Thông đã góp phần hình thành nên nền văn học trung đại Việt Nam mang đậm dấu ấn Phật giáo. Các sáng tác, kinh kệ của các thiền sư đã trở thành triết lý sống cho đời sau. 

Qua đó ta có thể khẳng định rằng Vô Ngôn Thông và dòng thiền của ông có những đóng góp rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển Phật giáo nước nhà. 

Chú thích

  • (1). Quyền Đức Dư 權德輿 (759-818) tự Tải Chi 載之, người Lược Dương, Thiên Thuỷ (nay là huyện Tân An, tỉnh Cam Túc, có thuyết nói là huyện Lược Dương, tỉnh Thiểm Tây), nhà ở Đan Dương, Giản Châu (nay là huyện Đan Dương, tỉnh Giang Tô). Ông từng làm quan đến Lễ bộ thị lang đồng Bình chương sự (Tể tướng), nhưng do không hợp với Lý Lâm Phủ 李林甫 nên bị biếm làm Tiết độ sứ Sơn nam tây đạo.
  • (2).  Tức Lục tổ Huệ Năng.
  • (3).  Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược,Nxb Minh Đức, tr.92. Trong sách này, câu “Thuyền-tôn-thạnh-hành” theo chúng tôi là phương ngữ Nam bộ của “Thiền tông thịnh hành”.
  • (4).  Mã Tổ Đạo Nhất ( 馬祖道  709-788) (mất năm Mậu Thìn), là một Thiền sư Trung Quốc đời nhà Đường, và là môn đệ và người đắc pháp xuất sắc nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư và Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên là hai vị pháp chủ bao quát khắp Thiền Tông Trung Quốc thời bấy giờ và có ảnh hưởng rất sâu rộng đến sự hưng thịnh của Thiền Tông sau này.
  • (5). Bách Trượng Hoài Hải (749 – 814) là học trò của Mã Tổ. Sư người Trường Lạc, Phúc Châu. Sau khi đắc pháp với Mã Tổ rồi, bèn đến tại núi Đại Hùng ở Hồng Châu, vì ở ngọn núi này cao dốc nên cũng gọi là Bách Trượng. Ở Trung Quốc, Hải được coi như là vị thầy của hai người học trò đã khai sinh ra hai phái thiền lớn của Trung Quốc, đấy là Linh Hựu ở Quy Sơn, người đã cùng với học trò mình là Huệ Tịch ở Ngưỡng Sơn khai sinh ra phái thiền Quy Ngưỡng, và Hy Vận ở Hoàng Bá, người đã dạy cho học trò mình là Nghĩa Huyền ở Lâm Tế thành lập nên phái thiền Lâm tế. Ở đây, ta có thể nói Hải còn có một người  học trò thứ ba cũng khai sinh ra một thiền phái lớn khác ngoài đất Trung Quốc, đấy là thiền phái Kiến sơ của Vô Ngôn Thông ở Việt Nam.
  • (6). Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tr.123, Nxb Văn học
  • (7). Trà tỳ, cũng gọi là Xà duy, là những phiên âm của chữ Phạn savya, nghĩa là sự đốt xác người sau khi chết, tức hỏa táng. Xá lợi, phiên âm của chữ phạn sàrìra, chỉ cho số xương cốt còn lại sau khi đốt, mà người ta thường gọi là linh cốt của đức Phật và các vị tổ.
  • (8). Thích Mãn Giác (1967), Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam, Ban tu thư đại học Vạn Hạnh.
  • (9). Lục Tổ Huệ Năng, là một vị Thiền sư vĩ đại trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa. Sư kế tiếp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, trở thành vị Tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Mạnh Thát (1337),Thiền uyển tập anh, Nxb Đại học Vạn Hạnh. 
  2. Nguyễn Lang (1973), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn học. 
  3. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Nxb Tôn giáo học. 
  4. Thích Mãn Giác (1967), Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam, Ban tu thư đại học Vạn Hạnh.

 

5/5 (2 bình chọn)

Địa điểm liên quan

Chia sẻ
Thiền Sư Vô Ngôn Không

Nội dung chính

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner App ChỐn ThiÊng 3 (60x90)