Thân thế
Trịnh Tùng (鄭松) sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Bình thứ 2 (1550), tức ngày 19 tháng 12 năm 1550, tại xứ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Ông là con trai thứ hai của Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm, và bà Nguyễn Thị Ngọc Bảo, con gái Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim. Tuy nhiên, thân thế của Trịnh Tùng trong gia tộc họ Trịnh ban đầu không được ưu thế. Phụ thân ông, Trịnh Kiểm, có chính thất là bà Lại Thị Ngọc Trân, người sinh ra con trưởng Trịnh Cối. Mẹ của Trịnh Tùng chỉ là vợ thứ, nên vị thế kế thừa của ông trong gia đình họ Trịnh không được thừa nhận.
Thời niên thiếu, Trịnh Tùng sớm bộc lộ tư chất thông minh, dũng cảm và quyết đoán. Sử chép rằng ông “tài đức, anh hùng nhất đời, có thể nối được chí cha, giúp nên nghiệp đế.” Tháng 4 năm 1565, Trịnh Tùng theo cha và anh trai là Trịnh Cối đem quân đánh phủ Trường Yên của nhà Mạc. Ban đầu quân Lê – Trịnh chiếm ưu thế, nhưng sau bị Mạc Kính Điển dùng mưu tập kích Thanh Hóa khiến quân Nam triều phải rút về phòng thủ.
Đến năm 1568, khi 18 tuổi, Trịnh Tùng được phong Phúc Lương hầu, được ban ấn Bình Đông, cho mở phủ riêng và nắm quyền điều binh khiển tướng. Đây là dấu mốc cho thấy ông được triều đình trọng dụng và bắt đầu bước vào hàng ngũ chỉ huy cao cấp, đặt nền tảng cho vai trò sau này của ông trong việc nắm giữ binh quyền, đánh dẹp họ Mạc, và hoàn thành công cuộc trung hưng nhà Lê.
Bối cảnh lịch sử
Vào mùa đông năm 1569, khi Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm đã tuổi cao sức yếu, ông dâng biểu xin từ nhiệm binh quyền để lui về trí sĩ. Vua Lê Anh Tông, tuân theo phép tắc “trưởng tử kế nghiệp”, ban chiếu giao quyền Đô nguyên soái thống lĩnh các doanh quân cho Tuấn Đức hầu Trịnh Cối, con trưởng của Trịnh Kiểm với chính thất Lại Thị Ngọc Trân.
Ngày 24 tháng 3 năm 1570, Trịnh Kiểm lâm bệnh nặng và qua đời, kết thúc 25 năm nắm quyền điều hành quân chính Nam triều. Nhà vua liền chính thức trao quyền kế vị cho Trịnh Cối, cho ông thay cha nắm giữ binh quyền và trông coi quân vụ. Tuy nhiên, ngay từ đầu, uy tín và năng lực của Trịnh Cối không được lòng các tướng lĩnh, trong khi đó, em trai là Trịnh Tùng vốn thông minh, quyết đoán, lại được nhiều võ tướng nể trọng bắt đầu thu hút lòng người trong quân đội.
Chỉ hơn một tháng sau, vào ngày 6 tháng 5 năm 1570, biến loạn nổ ra: các tướng Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu, Phan Công Tích và Trịnh Bách đồng loạt bỏ Trịnh Cối, mang quân sang theo Trịnh Tùng. Tùng nắm lấy thời cơ, cùng các tướng này kéo đến An Trường, nơi vua Lê Anh Tông đang ngự, để xin được phò giá nhà vua. Trong buổi yết kiến, Trịnh Tùng tâu rằng:
“Anh thần là Cối đam mê tửu sắc, làm nhiều điều mất lòng người. Chẳng sớm thì muộn tất sinh biến loạn! Nay Cối lại muốn tước đoạt số quân của thần, nên bọn thần đêm nay phải liều mình đến cửa khuyết, xin thánh thượng thương xét mà thu nạp.”
Nhà vua cảm động, bèn theo lời Tùng, rời khỏi căn cứ của Trịnh Cối, vào cửa ải Vạn Lại, giao cho Tùng tổ chức phòng thủ và bảo vệ hoàng gia.
Ngày 7 tháng 5, Trịnh Cối cùng các tướng thân tín như Lại Thế Mĩ, Lại Thế Khanh đem quân tiến đánh Vạn Lại, gây nên cuộc nội chiến giữa hai anh em ngay giữa lúc Nam triều còn đang bị họ Mạc uy hiếp. Hai bên giao chiến dữ dội trong nhiều ngày liền nhưng bất phân thắng bại. Vua Lê sai sứ đến chiêu dụ giảng hòa, song Cối không chịu, thậm chí để Lại Thế Mĩ đánh thẳng vào Vạn Lại nhằm bắt nhà vua. Trịnh Cối không chiếm được ưu thế, phải rút về Biện Dinh, bố trí quân giữ các nơi hiểm yếu, chờ cơ hội phản công.
