Thân thế
Phạm Bỉnh Di là hoạn quan triều Lý, sống dưới thời vua Lý Cao Tông. Không rõ năm sinh của ông và quê quán, chỉ biết ông có một người con là Phạm Phụ. Ông được vua Cao Tông phong là Thượng phẩm Phụng ngự sai đem quân đánh Phạm Du. Sau này ông bị gièm pha, bị Cao Tông giết hại. Bộ tướng của ông là Quách Bốc khởi binh đánh vào kinh thành khiến cho Cao Tông phải chạy lên Quy Hóa. Sự kiện này đánh dấu sự suy thoái về quyền lực của hoàng đế nhà Lý và mở đầu cho việc diệt vong sau này.
Khuyên vua việc thổ mộc
Phạm Bỉnh Di có lẽ đã là hoạn quan hầu cận vua Lý Cao Tông trước năm 1203, bởi vậy khi vua xây đền đài cung điện, Bỉnh Di mới có thể khuyên vua đốc thúc làm việc.
Năm Quý Hợi (1203) vua Lý Cao Tông dốc tiền của để xây cất thêm một lúc đến gần hai chục cung điện và thềm, gác, tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Trong số những công trình kiến tạo vào năm này, có gác Kính Thiên. Gác vừa xây cất xong thì cũng có ngay một mẩu chuyện, tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm xôn xao cả triều đình.
Sách Đại Việt sử lược chép: “Lúc trước, khi gác Kính Thiên mới làm xong, có con chim bồ các đến làm tổ ở trên đó mà đẻ ra chim non. Quần thần nhân việc đó mà can vua rằng:
– Xưa, Ngụy Minh Đế mới xây gác Lăng Tiêu, có con chim bồ các đến làm tổ, Cao Đường Long nói rằng, Kinh thi có câu “chim bồ các làm tổ, chim tu hú đến ở”. Nay cung thất mới làm xong mà chim bồ các đã đến làm tổ, thần ngu hèn cho rằng có họ khác đến ở đó. Thần xin bệ hạ xem lời nói của Cao Đường Long, trước cốt sửa mình tu đức, sau hãy khởi công xây dựng mới là phải.
Vua nín lặng hồi lâu rồi hỏi hoạn quan là Phạm Bỉnh Di. Phạm Bỉnh Di nói :
– Gác mới làm mà chim bồ các đến làm tổ đẻ con, đó là điềm trời ban cho bệ hạ được dòng dõi trăm đời.
Vua được đẹp lòng, sai sửa sang điện gác mau chóng, trăm họ vì thế mà khốn khổ”.
Mâu thuẫn với đồng liêu
Mùa thu, tháng 3 năm 1207, Đoàn Thượng và Đoàn Chủ làm phản. Vua Lý Cao Tông lệnh cho các tướng dẫn đại binh tiến đánh. Đàm Dĩ Mông được giao chỉ huy đạo Đại Thông; Bảo Trinh hầu xuất phát từ đạo Nam Sách; quan Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Bỉnh Di dẫn quân ở đạo Khả Liểu; còn quan Chi hậu Hỏa đầu Trần Hinh xuất phát từ đạo Phù Đái. Các cánh quân được bố trí theo nhiều hướng và đang chuẩn bị hợp lực tấn công.
Trong lúc đó, Đoàn Thượng bí mật cho người mang của đút lót quan Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Du, cầu xin ông tìm cách làm đại quân rút về. Nhận lời, Phạm Du hết sức tâu xin, và cuối cùng được vua chấp thuận, sai sứ truyền lệnh cho Đàm Dĩ Mông cùng các đạo quân rút lui. Nhờ vậy, Đoàn Thượng mới thoát khỏi thế bị đánh bủa vây.
Từ sự việc ấy, giữa Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di và Phạm Du nảy sinh hiềm khích, mối quan hệ giữa các tướng trở nên bất hòa về sau.
Dẹp loạn Phạm Du
Nhà vua cử Phạm Du làm Tri châu Nghệ An, giao ông nắm giữ việc quân trong vùng. Khi nhận nhiệm vụ, Phạm Du tâu với vua rằng thời cuộc đang vô cùng rối ren, giặc cướp nổi lên khắp nơi như ong vỡ tổ. Ông lo ngại trong đám người theo mình có kẻ vì tư thù riêng mà gây biến loạn, đến mức ngay cả tính mạng của ông cũng không thể giữ nổi, huống chi là bảo toàn ân đức của nhà vua. Vì vậy, ông xin được tự tuyển chọn những người khỏe mạnh, dũng mãnh để lập lực lượng tự bảo vệ. Nhà vua cho rằng lời tâu ấy hợp lý nên chấp thuận.
