Thân thế
Bóng chiều thoi thóp trên những ngọn tháp Chàm. Vệt nắng vẫn còn cố níu lấy rêu xám trên những tượng đá sừng sững để tạo nên một vẻ đẹp huyền bí. Từ phía chân trời, có một người đàn ông đang dẫn cậu con trai dạo chơi. Họ lững thững bước, như muốn chiêm ngưỡng lấy vẻ đẹp huyền thoại ở vùng đất Bình Thuận này. Đến những ngọn tháp Chàm, họ dừng lại. Lúc ấy, người cha giảng giải cho con nghe về “lai lịch” của tháp. Nhưng dường như cậu con trai lơ đễnh không lắng nghe. Cậu chỉ mải mê ngắm những vệt rêu lẫn trong bóng nắng hoàng hôn đang ánh lên một vẻ đẹp dị thường…
Cậu con trai này tên là Nguyễn Từ Chi, sinh ngày 17/12/1925 tại Huế, nhưng nguyên quán tại xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc (Hà Tĩnh), con trai của ông Nguyễn Kinh Chi và cũng là cháu nội của một nhân vật nổi tiếng trong phong trào Duy tân ở Trung kỳ là Nguyễn Hiệt Chi. Nhân dịp hè, ông Kinh Chi dẫn con trai vào thăm ông nội dang dạy tại trường Dục Thanh (Bình Thuận). Ông Kinh Chi bấy giờ là y sĩ Đông Dương (sau này là Thứ trưởng Bộ Y tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa), từng công cán ở Kontum, quần đảo Hoàng Sa… Điều đáng khâm phục là dù làm nghề y nhưng ông Kinh Chi đã cùng em ruột Nguyễn Đổng Chi, từ khảo sát thực địa mà hoàn thành công trình Mọi Kon Tum. Có thể ghi nhận đây là cuốn sách biên khảo dân tộc học đầu tiên theo phương pháp tư duy của phương Tây. Chắc hẳn lúc ấy, ông không ngờ rằng sau này, cậu con trai mình sẽ dấn bước vào con đường nghiên cứu dân tộc học tương tự như thế, và sẽ để lại những dấu ấn rực rỡ.
Cuộc đời và sự nghiệp
Sau này, khi chuyển về Huế công tác, ông Nguyễn Kinh Chi vẫn giữ thói quen, mỗi lần đi nghe diễn thuyết khoa học hoặc dự hội hè đình đám đều dẫn con mình đi theo. Có một lần, Từ Chi được cha dẫn đi nghe buổi thuyết trình của nữ học giả J. Cuisinier với đề tài “Quan hệ giữa người Mường với người Việt”. Có thể ghi nhận đây là buổi thuyết trình “định mệnh” mà sau này Từ Chi sẽ tiếp tục nối bước theo cách độc đáo của riêng mình và trở thành nhà dân tộc học nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn cả ở nước ngoài.
Trong thời gian này, Từ Chi học tại trường Thiên Hựu và nổi tiếng là “nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”. Do không thể nào chịu nổi mẹo luật hóc búa của môn tiếng Latinh nên khoảng năm 1942, Từ Chi chuyển sang học trường Việt Anh. Bạn học cùng lớp sau này nhà nghiên cứu Phan Ngọc có kể lại: “Từ thuộc loại học trò trung bình, không có gì nổi, không chăm nếu không phải là lười, giỏi Pháp văn, ghét cái gì tư biện cho nên về toán Từ hình như chỉ nhớ có định lý ba đường thẳng góc. Trái lại, Từ rất ham cái gì cụ thể, đặc biệt đời tư của các nhân vật lịch sử. Trường Thiên Hựu chỉ có một nửa là người Việt, mỗi lớp từ 20 đến 30 người, phân nửa là người Pháp. Các cậu con Tây thường cũng nghịch nên Từ hay chơi với họ. Từ giỏi nhất trường về tiếng lóng của Pháp là vì thế. Sau này ta vẫn bắt gặp cách nói này của Từ trong giao tiếp với các học giả Pháp, cho nên phải nói các học giả Pháp rất mê Từ, một con người uyên bác nhưng trong nói năng có một cá tính khá gây gổ. Ngay từ bé, tôi thấy ở Từ có cái vẻ bất cần khác nhiều bạn…”.