Giữa lúc đó, Mạc Kính Điển, phụ chính của triều Mạc, được tin Nam triều lục đục, lập tức đem 10 vạn quân tiến xuống Thanh Hoa vào ngày 15 tháng 9 năm 1570, mưu toan nhân cơ hội diệt cả hai phe. Trịnh Cối lực yếu, không đủ sức chống cự, đành đem vợ con ra hàng nhà Mạc, khiến thanh thế của ông hoàn toàn sụp đổ.
Chỉ ít ngày sau, ngày 20 tháng 9 năm 1570, vua Lê Anh Tông sắc phong Trịnh Tùng làm Trường quận công, giao tiết chế toàn bộ thủy bộ, thống lĩnh các doanh quân để kháng chiến. Trịnh Tùng liền hội các tướng, lập lời thề trung hưng, rồi chia quân canh giữ các cửa ải, đắp lũy, đào hào, đặt phục binh để cầm cự với quân Mạc.
Cuối năm ấy, Mạc Kính Điển mở đại quân tấn công An Trường. Trịnh Tùng cùng Lê Cập Đệ dùng kế nghi binh, dựng thành giả để đánh lừa địch, đồng thời liên tục tổ chức tập kích ban đêm, khiến quân Mạc bị rối loạn và hao tổn lương thảo. Đến cuối năm, Kính Điển buộc phải rút lui về Bắc do thiếu lương và tổn thất nặng nề.
Cuộc chiến kết thúc với thắng lợi của Trịnh Tùng, đánh dấu bước đầu ông củng cố binh quyền và vị thế trong triều đình, mở ra thời kỳ Trịnh Tùng chính thức trở thành người kế nghiệp thực sự của dòng họ Trịnh, tiếp tục gánh vác sự nghiệp trung hưng nhà Lê.
Sự nghiệp
Thâu tóm quyền hành, phế lập vua Lê
Sau khi đuổi được quân Mạc, Trịnh Tùng được phong Thái úy Trường quốc công, nắm toàn quyền binh chính Nam triều (1571). Từ đây, quyền hành trong nước dần rơi vào tay họ Trịnh.
Lúc bấy giờ, Thái phó Lê Cập Đệ có ý chống lại Trịnh Tùng, âm mưu đoạt quyền. Tùng biết rõ nhưng giả vờ hòa hiếu, đợi thời cơ. Đến cuối năm 1572, ông sai người phục sẵn, nhân Cập Đệ đến doanh thì bắt giết, tru di cả họ, lấy cớ “mưu phản”. Cái chết của Cập Đệ khiến vua Lê Anh Tông mất chỗ dựa, sinh nghi Tùng, liền đem bốn hoàng tử chạy vào Nghệ An. Trước tình thế đó, Trịnh Tùng bàn với các tướng rằng thiên hạ không thể một ngày vô chủ, rồi đưa hoàng tử Lê Duy Đàm lên ngôi, tức Lê Thế Tông, còn Anh Tông bị truy bắt và giết tại Lôi Dương (1573). Từ đây, mọi quyền quân chính đều nằm trong tay Trịnh Tùng.
Trịnh Tùng tự xưng Đô tướng tiết chế, kiêm nắm việc cơ mật triều chính, đặt các tướng thân cận như Vũ Công Kỷ, Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu giữ các chức trọng yếu. Khi ấy, Nam triều hoàn toàn do Trịnh Tùng điều khiển, nhà vua chỉ còn hư vị.
Không lâu sau, các tướng Trịnh Vĩnh Thiệu, Trịnh Bách lại mưu phản, nhưng việc bị phát giác. Nhờ Thái phi Ngọc Bảo (mẹ Trịnh Tùng) xin nên họ được tha chết song bị tước quyền. Năm 1580, triều đình mở lại khoa thi Hội đầu tiên sau gần 50 năm gián đoạn vì chiến tranh, lấy Nguyễn Văn Giai và Phùng Khắc Khoan đỗ tiến sĩ.
Năm 1586, doanh trại của Trịnh Tùng ở An Trường bị hỏa hoạn thiêu rụi, mẹ ông tử nạn. Ông thương xót, cư tang, truy tôn bà là Từ Nghi Vương Thái phi. Năm sau, Trịnh Bách lại âm mưu phản nghịch, bị Trịnh Tùng sai giết.
Công cuộc Bắc phạt nhà Mạc (1571 – 1591)
Từ năm 1571 đến 1583, Nam triều chủ yếu ở thế phòng thủ. Nhà Mạc liên tiếp nam chinh nhưng đều thất bại. Trịnh Tùng nhiều lần chỉ huy quân đánh lui Mạc Kính Điển, Nguyễn Quyện, giành lại Nghệ An, Thanh Hóa.