Nhờ được trao quyền, Phạm Du bắt đầu chiêu nạp những kẻ vong mệnh, tập hợp cả bọn cướp bóc và công khai kêu gọi rằng cứ việc đi cướp phá mà không cần sợ hãi điều gì. Chính vì thế, giặc cướp trong vùng càng nổi lên ồ ạt. Cùng lúc đó, bọn Quốc Oai cũng dẫn đồ đảng đến đóng ở Tây Kết; nhóm người ở trại Văn Lôi ven sông Đà Mạc (còn gọi là Tha Mạc) cũng tụ tập đông đảo. Đường sá từ đó bị cắt đứt, ghe thuyền không thể qua lại.
Trước tình hình nghiêm trọng, nhà vua sai Thượng phẩm Phụng ngự Phạm Bỉnh Di đem quân Đằng Châu đến ngăn chặn giặc. Tuy nhiên, Phạm Du lại kéo quân về làng Cổ Miệt và liên kết với lực lượng vùng Hồng của Đoàn Thượng và Đoàn Chủ, hợp binh đánh vào Đằng Châu. Quân Đằng Châu nhiều lần xin Phạm Bỉnh Di cho tấn công Phạm Du nhưng đều thất bại, buộc phải rút về.
Tháng 1 năm 1209, Phạm Bỉnh Di một lần nữa huy động quân Đằng Châu và Khoái Châu đánh Phạm Du nhưng liên tiếp thua trận. Tức giận trước sự nhu nhược và bỏ chạy của binh lính, ông đã chém những kẻ đào ngũ để răn đe. Sang trận sau, quân của Phạm Bỉnh Di giành được thắng lợi, buộc Phạm Du phải bỏ chạy sang vùng khác. Nhân đó, Phạm Bỉnh Di tịch thu nhà cửa của Phạm Du rồi đốt phá, khiến mối thù giữa hai người ngày càng sâu sắc.
Tháng 3 năm 1209, Phạm Bỉnh Di lại đánh Đoàn Thượng và Đoàn Chủ tại Vệ Kiều. Người vùng Hồng thua tan, Đoàn Chủ bị hãm ở chỗ bùn lầy và bị Hà Văn Lôi đâm chết. Loạn Phạm Du về cơ bản được dẹp yên.
Cái chết
Sau khi dẹp xong loạn Phạm Du, tháng 7 năm 1209, vua Lý Cao Tông trước đó đã sai quan Chi hậu Phụng ngự Trần Hinh đi gọi Phạm Du trở về kinh sư. Đến mùa thu, tháng bảy Phạm Bỉnh Di cũng vào triều để dâng trình nhiều việc quan trọng. Tuy nhiên, khi vừa đến kinh, có người đã chặn ông lại và cảnh báo rằng nhà vua vốn đã nghe lời Phạm Du gièm pha nên vẫn còn giận, e rằng ông gặp nguy hiểm.
Phạm Bỉnh Di vẫn kiên quyết tiến vào. Ông nói rằng mình đã một lòng trung với chúa thượng, chẳng lẽ lại chịu để người khác đặt điều khiến vua hiểu lầm. Huống hồ, đã có lệnh vua triệu thì ông còn biết trốn tránh vào đâu. Vì vậy, ông bình thản đi thẳng vào triều.
Vừa vào, Phạm Bỉnh Di lập tức bị bắt. Con trai ông là Phạm Phụ cũng bị bắt giam tại thủy viện. Tin dữ truyền ra khiến bộ tướng của ông là Quách Bốc nổi giận, lập tức đem quân đánh phá cửa thành, tìm cách xông vào cứu chủ. Tình thế trở nên nguy cấp khiến nhà vua buộc phải cho triệu Bỉnh Di vào Lương Thạch xứ, một tảng đá đặt ở thềm Kim Tinh, vốn là nơi ngồi hóng mát.