Sau khi thi đậu Tú tài 2 tại trường Khải Định (Quốc Học Huế) thì Từ Chi gia nhập vào đoàn quân Nam tiến, năm 1946, chiến đấu ở mặt trận Khánh Hòa, làm chính trị viên trong một đại đội trinh sát. Hòa bình lập lại, làm việc ở nhiều nơi như tại Việt Nam thông tấn xã vài năm, Từ Chi vào học khóa 2 khoa Sử trường Đại học Tổng hợp. Tốt nghiệp năm 1961, ông được phân công làm chuyên gia tiếng Pháp tại nước Cộng hòa Guinée (Châu Phi).
Một bước ngoặt của cuộc đời Từ Chi chính là từ năm tháng này. Nếu những người đi nước ngoài về ít nhiều cũng để dành được một món tiền kha khá, thường là giàu có nhưng với ông thì khác hẳn. Trong vòng ba năm, có bao nhiêu tiền ông đều thực hiện những chuyến đi thực địa để tìm hiểu phong tục, tập quán của một dân tộc xa lạ với mình. Lúc ấy, có một số nhà dân tộc học người Pháp sang đây vừa dạy học, vừa nghiên cứu; ông đã nhờ họ giới thiệu cho những cuốn sách viết về châu Phi nghiêm túc nhất để tìm đọc. Nhờ đọc một khối lượng sách đồ sộ và kiểm chứng bằng mắt thấy tai nghe trong niềm say mê tột cùng nên dần dần trong ông đã hình thành một khuynh hướng nghiên về khảo cứu dân tộc học. Trở về nước, Từ Chi bắt đầu nghiên cứu về văn hóa của người Mường. Với tiền đề: “Trên cơ sở các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học, về dân tộc học, về lịch sử, về khảo cổ học, chúng ta có thể nhận định rằng: Dân tộc Mường và dân tộc Việt trước đây mấy ngàn năm có chung một tổ tiên là người Lạc Việt, chủ nhân của nền vănhóa Đông Sơn rực rỡ của Việt Nam” thì các công trình của Từ Chi dù chỉ tập trung vào văn hóa Mường, nhưng thật ra là một đóng góp to lớn khi ta tìm về cội nguồn văn hóa Việt Nam. Lý giải hai dân tộc này “có chung một tổ tiên” như thế nào?
“Chúng tôi có thể trả lời ngay rằng: nguyên nhân làm người Lạc Việt – người Việt cổ – phân hóa thành hai dân tộc là do chế độ áp bức của thời Bắc thuộc.
Năm 180 trước công nguyên, Triệu Đà chinh phục nước Âu Lạc và sát nhập nước này vào nước Nam Việt. Sau khi nước Nam Việt của họ Triệu bị nhà Đông Hán tiêu diệt, nước Việt Nam cổ đại lại nằm trong bản đồ nhà Đông Hán. Từ đấy, nền đô hộ của bọn phong kiến ngoại tộc đè nặng lên trên đất nước Việt Nam trong một thời gian dài hơn một ngàn năm. Trong hơn một ngàn năm ấy nền đô hộ của nhà Triệu cũng như nhà Đông Hán, nhà Ngô, nhà Tần, nhà Tùy, nhà Đường bao trùm lên toàn bộ nước Việt Nam. Nhưng trên thực tế, chính quyền đô hộ chỉ bóc lột được nhân dân Việt Nam ở đồng bằng mà chưa thể vươn tay tới miền rừng núi để nắm nhân dân Việt Nam ở đây. Chính sách áp bức, bóc lột nhân dân Việt Nam ở miền rừng núi chỉ có thể thực hiện được một số chế độ cống nạp mà thôi… Người Việt ở vùng đồng bằng trong khi bắt buộc phải cùng sống chung với bọn phong kiến ngoại tộc đã có điều kiện tiếp xúc với văn hóa các nước ngoài (như văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Chiêm thành…). Hoàn cảnh đó làm cho người Việt ở vùng đồng bằng và người Việt ở vùng miền núi dần dần phát sinh những yếu tố khác nhau về đời sống tinh thần và đời sống vật chất. Tình hình này đã kéo dài hơn một ngàn năm và cuối cùng làm cho người Việt phân hóa thành hai dân tộc: dân tộc Việt (Kinh) chịu ảnh hưởng một phần của văn hóa nước ngoài; dân tộc Mường do cư trú lâu đời ở miền rừng núi, vẫn bảo lưu được nhiều nét đặc biệt của văn hóa Lạc Việt.