Để chống đỡ hiệu quả, ông ban lệnh cho dân Thanh – Nghệ gấp rút cày cấy, tản cư khi có giặc, lập pháo hiệu ven sông, nghiêm cấm cướp bóc dân chạy loạn. Nhờ tổ chức chặt chẽ, quân Lê – Trịnh dần vững vàng, đủ sức đối đầu Bắc triều.
Các trận đánh ở Khoái Lạc (1577) và Phụng Công (1578) là hai chiến thắng lớn khiến quân Mạc tổn thất nặng, nhuệ khí suy tàn. Sau khi Mạc Kính Điển mất (1579), thế lực nhà Mạc ngày một yếu.
Đến năm 1581, Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái đánh bại quân Mạc Đôn Nhượng ở núi Đường Năng (Quảng Xương), bắt được nhiều tù binh rồi tha cho về quê. Từ đó, quân Mạc không còn đủ sức đánh xuống Thanh – Nghệ nữa.
Năm 1583, Trịnh Tùng thử quân tại các vùng Sơn Nam, Yên Mô, Yên Khang; năm 1585 tiến ra Thiên Quan, Mỹ Lương, Thạch Thất, An Sơn, phá được nhiều cứ điểm của địch. Ông liên tục dùng mưu phục binh, nghi binh rút lui để đánh úp, tiêu diệt quân Mạc ở Dương Vũ, Trường Yên và các vùng phụ cận.
Đến năm 1589, tại Trường Yên, Trịnh Tùng lập mưu giả rút quân nhử giặc vào chỗ hiểm, rồi phục kích đánh tan đại quân Mạc Đôn Nhượng, chém hàng nghìn địch, bắt sống hơn sáu trăm người, lại tha cho về quê để tỏ đức nhân. Từ đây, quân Mạc không còn dám tiến xuống Thanh Hoa nữa, còn Trịnh Tùng thì sẵn sàng cho cuộc bắc phạt lớn giải phóng kinh đô.
Đánh vào Thăng Long
- Chuẩn bị và khởi binh
Trịnh Tùng điều động 5 vạn quân, chia làm năm lộ, do các tướng Nguyễn Hữu Liêu, Hoàng Đình Ái, Hà Thọ Lộc, Ngô Cảnh Hựu chỉ huy; bản thân ông trực tiếp chỉ huy 2 vạn quân trung quân. Ông còn sai Diễn quận công Trịnh Văn Hải và Thái quận công Nguyễn Thất Lý trấn giữ các cửa biển, đề phòng viện binh từ ngoài vào; Quận Thọ Lê Hòa thống lĩnh đội cấm vệ, hộ giá vua Lê Thế Tông.
Đại quân xuất phát từ Tây Đô, đi qua Quảng Bình, đến huyện Thiên Quan, vượt núi Mã Yên rồi tiến ra huyện Ma Nghĩa. Trong những ngày đầu, quân Lê – Trịnh đánh chiếm nhanh các cứ điểm An Sơn, Thạch Thất, Phúc Lộc, Tân Phong; chỉ trong ít ngày, toàn bộ vùng phụ cận phía nam Thăng Long đều rơi vào tay nghĩa quân.
- Trận Phấn Thượng – mở đầu chiến dịch
Khi nghe tin Trịnh Tùng dẫn quân áp sát, vua Mạc Mậu Hợp hoảng hốt, vội điều hết binh mã của bốn vệ năm phủ, tổng cộng khoảng mười vạn quân, đích thân làm tướng, kéo đến xã Phấn Thượng đón đánh.
Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái ra trận tiên phong, hạ được hai tướng Mạc là quận Khuông và quận Tân. Quân Lê – Trịnh thừa thắng đánh mạnh, chính Trịnh Tùng cũng trực tiếp đốc chiến. Trận đánh diễn ra quyết liệt ở sông Hát Gian, quân Mạc đại bại, xác chết ngổn ngang dưới nước, Mậu Hợp phải bỏ chạy về phía Đông Kinh.
- Tiến sát kinh đô
Sau thắng lợi Phấn Thượng, Trịnh Tùng đóng trại ở Hoàng Xá, sai quân vượt sông Cù, phá nhiều lũy địch. Ông nhận định:
“Giặc nhiều phen thất bại, ta nên thừa thắng mà đánh, lấy được kinh đô chẳng khác nào cúi xuống nhặt vật dưới đất.”
Theo đó, ông phái Nguyễn Hữu Liêu chỉ huy quân voi tiến thẳng đến cầu Cau phía tây nam kinh thành, phóng hỏa đốt phá nhà cửa. Dân trong kinh hoảng loạn, chạy tán loạn, nhiều người chết đuối khi vượt sông.