Không lâu sau, Phạm Du cùng em trai là Kinh từ ngự đường đi ra, tay cầm binh khí trong kho vua. Ngay tại đó, chúng giết chết Phạm Bỉnh Di và Phạm Phụ. Biết tin chủ tướng đã tử vong, Quách Bốc càng phẫn nộ. Ông sai quân đột nhập Lương Thạch xứ, lấy xe Cân xa – vốn là xe dùng cho vua – để khiêng thi thể Phạm Bỉnh Di; đồng thời lấy chiếu của vua để bọc thây Phạm Phụ. Sau đó, quân của Quách Bốc đưa cả hai thi thể ra khỏi thành bằng cửa Việt Thành, rồi khiêng xuống bến Triều Đông.
Triều Lý sau cái chết của Phạm Bỉnh Di
Sau cái chết của Phạm Bỉnh Di và loạn Quách Bốc, triều Lý ngày càng xuống dốc không phanh. Sự nổi lên của các thứ lực quân phiệt như Trần Tự Khánh, Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn đã khiến cho tình hình đất nước ngày càng rối ren. Nhất là sau khi Lý Huệ Tông lên ngôi thì tình hình càng thêm rối loạn. Các cuộc tranh giành đấu đá xảy ra ngày càng nhiều, các thế lực quân phiệt đánh nhau để tranh giành ảnh hưởng. Thêm vào đó giặc cướp các địa phương cũng nổi lên, tình hình đất nước vô cùng hỗ loạn. Cuối cùng họ Trần dưới sự lãnh đạo của Trần Thừa và Trần Thủ Độ đã thực hiện một cuộc chính biến, để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh từ đó kết thúc 215 năm trị vì của triều Lý.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Thuong pham Phung ngu Pham Binh Di
Background
Pham Binh Di was a eunuch of the Ly dynasty, serving during the reign of King Ly Cao Tong. His exact birth year and native place are unknown; it is only recorded that he had a son named Pham Phu. King Cao Tong granted him the title Thuong pham Phung ngu and ordered him to lead troops against Pham Du. Later, due to slanderous accusations, he was executed by the king. His subordinate general, Quach Boc, then raised an army and attacked the capital, forcing Cao Tong to flee to Quy Hoa. This event marked the decline of royal authority under the Ly dynasty and set the stage for its eventual demise.
Advising the King on Construction Works
Pham Binh Di was likely a close palace attendant to King Ly Cao Tong even before 1203. Thus, when the king began constructing grand palaces and pavilions, Binh Di was in a position to encourage and supervise the work.
In the year Quy Hoi (1203), King Ly Cao Tong extravagantly invested state resources to build nearly twenty palaces, halls, and towers at once, consuming an enormous amount of wealth. Among the structures erected that year was the Kinh Thien Pavilion. Upon its completion, a seemingly trivial incident quickly caused anxiety throughout the court.
Viet su luoc records:
“When the Kinh Thien Pavilion had just been built, a magpie settled there and laid eggs. The court officials used this omen to admonish the king:
‘In ancient times, when Wei Mingdi built the Lang Tieu Pavilion, a magpie nested there, and Gao Duong Long interpreted it using a verse from the Book of Songs—“The magpie builds its nest, and the cuckoo comes to dwell in it.” Now a magpie nests in the newly constructed pavilion; we fear this portends another clan coming to occupy it. We beseech Your Majesty to heed Gao Duong Long’s words—first cultivate virtue and self-restraint, then undertake construction.’
The king remained silent for a while and then consulted the eunuch Pham Binh Di. Binh Di replied:
‘The pavilion is newly built, and already a magpie nests and lays eggs—this is Heaven’s sign that Your Majesty’s lineage shall continue for a hundred generations.’
Pleased by these words, the king ordered further expansion of the palaces, causing great hardship for the populace.”
Conflict with Fellow Officials
By autumn of the third month, 1207, Doan Thuong and Doan Chu rebelled. King Ly Cao Tong ordered several generals to lead forces against them. Dam Di Mong commanded the Đại Thong corps; Bao Trinh hau advanced from Nam Sach; Thuong pham Phung ngu Pham Binh Di led the Kha Lieu forces; and Chi hau Hoa dau Tran Hinh advanced from Phu Dai. These armies were coordinated to converge on the rebels.