Hơn một ngàn năm Bắc thuộc là thời gian phân hóa liên tục của người Việt cổ. Nhưng mức độ phân hóa không phải lúc nào cũng giống nhau. Buổi đầu thời Bắc thuộc, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Việt ở đồng bằng và người Việt ở miền núi chưa có gì khác biệt nhau nhiều lắm. Hồi ấy, nếu ở xã hội miền núi có tầng lớp “quan lang” thì xã hội miền đồng bằng cũng có tầng lớp “quan lang”. Sang thế kỷ VIII, sự phân hóa giữa người Việt ở miền núi và người Việt ở đồng bằng càng ngày càng trở nên rõ rệt. Chế độ “quan lang” ở xã hội miền đồng bằng nếu còn thì chỉ còn ở những miền tiếp giáp với miền rừng núi mà thôi. Đến thế kỷ X, sau khi dân tộc Việt Nam giành được độc lập và đến thế kỷ XI, khi thành Thăng Long xuất hiện thì sự phân chia ra dân tộc Mường và dân tộc Việt (Kinh) đã thành một sự việc hiển nhiên của lịch sử.
Sau khi phân hóa thành hai dân tộc (Việt và Mường) người Việt và người Mường vẫn biết họ cùng chung một nguồn gốc: thời viễn cổ xa xăm, tổ tiên của họ là người Lạc Việt; người Lạc Việt mà thủ lĩnh là các Hùng Vương đã dìu dắt nhân dân xây dựng nên nước Việt Nam cổ đại” (SĐD, tr. 12 – 14). Như vậy việc Từ Chi nghiên cứu văn hóa Mường là đi đúng hướng. Tuy nhiên, là người đi sau thì ông phải vượt qua “tảng đá sừng sững phía trước mắt” là công trình nghiên cứu của nữ học giả J.Cuisinier đã công bố trước hơn 50 năm. Trong nghiên cứu khoa học, nếu người đi sau không khác hơn, không mới hơn, không có đóng góp nhiều hơn người đi trước thì phỏng có ích lợi gì? Ý thức như thế nên Từ Chi đã tìm hướng đi của riêng mình. Trước hết ông nhận thấy J.Cuisinier, khi đến với văn hóa Mường thì nữ học giả này chỉ tiếp cận với tầng lớp trên, các chức sắc trong bộ máy hành chính tại địa phương hơn là đến với quần chúng dân gian. Cách tiếp cận với đối tượng này bộc lộ những khiếm khuyết mà theo nhà nghiên cứu Đào Hùng thì: “Những người như vậy tuy hiểu biết về xã hội Mường cổ truyền, nhưng thường nhìn dưới sự phân tích của nhãn quan Nho giáo, nên không tránh khỏi những nhận xét thiên kiến. Hơn nữa, các gia đình quý tộc Mường phần lớn đều Việt hóa ít nhiều, nên nhiều tập quán sinh hoạt tronggia đình đã biến cải theo người Việt, không còn giữ được nét nguyên sơ như người bình dân. Vì vậy đọc những chương mô tả tín ngưỡng của người Mường trong tác phẩm của học giả Pháp đó, ta không thấy khác người Việt là bao nhiêu” (Xưa& nay số tháng 10/1995). Từ đó, Từ Chi quyết định một hướng nghiên cứu khác. Chỉ với chiếc xe đạp cọc cạch, từ Hà Nội, ông đạp ròng rã nhiều năm tháng để đến với xã hội người Mường. Có lẽ, năm tháng trong bộ đội đã giúp cho ông có thể thực hiện “ba cùng” với người dân địa phương.