Đến Tết Nguyên đán năm 1592, Trịnh Tùng cho quân nghỉ ngơi ăn Tết, rồi lập đàn tế cáo trời đất, tổ tiên nhà Lê và ban ba điều quân lệnh nghiêm cấm:
– Không được vào nhà dân cướp lương thực, củi đuốc.
– Không được cướp bóc, phá phách nhà cửa, cây cối.
– Không được dâm hiếp phụ nữ hay giết người vì thù riêng.
Kỷ luật nghiêm minh khiến dân chúng khắp nơi cảm phục, đổ ra nghênh đón quân Lê – Trịnh, dâng rượu, trâu bò tiếp tế.
- Trận Thăng Long quyết định
Đầu tháng Giêng năm 1592, khi quân tiến đến chùa Thiên Xuân, Mạc Mậu Hợp đã bỏ chạy qua sông Nhị, lập đại bản doanh ở xã Thổ Khói. Mậu Hợp sai Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Nguyễn Quyện, Trần Bách Niên cố thủ thành Đại La, đồng thời tự mình chỉ huy thủy quân hơn trăm chiến thuyền án ngữ sông Nhị Hà.
Ngày mùng 5 Tết, Trịnh Tùng vượt cầu Nhân Mục qua sông Tô Lịch, đóng ở Sạ Đôi (gò tập bắn), chia quân làm năm đạo tấn công:
– Đạo Tả dực (Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Ninh): 10.000 quân và voi, đánh cầu Gia Kiều, giao chiến với Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên ở cửa Tây.
– Đạo Hữu dực (Hoàng Đình Ái, Trịnh Đồng): 10.550 quân, đánh cửa Triền Kiều (Bạch Mai) và Nam Giao – mặt nam kinh thành.
– Đạo Tiền quân và Trung quân (Trịnh Đỗ chỉ huy) làm lực lượng xung kích.
– Trịnh Tùng thân chinh chỉ huy 25.000 quân hậu tập, đóng tại phường Hồng Mai.
– Thụy Trang hầu dẫn 1.200 quân tiên phong đánh cầu Mộng Kiều – cửa Nam kinh thành.
Cuộc giao chiến kéo dài từ giờ Tị đến giờ Mùi. Quân Mạc chống không nổi, các tuyến phòng thủ sụp đổ. Trịnh Tùng đốc suất tướng sĩ trèo luỹ, phá được ba lớp thành lũy. Tướng Mạc như Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên, Mạc Ngọc Liễn đều tháo chạy; Nguyễn Quyện bị bắt sống, hai con bị giết.
Sau trận này, hơn một nghìn binh lính Mạc tử trận, quân Lê – Trịnh làm chủ vùng Nam sông Nhị.
- Bắt sống Mạc Mậu Hợp – khôi phục Đông Kinh
Sau chiến thắng, Trịnh Tùng đối xử khoan hậu với Nguyễn Quyện, song do lực lượng chưa đủ giữ thành, ông tạm lui về Thanh Hóa củng cố. Mùa thu năm 1592, tướng Bùi Văn Khuê vì bị Mạc Mậu Hợp nghi kỵ, mưu giết, nên đem toàn bộ thủy quân sang hàng Trịnh Tùng, Trịnh Tùng vui mừng nói:
“Văn Khuê quy thuận, ấy là trời giúp ta chóng thành công; cơ nghiệp khôi phục chỉ là ngày một ngày hai.”
Ông lập tức mở chiến dịch tổng lực, quân Lê – Trịnh đánh Trường Yên, Bình Lục, Thanh Oai, rồi tiến ra bến Cỏ, sông Hát, chiếm hàng nghìn chiến thuyền, truy kích Mậu Hợp đến Kim Thành (Hải Dương). Mẹ vua Mạc bị bắt, tự vẫn ở sông Bồ Đề.
Cuối năm 1592, Mậu Hợp bị phát hiện đang ẩn náu trong chùa Mô Khuê (Phượng Nhỡn), giả làm nhà sư. Trịnh Tùng sai Nguyễn Đình Luận và Lưu Chản bắt sống giải về doanh. Ông cho Mậu Hợp quỳ lạy như bề tôi trước thiên tử rồi giam lại. Các quan đề nghị xử theo luật lăng trì, nhưng Trịnh Tùng chỉ ra lệnh treo sống ba ngày rồi chém đầu ở Bồ Đề, lấy thủ cấp tế cáo Tôn miếu, rửa mối sỉ nhục cho nhà Lê. Từ đó, kinh đô Thăng Long được khôi phục sau 67 năm mất vào tay họ Mạc.