Meanwhile, Doan Thuong secretly bribed Thuong pham Phung ngu Pham Du, asking him to persuade the king to recall the troops. Pham Du pleaded repeatedly until the king consented, ordering Dam Di Mong and other armies to withdraw. This withdrawal saved Doan Thuong from destruction.
From this incident, resentment grew among Dam Di Mong, Pham Binh Di, and Pham Du, leading to prolonged discord.
Suppressing the Pham Du Rebellion
The king later appointed Pham Du as Tri chau of Nghe An, granting him military authority. Pham Du argued that the situation was chaotic, with bandits rampant; he feared that personal enemies among his followers might harm him. He thus requested permission to recruit strong men for a personal guard. The king approved.
Empowered, Pham Du gathered lawless men, even bandits, openly telling them to plunder without fear. Consequently, disorder intensified. Forces from Quoc Oai gathered at Tay Ket; another group assembled at Van Loi near the Da Mac River. Roads were blocked and river traffic halted.
In response, the king ordered Thuong pham Phung ngu Pham Binh Di to lead Dang Chau troops to suppress the disorder. However, Pham Du retreated to Co Miet village and allied with forces from the Hong region under Doan Thuong and Doan Chu, then attacked Dang Chau. Binh Di’s troops repeatedly requested to strike first but were defeated and forced to withdraw.
In the first month of 1209, Pham Binh Di again mobilized troops from Dang Chau and Khoai Chau to attack Pham Du but suffered setbacks. Angered by his soldiers’ cowardice, he executed deserters as punishment. In the following battle, his forces won, forcing Pham Du to flee. Pham Binh Di confiscated and burned Pham Du’s residence, deepening their enmity.
By the third month of 1209, Binh Di defeated Doan Thuong and Doan Chu at Ve Kieu. The Hong forces were routed; Doan Chu was trapped in a muddy marsh and killed by Ha Van Loi. The Pham Du rebellion was largely quelled.
Death
After quelling the rebellion, the king sent Chi hau Phung ngu Tran Hinh to summon Pham Du back to the capital. In the seventh month of 1209, Pham Binh Di also entered the capital to present important matters. Upon arrival, he was warned that the king—swayed by Pham Du’s slander—remained angry and might harm him.
Binh Di insisted on proceeding, declaring that he had always served loyally and should not fear baseless accusations, especially when summoned by royal order.
Upon entering, he was immediately arrested. His son Pham Phu was also imprisoned. Outraged, his subordinate Quach Boc mobilized troops to storm the capital and rescue him. The situation became dire, and the king moved Binh Di to Luong Thach xu, a stone platform at the Kim Tinh court.
Soon after, Pham Du and his brother Kinh emerged from the inner palace, armed with weapons from the royal arsenal. There, they murdered Pham Binh Di and Pham Phu.
Hearing of his lord’s death, Quach Boc grew even more furious. He ordered his troops to seize the royal Can xa (the king’s ceremonial carriage) to transport Binh Di’s body, and wrapped Pham Phu’s body in the king’s mat. They exited the city through Viet Thanh Gate and carried the corpses to Trieu Dong Wharf.
The Ly Dynasty After Pham Binh Di
After the death of Pham Binh Di and the Quach Boc uprising, the Ly dynasty rapidly deteriorated. Regional warlords such as Tran Tu Khanh, Doan Thuong, and Nguyen Non rose to power, plunging the country into turmoil. Under Ly Hue Tong, disorder worsened as factional struggles multiplied. Banditry spread unchecked.
Ultimately, under Tran Thua and Tran Thu Do, the Tran clan staged a coup, compelling Ly Chieu Hoang to abdicate in favor of Tran Canh, ending the Ly dynasty’s 215-year rule.
References
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Pháp
Thuong pham Phung ngu Pham Binh Di
Origines
Pham Binh Di est un eunuque de la cour des Ly, sống sous le règne du roi Ly Cao Tong. On ne connaît ni son année de naissance ni son lieu d’origine ; seulement qu’il eut un fils nommé Pham Phu. Il fut nommé Thuong pham Phung ngu par le roi Cao Tong et fut envoyé avec les troupes pour combattre Pham Du. Plus tard, victime de calomnies, il fut mis à mort par Cao Tong. Son subordonné Quach Boc leva alors une armée et attaqua la capitale, forçant Cao Tong à fuir vers Quy Hoa. Cet événement marqua le déclin du pouvoir impérial des Ly et ouvrit la voie à la chute de la dynastie.