Người Mường thân quý ông đến nỗi đã nhận ông là con em của họ. Nhờ vậy, ông đã khám phá ra nhiều nét độc đáo của văn hóa Mường còn tiềm ẩn trong dân gian, chưa được các nhà nghiên cứu đi trước khám phá… Bằng mối quan hệ của một người anh em đến với những người anh em kết nghĩa nên những trang viết của ông ngoài sự sâu lắng uyên bác thì còn thấm đẫm một tình cảm ruột thịt. Những bài nghiên cứu công phu của ông với bút danh Trần Từ, Từ Chi, Nguyễn Từ Chi dần dần được công bố như: Cõi sống và cõi chết trong quan niệm cổ truyền của người Mường (viết chung với Bạch Đình – năm 1971), Cạpváy Mường (1974), Hoa văn cạp váy với hoa văn hình học (1974), Người Mường và núi đồi (1976)… đã được dư luận bắt đầu chú ý. Nhưng lúc ấy chưa phải ai cũng chia sẻ hết việc làm của ông, thậm chí có người còn đánh giá ông đem tư tưởng tiểu tư sản vào trong nghiên cứu, ai đời lại đi nghiên cứu… cạp váy Mường (!). Chẳng lẽ hết chuyện để nghiên cứu rồi sao? Nhưng với bản tính “phớt đời” ông vẫn tiếp tục đeo đuổi mục đích của mình. Cho đến khi các học giả nước ngoài đã dịch những bài viết của Từ Chi và đánh giárất cao thì mọi người mới thấy hếtbản lĩnh của sự đóng góp này. Rồi, những năm sau ông tiếp tục cho in những tác phẩm có tầm vóc như Hoa văn Mường (NXB Văn hóa Dân tộc – 1978), Người Mường ở Hòa Bình (NXB Văn hóa Dân tộc -1995)… Bằng sự làm việc nghiêm túc, ông là người đầu tiên đã phát hiện ra nét tương đồng giữa hoa văn váy Mường với hoa văn trên trống đồng Đông Sơn qua công trình Hoa văn Mường (1975).
Trong quyển Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi (UBND huyện Tân Lạc – Sở VHTT Hà Sơn Bình XB năm 1988), Từ Chi đã có phân tích chu đáo và kết luận: “Nhìn vào nghệ thuật trang trí các thời sau của người Việt, các nhà lịch sử mỹ thuật đã bước đầu lọc ra được những vết tích lẻ tẻ của hoa văn Đông Sơn. Nhưng, qua những phát hiện cho đến nay, người ta mới thấy có mỗi một “đầu váy” Mường là giữ được hầu như toàn bộ cấu trúc trang trí của hoa văn trên trống đồng loại I. Mà chỉ cấu trúc ấy mới nói lên được, trong một chừng mực nhất định, tinh thần của nghệ thuật trang trí Đông Sơn” (tr.352 – 355). Từ phát hiện này, Từ Chi tiếp tục khảo sát phong tục tập quán, tổ chức nhà nước của người Mường v.v… và có những phát hiện mới mẻ. Chỉ xin đưa ra một thí dụ, khi quan sát người Mường làm loại bánh “Pẹng goẹng” mà người Kinh phiên âm thành “bánh hoánh”, dùng nguyên liệu là gạo tẻ (chứ không phải gạo nếp); nhân rắc vào bột làcon cá bắt dưới suối đã được băm nhỏ và đã đảo qua đảo lại nhiều lần trên chảo; sau đó dùng lá chuối (chứ không phải lá dong) gói lại và đem luộc thật sôi trong nước. Liên hệ loại bánh với cách làm tương tự như vậy tại Huế, ông đã phát hiện ra tên gọi đúng của nó phải là “pẹng lạ” (tức bánh lá) chứ không phải là tên “Pẹng goẹng”. Sự phát hiện này đã khiến các bậc cao niên người Mường phải chịu là đúng, là giỏi; trong khi đó thế hệ trẻ Mường hoàn toàn xa lạ với tên gọi ấy. Nhưng tại sao cái tên gọi”pẹng lạ” lại biến mất và ngày nay lại gọi là bánh “Pẹng goẹng”? Và Từ Chi lại có cách giải thích của ông…
Công trình nghiên cứu văn hóa