- Bình định dư đảng họ Mạc (1593 – 1599)
Sau khi Mậu Hợp bị giết, con cháu họ Mạc vẫn cố gắng kháng cự ở các vùng rừng núi. Mạc Kính Chỉ, con Mạc Kính Điển, tự xưng vương ở Chí Linh, tập hợp hàng vạn quân. Trịnh Tùng phải cử Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu, Bùi Văn Khuê chia quân tiễu trừ. Sau nhiều trận lớn ở Thanh Lâm, Cẩm Giàng, Tân Manh, toàn bộ tông thất họ Mạc như Kính Chỉ, Kính Phu, Kính Thận, Kính Giản… đều bị bắt và xử tử. Từ đây, nhà Mạc chính thức sụp đổ, chỉ còn giữ được Cao Bằng nhờ nương tựa vào nhà Minh.
- Khôi phục nhà Lê
Tháng 5 năm 1593, khi thế lực Bắc triều bị quét sạch, Trịnh Tùng cho tu sửa cung điện trong Thăng Long. Một tháng sau, ông sai Nguyễn Hữu Liêu ra Tây Đô nghênh giá vua Lê Thế Tông về kinh. Ngày 16 tháng 5, nhà vua ngự tại chính điện, đại xá thiên hạ, phong thưởng cho các công thần. Nhà Lê kể từ khi mất ngôi năm 1527, đến đây mới chính thức khôi phục trung đô, nhưng thực quyền triều chính đã hoàn toàn nằm trong tay họ Trịnh.
- Tiếp tục dẹp loạn họ Mạc (1593 – 1618)
Dư đảng nhà Mạc vẫn lẩn trốn ở miền Bắc, Mạc Kính Cung được Mạc Ngọc Liễn lập lên ở Cao Bằng, tiếp tục gây rối. Trịnh Tùng nhiều lần thân chinh dẹp loạn, đánh bại các cuộc khởi binh ở Hải Dương, Thanh Hà, An Bác, Cao Bằng, Vũ Nhai. Đến năm 1618, Trịnh Tùng sai các con là Trịnh Tráng và Trịnh Xuân đánh tan lực lượng của Mạc Kính Khoan ở Vũ Nhai. Từ đó, nhà Mạc chỉ còn tồn tại yếu ớt ở vùng biên giới, nhờ sự bảo hộ của nhà Minh, mãi đến năm 1677 mới hoàn toàn bị xóa bỏ.
Mở phủ Chúa
Sau khi đánh bại họ Mạc và thu phục Thăng Long, quyền lực của Trịnh Tùng đã vượt xa các đại thần trong triều. Ngày 11 tháng 5 năm 1599, ông buộc vua Lê Thế Tông phải phong mình chức Đô nguyên soái tổng quốc chính thượng phụ Bình An vương, đây là chức quan cao nhất trong triều, chỉ đứng sau hoàng đế. Dẫu miễn cưỡng, vua vẫn phải thuận theo, sai Hoàng Đình Ái mang sách phong, ngọc toản, mao tiết, và hoàng việt đến làm lễ sắc phong. Nhận sắc phong xong, Trịnh Tùng vào triều lạy tạ rồi trở về phủ nhận lễ mừng của bá quan, mở đại yến và thưởng lụa, vàng, tiền cho tướng sĩ. Từ đây, nghiệp vương của họ Trịnh chính thức bắt đầu, mở ra thời kỳ “vua Lê – chúa Trịnh” kéo dài hơn hai thế kỷ ở Đàng Ngoài.
Ngay sau đó, Trịnh Tùng cho xây dựng phủ chúa bên cạnh triều đình vua Lê. Phủ chúa trở thành trung tâm điều hành chính trị, nơi bàn định quốc sự, trong khi nhà vua chỉ còn danh nghĩa tượng trưng. Nhà vua được cấp bảy thớt voi, hai mươi thuyền rồng, năm nghìn lính túc vệ, và thuế của một nghìn xã làm “lộc thượng tiến”. Mọi việc về nhân sự, thuế khóa, binh bị, pháp luật đều do họ Trịnh quyết định.
Mặc dù quyền hành đã vượt trên cả hoàng đế, song Trịnh Tùng không dám tiếm ngôi, bởi lo ngại nhà Minh ở phương Bắc và dư đảng họ Mạc ở Cao Bằng sẽ lấy cớ “phù Lê diệt Trịnh” để can thiệp. Chính vì thế, ông vẫn duy trì danh nghĩa “phò Lê”, nhưng thực quyền toàn thuộc về phủ chúa.
Chấp chính
Sau khi kinh đô được khôi phục, Trịnh Tùng tiến hành cải tổ quân đội và hành chính. Ông chia quân làm hai hạng chính:
- Ưu binh: tuyển từ Thanh Hóa và Nghệ An, làm túc vệ ở kinh sư, được cấp ruộng lộc và chức tước; về sau do cậy công mà sinh thói lộng hành, người đời gọi là kiêu binh.
- Nhất binh: lấy ở bốn trấn Bắc là Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây, làm nhiệm vụ trấn thủ, khi hết hạn thì được trở về làm ruộng.