Conseils au roi sur les travaux de construction
Pham Binh Di semble avoir été un eunuque proche du roi Ly Cao Tong avant l’année 1203. C’est pourquoi, lorsque le roi fit construire des palais et pavillons, il se permit de lui conseiller personnellement de hâter les travaux.
En l’an Quy Hoi (1203), Ly Cao Tong dépensa une immense quantité de richesses pour édifier près de vingt palais, terrasses et pavillons, à des coûts incalculables. Parmi ces constructions se trouvait le pavillon Kinh Thien. À peine achevé, un événement mineur mais marquant laissa toute la cour dans l’agitation.
Le Dai Viet su luoc rapporte :
« Au moment où le pavillon Kinh Thien venait d’être terminé, une pie y fit son nid et y pondit des œufs. Les courtisans profitèrent de cet événement pour avertir le roi :
— Autrefois, lorsque Wei Mingdi fit construire le pavillon Lang Tieu, une pie y fit son nid. Cao Duong Long cita alors le Shi Jing : “La pie bâtit le nid, le coucou vient s’y loger”. Maintenant, le palais vient d’être construit et une pie y fait déjà son nid ; votre serviteur, bien que peu instruit, pense que cela annonce l’arrivée d’une autre famille. Je supplie Votre Majesté de méditer les paroles de Cao Duong Long : d’abord cultiver la vertu, ensuite seulement entreprendre de nouveaux travaux. »
Le roi resta silencieux un moment puis interrogea l’eunuque Pham Binh Di. Celui-ci répondit :
— Le pavillon vient d’être construit et une pie y fait son nid–c’est un signe céleste annonçant à Votre Majesté une descendance prospère pour cent générations.
Le roi, ravi, ordonna d’accélérer les travaux des palais, au grand malheur du peuple. »
Conflits avec ses pairs
À l’automne, au troisième mois de l’année 1207, Doan Thuong et Doan Chu se révoltèrent. Ly Cao Tong ordonna aux généraux de réunir une grande armée pour les réprimer. Dam Di Mong commanda l’armée du Dai Thong ; Bao Trinh hau partit du Dao Nam Sach ; Thuong pham Phung ngu Pham Binh Di dirigea les troupes du Dao Kha Lieu ; tandis que Chi hau Hoa dau Tran Hinh partit du Dao Phu Dai. Les forces étaient dispersées sur plusieurs directions et se préparaient à se rejoindre pour attaquer.
Pendant ce temps, Doan Thuong soudoya Pham Du, Thuong pham Phung ngu, afin qu’il obtienne auprès du roi l’ordre de faire replier l’armée. Pham Du réussit à convaincre Ly Cao Tong, qui ordonna à Dam Di Mong et aux autres troupes de se retirer. Grâce à cela, Doan Thuong échappa à l’encerclement.
Cet épisode provoqua un profond ressentiment entre Dam Di Mong, Pham Binh Di et Pham Du, et leurs relations se détériorèrent durablement.
La répression de la révolte de Pham Du
Le roi nomma Pham Du Tri chau Nghe An, chargé du commandement militaire dans la région. Pham Du déclara que l’époque était troublée, que les bandits surgissaient partout comme un essaim d’abeilles dispersé, et qu’il craignait qu’un ennemi personnel parmi ses hommes n’attente à sa vie. Il demanda la permission de recruter lui-même des hommes robustes pour former une garde personnelle. Le roi jugea la requête raisonnable et l’accepta.
Ayant obtenu ces pouvoirs, Pham Du commença à enrôler hors-la-loi et bandits, leur promettant qu’ils pouvaient piller sans crainte. L’insécurité se répandit rapidement. Dans le même temps, la bande de Quoc Oai se rassembla à Tay Ket, et les groupes du camp Van Loi, près de la rivière Da Mac (Tha Mac), se regroupèrent en masse. Les routes furent coupées, les bateaux ne circulaient plus.
Devant la gravité de la situation, le roi envoya Thuong pham Phung ngu Pham Binh Di avec les troupes de Dang Chau pour réprimer les troubles. Mais Pham Du se retira au village Co Miet et s’allia aux forces de Doan Thuong et Doan Chu dans la région de Hong, puis attaqua Dang Chau. Les troupes de Dang Chau demandèrent plusieurs fois à Pham Binh Di de lancer l’assaut mais échouèrent et durent se replier.