Không chỉ nghiên cứu về văn hóa Mường, Từ Chi còn dành nhiều thời gian để viết các công trình khác như Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ Bắc bộ (1980), Hoa văn các dân tộc Giarai-Bana (1986)… hoặc những bài nghiên cứu như Xung quanh các hình thức khai thác ruộng lang (1970), Nữ phục Kinh ở Bắc bộ (1976), Ghi chép ở Huế (1976), Người Thượng và văn hóa tiền Đông Dương (1995) v.v… GS. Georges Condomimas đã đánh giá Từ Chi “một nhà bác học lớn” và thừa nhận: “Công việc lâu dài trên thực địa có thể khiến nhiều nhà dân tộc học tên tuổi phải thèm thuồng,đã giúp anh viết nên nhiều tiểu luận một cách vững chắc về tộc người đó” (Xưa & nay số 1.1996); còn GS. Trần Quốc Vượng ghi nhận: “Ông là người đi nhiều, đọc rộng và có cảm quan điền dã minh mẫn, thích nắm bắt cái cụ thể song đồng thời lại có những nhận xét sắc sảo, có sức khái quát hóa cực sâu…”(Thay lời mở đầu Tuyển tập Từ Chi). Trong suốt năm tháng công tác, Từ Chi là người thay đổi khá nhiều cơ quan. Đó không phải là điều mà ai cũng có thể “dám làm”, nhất là trong thời bao cấp vì nó liên quan đến khá nhiều quyền lợi khác trongsinh hoạt đời thường. Nhưng với Từ Chi lại khác hẳn.
Nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy đã cho biết những chi tiết tưởng như đùa mà lại có thật: “Từ Chi là một nhà khoa học thuần túy. Ở Việt Nam, nhất là vào những thời bao cấp, làm nhà khoa học trơn, hình như chưa có giá trị tự thân mà phải gắn với một chức vụ gì đó, dù chỉ là chân tổ trưởng. Hơn nữa cơ chế bao cấp cồng kềnh, làm một việc gì đó cũng phải qua nhiều “cửa”, nên không nắm được chức vụ – một thứ giấy thông hành – thì khó mà trót lọt theoý mình. Vả chăng, làm khoa học thuần túy dễ bị “chụp mũ” nặng “chuyên” nhẹ “hồng”, hoặc thích “chơi trội”… Sinh ra trong một gia đình trí thức cách mạng, bản thân lại là bộ đội Nam tiến, có chức vụ, lại thông minh, nếu muốn, hẳn Từ Chi đã có thể vào “bộ máy”, rồi cứ theo guồng quay của nó mà đi lên… Nhưng ông lại chọn cho mình một cuộc sống “ngoài lề” để được làm khoa học. Một lần trong lúc ngà ngà rượu, Từ Chi thổ lộ với tôi về “kinh nghiệm” bảo vệ quyền được làm nghề của mình:
– Nếu anh làm dân tộc học thì tốt nhất đừng ở Viện Dân tộc học, mà nên ở một cơ quan nào đó có ít nhiều liên quan đến dân tộc học, để rồi làm dân tộc học như một nghề tay trái.
Thấy tôi trợn tròn mắt, ông cười khà, giải thích:
– Làm vậy, tuy trái cựa và cực hơn, nhưng được cái tự do, thích gì làm nấy, và ít bị người dòm ngó. Nhưng điều cốt tử là ở đâu anh cũng phải kiên trì làm việc của mình, nghĩa là dám trở thành người “không nghiêm túc”. Tôi có một anh bạn cùng học, rất thông minh, con nhà nòi, thạo tiếng Pháp, chữ Hán… Nếu anh đừng nghiêm túc quá thì sẽ trở thành một trong những nhà cổ sử số một của ta. Ngặt vì ở đâu, từ Bảo tàng Việt Bắc, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng đến CP. 72, anh đều dốc hết thời gian làm việc cho cơ quan, mà quên mất chuyên môn cổ sử của mình. Tôi thì ngược lại, ở cơ quan nào cũng tranh thủ làm dân tộc học. Đến khi người ta “phát hiện” ra, thì, nếu cần, tôi chuyển. Tôi “đi” nhiều cơ quan là vì vậy. Và may mắn nếu làm được chút ít gì cũng vì vậy”.