Năm 1598, Trịnh Tùng ban lệnh lập cục làm giấy ở huyện Quảng Đức, dùng loại giấy đặc biệt cho các công văn quan trọng để ngăn việc làm giả chiếu chỉ. Ông cũng tổ chức duyệt tuyển binh lính và cải cách việc thu thuế, song do cấp dưới sách nhiễu dân nên gây ra bất bình trong nhân dân.
Năm 1599, khi Lê Thế Tông băng hà, Trịnh Tùng nhân việc thái tử Lê Duy Từ kém thông minh, đã lập em là Lê Duy Tân lên ngôi, tức vua Lê Kính Tông (khi ấy mới 12 tuổi). Ông còn gả con gái là Trịnh Thị Ngọc Trinh làm hoàng hậu, qua đó củng cố quyền lực chính trị trong triều.
Trong các năm sau, Trịnh Tùng liên tục điều hành việc nước, chăm lo việc quân, duyệt binh, phong thưởng công thần, và ban bố chính lệnh giảm thuế, cứu đói khi có thiên tai. Năm 1613, hỏa hoạn lớn thiêu rụi hơn một vạn nóc nhà ở Thăng Long, ông hạ lệnh miễn thuế ba năm cho dân, thể hiện chính sách khoan hòa, nhân đức.
Dẹp loạn cát cứ và chống phản loạn
Dưới triều Trịnh Tùng, tình hình đất nước chưa thật yên ổn. Dư đảng họ Mạc vẫn ẩn náu ở miền biên ải, trong khi ở các trấn, nhiều hào trưởng tự cát cứ.
Năm 1597, hai người là Nguyễn Đường Minh và Nguyễn Minh Trí âm mưu phản loạn, bị chúa phát giác và xử tử.
Năm 1600, Chúa Bầu họ Vũ ở Tuyên Quang (Vũ Đức Cung) nổi dậy xưng là Long Bình vương, chiếm giữ vùng núi, thu thuế mỏ bạc. Trịnh Tùng cử các tướng Hải quận công, Quảng quận công, Phụng quận công đem quân tiến đánh, buộc họ Vũ phải thần phục, nhưng dòng họ này vẫn cát cứ gần một thế kỷ nữa.
Cũng năm 1600, lợi dụng thời thế, Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê liên kết với Nguyễn Hoàng ở phía Nam, nổi dậy chống lại triều đình. Trong khi kinh sư rối loạn, Trịnh Tùng phải hộ giá vua Lê chạy vào Thanh Hóa. Khi lực lượng phản loạn tự tàn sát lẫn nhau, ông nhân cơ hội phản công, đem thủy bộ cùng tiến ra Thăng Long, đánh bại quân Mạc và khôi phục kinh đô vào ngày 2 tháng 8 năm 1600.
Năm 1601, Trịnh Tùng tiếp tục thân chinh đánh Nguyễn Dụng, tướng nhà Mạc ở Lãnh Giang, phá tan quân giặc, thu nhiều chiến lợi phẩm và bình định vùng Hải Dương, buộc Mạc Kính Cung phải chạy lên Lạng Sơn.
Những chiến thắng này đã củng cố hoàn toàn quyền lực của Trịnh Tùng, khiến triều đình nhà Lê trở nên phụ thuộc vào phủ chúa.
Sát hại vua Lê Kính Tông
Mùa xuân năm 1619, phủ chúa Trịnh bị hỏa hoạn, cháy lan đến tận cửa Đoan Môn của triều đình. Trong triều, vua Lê Kính Tông vốn bất bình vì Trịnh Tùng chuyên quyền, nên cùng Vạn quận công Trịnh Xuân, con trai thứ của chúa lập mưu ám sát ông. Âm mưu được thực hiện khi Trịnh Tùng ra bến Đông Hà xem đua thuyền. Nhưng nhờ linh cảm bất an, ông đổi lộ trình, tránh được cái chết. Quân lính bắt được kẻ chủ mưu là Văn Đốc, khai ra toàn bộ âm mưu có vua và Trịnh Xuân tham dự.
Ngày 23 tháng 6 năm 1619, Trịnh Tùng triệu tập bá quan, thân bưng mâm vàng trầu cau ra tuyên bố:
“Cha ta khởi nghĩa đón tiên đế, ta phò ba triều, trăm trận vào sinh ra tử, nay tuổi đã bảy mươi, vậy mà thánh thượng lại nghe lời phản nghịch, toan sát ta, há chẳng đau lòng sao?”
Các đại thần đồng thanh xin phế truất vua. Trịnh Tùng chỉ cho bắt giam Trịnh Xuân, cách chức tước, còn vua Lê Kính Tông bị buộc thắt cổ tự tử. Ông được truy phong là Giản Huy Đế, táng tại lăng Bố Vệ, nhưng không được phối thờ trong Thái miếu.