En janvier 1209, Pham Binh Di mobilisa encore les troupes de Dang Chau et Khoai Chau pour attaquer Pham Du, mais fut mis en déroute à plusieurs reprises. Irrité par la lâcheté et la fuite de ses soldats, il fit exécuter les déserteurs pour donner l’exemple. Lors de l’affrontement suivant, ses forces remportèrent la victoire et Pham Du dut fuir. Pham Binh Di en profita pour confisquer et incendier les biens de Pham Du, aggravant leur inimitié.
En mars 1209, Pham Binh Di affronta Doan Thuong et Doan Chu à Ve Kieu. Les forces de Hong furent vaincues ; Doan Chu, englué dans la boue, fut tué par Ha Van Loi. La révolte de Pham Du était essentiellement réprimée.
La mort
Après la pacification de la révolte, en juillet 1209, Ly Cao Tong avait envoyé Tran Hinh convoquer Pham Du à la capitale. À l’automne, au septième mois, Pham Binh Di se rendit également à la cour pour rendre compte de plusieurs affaires. À peine arrivé, il fut averti que le roi, influencé par les calomnies de Pham Du, lui en voulait encore et que sa vie était menacée.
Pham Binh Di décida néanmoins d’entrer. Il affirma qu’il avait toujours servi le souverain avec loyauté et qu’il ne pouvait fuir un ordre royal. Il se rendit donc sereinement au palais.
Dès son entrée, il fut arrêté. Son fils Pham Phu fut également emprisonné. La nouvelle provoqua la colère de Quach Boc, qui marcha aussitôt avec ses troupes sur la capitale pour libérer son maître. La situation devint si critique que le roi fit conduire Pham Binh Di au Luong Thach xu, un rocher situé sur la terrasse Kim Tinh, utilisé comme lieu de repos.
Peu après, Pham Du et son frère Kinh sortirent du palais, portant des armes prises dans l’armurerie royale. Ils assassinèrent Pham Binh Di et Pham Phu sur place. Lorsque Quach Boc apprit la mort de son commandant, sa fureur redoubla. Ses hommes pénétrèrent dans le Luong Thach xu, prirent le Can xa—le véhicule réservé au roi—pour transporter le corps de Pham Binh Di, et enveloppèrent le corps de Pham Phu dans une natte du roi. Les deux dépouilles furent sorties de la capitale par la porte Viet Thanh et transportées jusqu’au quai Trieu Dong.
La dynastie Ly après la mort de Pham Binh Di
Après la mort de Pham Binh Di et la révolte de Quach Boc, la dynastie Ly s’enfonça dans un déclin irrémédiable. L’ascension de forces militaires régionales telles que Tran Tu Khanh, Doan Thuong et Nguyen Non plongea le pays dans le chaos. Sous le règne de Ly Hue Tong, la situation se dégrada encore davantage. Les luttes de pouvoir se multiplièrent, les forces seigneuriales se combattirent pour l’influence, tandis que les bandits proliféraient partout.
Finalement, la famille Tran, dirigée par Tran Thua et Tran Thu Do, organisa un coup d’État, forçant Ly Chieu Hoang à céder le trône à Tran Canh, mettant ainsi fin à 215 ans de règne de la dynastie Ly.