Qua mẩu chuyện trên, ta thấy ở Từ Chi không bao giờ xao nhãng chuyên môn của mình. Đó mới là điều cốt tử. Mọi chuyện còn lại đều không đáng kể, ngay cả cách ăn mặc của ông cũng thế. GS Trần Quốc Vượng kể lại: “Ông cụ gần như suốt đời là nhân viên, tổ viên, thư ký, biên tập viên… gần về hưu mới được phong chức danh Phó giáo sư. “Danh bất xứng kỳ tài, kỳ đức”, lương bổng bất xứng công việc làm, thế mà ông cụ vẫn vui lòng chịu đựng, đáng mặt người cộng sản chân chính, được anh em, bè bạn người ít tuổi hơn, lớp trẻ nể vì, kính phục… Đi làm chuyên gia ở Ghi-nê từ cuối thập kỷ 50, về già đi Pa-ri ở cuối thập kỷ 80, quần áo sang không thiếu và không phải không biết ăn diện, nhưng bạn bè xin ông cho tặng cả, ăn mặc lúc nào cũng có vẻ lôi thôi, có lúc người đường phố nhầm tưởng là “ông cụ ăn xin”…”. Còn GS. Phan Ngọc nhận thấy: “Từ những năm 60 đến năm 1995, người ta thấy ở Hà Nội một con người quần áo luộm thuộm, đi dép cao su, đôi khi cưỡi chiếc xe đạp con vịt, vai đeo một túi vải trong nhất định có cái cà mèng với một vài miếng thịt, và một điếu cày. Anh ta đến thư viện đọc sách, rồi đến nhà bạn ngồi tán chuyện, hay đến nhà cô cháu ở đường Trần Hưng Đạo nghỉ. Rồi lại ra thư viện hay ghé vào nhà một anh bạn uống một ngụm rượu, đến tối mới về nhà. Con người bên ngoài không khác một anh đạp xích lô ấy là một nhà bác học quốc tế mà những bài viết được thế giới khoa học đánh giá cao bậc nhất, được xem là nhà dân tộc học số một của Việt Nam, anh Nguyễn Từ Chi”.
Hình ảnh Từ Chi hiện lên trong lớp người hậu thế chúng ta thật gần gũi biết chừng nào. Có lẽ, khí chất của ông được hình thành từ nề nếp gia phong của dòng họ Nguyễn ở Hà Tĩnh, nếu ta biết rằng, ngay tại nhà ông nội của Từ Chi năm 1936, từ Bình Thuận cụ Nguyễn Hiệt Chi đã trở về quê phân loại lại kho sách của gia đình để lập Mộng Thương thư trai – mở rộng cửa cho người dân trong làng cùng đến đọc để nâng cao tri thức. Ngôi nhà này, mặt cửa chính trông ra vườn và hồ sen, cụ cho làm một vòm mái hiên, trên có đắp hình một cuốn sách đang mở ra, có ghi câu của cụ: “Học tập làm lụng ta ngó lên, ăn mặc ta nhìn xuống”, và hai bên có một thanh kiếm và một quản bút giao nhau. Thì đủ thấy, truyền thống gia tộc ấy chuộng việc học và có tinh thần hiếu học như thế nào. Chính nhờ thế, trong học thuật xưa nay gia tộc ấy đã nổi lên những gương lao động cần cù vì văn hóa nước nhà như Nguyễn Hiệt Chi, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Nguyễn Huệ Chi… mà chắc chắn công trình nghiên cứu của họ còn có ích lâu dài cho đời sau.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.