Sau đó, Trịnh Tùng lập con trai của Kính Tông và Trịnh Thị Ngọc Trinh lên ngôi, tức vua Lê Thần Tông (1620). Không lâu sau, ông tha cho Trịnh Xuân và phục lại chức vụ, một phần vì tình ruột thịt, một phần để giữ hòa khí trong họ.
Gia quyến
Cha mẹ
- Cha ông Thế Tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm (1503 – 1570)
- Mẹ đích là Từ Phúc Thái vương chính phi Lại Thị Ngọc Trân
- Mẹ ruột của ông là Từ Nghi vương thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo (mất năm 1586), người làng Gia Miêu (nay thuộc Hà Trung, Thanh Hóa).
Anh chị em: Trịnh Tùng là con trai thứ hai của Trịnh Kiểm, sau Tuấn Đức hầu Trịnh Cối (1535 – 1584). Ngoài ra, ông còn có các em là Dương Nghĩa công Trịnh Đỗ, Dịch Nghĩa công Trịnh Đồng, cùng hai chị gái là Trưởng thượng quận chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân và quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tôn. Trong số đó, Trịnh Cối từng được nối ngôi cha, song vì bất tài mà bị quân Mạc đánh bại, khiến binh tướng tan rã. Từ đó, quyền binh họ Trịnh chuyển hẳn vào tay Trịnh Tùng.
Chính thất và thứ thất
- Chính phi của Trịnh Tùng là Lại Thị Ngọc Nhu (賴氏玉柔), thụy hiệu Từ Huệ, người làng Quang Lãng, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa. Bà là con gái của Cẩn Lễ công Lại Thế Khanh, mất ngày 19 tháng 9 (không rõ năm), an táng tại làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương. Chính phi sinh ra Trịnh Túc, con trưởng của Trịnh Tùng.
- Thứ phi được sủng ái nhất là Đặng Thị Ngọc Dao (鄧氏玉瑤, 1556 – 1643), người làng Lương Xá, huyện Chương Đức, con gái của Nghĩa quốc công Đặng Huấn. Bà được phong Thái quốc thái phi, thụy hiệu Từ Huy, thọ 88 tuổi, mất vào ngày mồng 7 tháng Giêng năm Dương Hòa thứ 9 (1643), mộ táng tại làng Phúc Địa, huyện Thụy Nguyên. Bà sinh ra Trịnh Tráng, người kế vị ngôi chúa sau này.
Ngoài hai bà phi chính, Trịnh Tùng còn có nhiều cung tần khác:
- Thứ phi Dương Thị, mẹ của Quỳnh Nham công Trịnh Lệ.
- Chiêu nghi Ngô Thị Ngọc Lâm, thụy Từ Ân, người huyện Hà Trung, con ông Ngô Tín, được phong Đệ nhị á tần chiêu nghi, sau truy tặng Dục Thánh thái phi. Bà là mẹ của Đoan Từ hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, chính cung của vua Lê Kính Tông.
- Chiêu dung Bùi thị, con gái của Tiên quận công Bùi Bỉnh Uyên, sinh được bốn người con trai đều phong tước công.
- Lương Thị Ngọc Quế, sinh vương tử thứ mười hai Lộc quận công Trịnh Trà, song mất sớm, con nhỏ được giao cho cung tần khác nuôi dưỡng.
- Tăng Thị Ngọc Hồ, sinh ra quận chúa thứ tư Trịnh Thị Ngọc Thanh.
- Bùi Thị Khuê, con gái Phú quận công Bùi Khắc Nhất, cháu gọi Lại Chính phi bằng dì, sinh vương tử thứ chín Trịnh Triều.
- Mai Thị Ngọc Nho, người thôn Bảo Châu, xã Đông La, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, được ghi chép trong Mai Gia thế phả (1794).
- Cung phi Tô thị (mất năm 1614).
- Nguyễn Thị Ngọc Đô (1572 – 1604), người làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, dân gian tôn xưng là Bà chúa Đồn Trang.
- Ngoài ra còn có Thứ phi Madalena, một cung nhân được ghi trong tư liệu phương Tây, có thể là tín đồ Công giáo phục vụ trong phủ chúa.
Con cái: Trịnh Tùng có mười chín người con trai và chín người con gái.
- Con trai trưởng là Tín Lễ công Trịnh Túc (1574 – 1602), con của Chính phi Lại Thị Ngọc Nhu. Ông giữ chức Hiệp mưu đồng đức công thần Hữu tướng, nổi tiếng cường tráng, ham rượu, thích đua voi ngựa. Một lần cưỡi voi lội sông, bị voi húc chết, hưởng dương 28 tuổi. Ông sinh được hai con trai: Nhuệ quận công và Quế quận công.