Références
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Trung
上品奉御范秉彝(Pham Binh Di)
身世
范秉彝(Pham Binh Di)是李朝时期的一名宦官,生活在李高宗统治年代。他的出生年份与籍贯已不可考,只知他有一子名为范傅(Pham Phu)。李高宗曾封他为“上品奉御”,并命其率兵讨伐范瑜(Pham Du)。其后,他遭人谗毁,被李高宗杀害。其部将郭卜(Quach Boc)因不服而举兵攻入京城,使李高宗不得不逃往归化。此事标志着李朝皇权衰落,并成为后来王朝灭亡的开端。
劝谏土木工程
范秉彝大概在1203年以前就已侍奉李高宗,因此当李王大兴土木,建造宫殿楼阁时,范秉彝才能劝谏并督促工役。
癸亥年(1203),李高宗倾尽财力,一次兴建近二十处宫殿、台阁,耗费巨万。其中包括新建的景天阁。阁成之际,宫廷内便发生一件虽小却引起轰动的怪事。
《大越史略》记载:
“先是,景天阁新成,有鹁鸽来巢其上而生雏。群臣因以为谏曰:
——昔魏明帝新作凌霄阁,有鹁鸽来巢,高堂龙因引《诗经》云‘鹁鸽在桑,其子在榛’,意谓他族将来居之。今宫室甫成而鹁鸽来巢,臣以为他姓将来取代。愿陛下观高堂龙之言,先修德行,后兴土木。”
李王默然良久,询问宦官范秉彝之见。范秉彝答曰:
——“阁新成而鹁鸽来巢生子,这是上天赐予陛下子孙绵延之兆。”
李王大悦,于是更加速修缮宫殿,使百姓因此更加困苦。
与同僚的矛盾
1207年秋三月,段尚(Doan Thuong)与段主(Doan Chu)作乱。李高宗命诸将进兵讨伐。谭以蒙(Dam Di Mong)领大通军;保贞侯自南策出兵;上品奉御范秉彝率军于可了道;持后火头陈馨(Tran Hinh)则从扶袋道出发,诸路兵马准备合击。
段尚暗中以贿赂求范瑜(Pham Du)替其求情,使大军退师。范瑜屡次奏请,李王终许之,下诏谭以蒙等各军撤退。段尚因此得免于被围歼的命运。
由此,谭以蒙、范秉彝与范瑜三者之间结怨,自此日生嫌隙。
平定范瑜之乱
李王任命范瑜为乂安知州,令其总辖当地军务。范瑜入任后奏称:时局动荡,盗贼蜂起,他恐随从中有人因私怨作乱,连自己性命都难保,更遑论守护王恩,因此请求自行招募壮勇以自卫。李王认为有理,于是准奏。
范瑜得权后便收纳亡命之徒,甚至召集盗匪,并公开宣称可以任意抢掠,不必畏惧。故乂安境内盗贼蜂拥而起。同时,国隘匪徒据西结;沿多莫(Da Mac)河畔的文雷寨人众亦群聚作乱。道路阻断,舟楫不得通行。
情势危急,李王命范秉彝率登州军阻截。然而范瑜却退往古蔑村,与段尚、段主在洪地一带联兵,攻打登州。登州军多次请战却皆失败,只得退回。
1209年正月,范秉彝再率登州、怀州军讨伐范瑜,却连战不利。他震怒之下斩杀逃兵以儆效尤。次战,范秉彝军大获全胜,范瑜逃遁他处。范秉彝因而抄毁范瑜宅舍,加深双方仇怨。
三月,范秉彝又于卫桥击败段尚、段主。洪地军溃散,段主陷于泥沼,被河文雷(Ha Van Loi)刺杀。范瑜之乱至此基本平定。
身亡
平定范瑜之后,李高宗早前已命陈馨召范瑜回京。至秋七月,范秉彝亦入朝陈奏要事。然而他一抵京城,便有人暗示李王已听信范瑜谗言,恐他有性命之危。
范秉彝坚持入宫。他说:自己忠心事主,岂能因他人构陷而退避?况有王命,焉可逃避?于是坦然入朝。
刚入殿就被捕。其子范傅亦遭囚于水院。凶讯传出,其部将郭卜勃然大怒,率兵攻城救主。形势危急,李王不得不召范秉彝至凉石处(置于金星阶上的大石,为避暑之所)。
不久,范瑜与其弟经自内殿持兵而出,当场杀死范秉彝与范傅。郭卜闻主将遇害,更加愤怒,袭入凉石处,以王用“斤车”载范秉彝之尸,以御用之席裹范傅之体,运出越城门,至潮东津下葬。
李朝在范秉彝之死后的局势
范秉彝被杀与郭卜之乱后,李朝局势急遽恶化。陈自庆(Tran Tu Khanh)、段尚、阮嫩(Nguyen Non)等军阀势力兴起,使天下更加纷乱。尤其李惠宗即位后,情势更乱不堪,各势力相互争斗,兵戎不断,地方盗贼亦四起,国家陷于极度动荡。
最终,陈承(Tran Thua)与陈守度(Tran Thu Do)发动政变,使李昭皇(Ly Chieu Hoang)禅位于陈煚(Tran Canh),结束李朝215年的统治。
参考资料
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.