- Thứ tử thứ hai là Tụng Nhạc công Trịnh Vân (1576 – 1621), công thần tán trị, từng giữ chức Hiệp mưu đồng đức.
- Thứ ba là Văn Tổ Nghị vương Trịnh Tráng (1577–1657), con của Thái phi Đặng Thị Ngọc Dao, người kế tục quyền chúa, mở rộng thế lực họ Trịnh.
- Thứ tư là Vạn quận công Trịnh Xuân (1578–1623), con của Chính phi Lại Thị Ngọc Nhu, từng tham gia âm mưu phản nghịch cùng vua Lê Kính Tông, bị xử phạt tàn khốc rồi chết trong ngục.
Các vương tử khác gồm:
- Mỹ Dự công Trịnh Lâm (1579 – 1619),
- Thuần Nghĩa công Trịnh Dương (1581 – 1627),
- Dũng Lễ công Trịnh Giai (1582 – 1630), con của Thái phi Ngọc Dao,
- Quỳnh Nham công Trịnh Lệ (1582 – 1629), con của Thứ phi Dương thị,
- Quảng quận công Trịnh Hàng (1583 – 1633), Tựu quận công Trịnh Triều (1584 – 1639), con của Bùi Thị Khuê,
- Lập quận công Trịnh Tuân (sinh năm 1585), con của Chiêu dung Bùi thị, Hựu quận công Trịnh Điện (sinh năm 1586), người khởi xướng nghề khắc bia, được tôn làm tiên sư, Lộc quận công Trịnh Trà, con của Lương Thị Ngọc Quế,
Cùng các vương tử khác như Trịnh Trinh, Trịnh Nha, Trịnh Quảng, Trịnh Quân, Trịnh Quang, Trịnh Tương, đều được phong tước công và giữ các chức Thái phó, Thiếu úy, Tả tư không, Quốc lão.
Các quận chúa: Trịnh Tùng có chín người con gái, nhiều người được gả vào các thế gia vọng tộc, góp phần củng cố thế lực họ Trịnh.
- Đoan Từ Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, con của Chiêu nghi Ngô Thị Ngọc Lâm, chính cung của vua Lê Kính Tông, mẹ đẻ vua Lê Thần Tông.
- Trịnh Thị Ngọc Thịnh, gả cho Lỵ quận công Nguyễn Cảnh Cống.
- Trịnh Thị Ngọc Mai, lấy Tứ quận công Ngô Phúc Tịnh.
- Trịnh Thị Ngọc Thanh, con của Tăng Thị Ngọc Hồ, được gả cho Thắng quận công Nguyễn Cảnh Hà (1583 – 1645) vào tháng 9 năm 1601.
- Trịnh Thị Ngọc Uyên, tư dung nết na, song ít được ghi chép.
Ngoài ra còn bốn quận chúa khác, sử sách không chép rõ tên.
Cuối đời – thờ phụng
Những năm cuối đời, Bình An vương Trịnh Tùng lâm bệnh nặng trong bối cảnh nội bộ họ Trịnh rối ren vì tranh chấp quyền kế vị giữa hai con là Thanh quận công Trịnh Tráng và Vạn quận công Trịnh Xuân. Dù đã định truyền ngôi cho Trịnh Tráng, song Trịnh Xuân không phục, đem quân làm loạn ngay trong phủ Chúa. Trong cơn bệnh, Trịnh Tùng vẫn gượng dậy quát mắng con, rồi được đưa ra khỏi kinh thành. Sau đó, Trịnh Xuân bị bắt và bị giết, khiến Trịnh Tùng đau đớn khôn nguôi. Ngày 16 tháng 7 năm 1623, ông mất tại chùa Thanh Xuân (Thanh Oai), thọ 74 tuổi, kết thúc hơn nửa thế kỷ nắm quyền, dựng nghiệp cho cơ đồ Lê – Trịnh.
Sau khi mất, vua Lê Thần Tông truy phong ông là Cung Hòa Khoan Chính Tiết vương, đến năm 1643 được tôn miếu hiệu Thành Tổ. Thi hài ông an táng tại quê nhà làng Sóc Sơn (nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Mộ xây theo lối trong quan ngoài quách, được dòng họ Trịnh và dân địa phương hương khói phụng thờ, tưởng niệm bậc khai nghiệp công thần.
Nhận định – đánh giá
Trịnh Tùng là một trong những nhân vật kiệt xuất bậc nhất của lịch sử Việt Nam thời Lê – Trịnh. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã sớm bộc lộ thiên tài quân sự bẩm sinh, thần cơ diệu toán, cầm quân như có mệnh trời, bách chiến bách thắng. Mới 22 tuổi đã phải gánh vác trọng trách trong cảnh quốc gia suy yếu, thế lực Nam triều lâm vào cơn nguy khốn, nhưng Trịnh Tùng vẫn vững vàng lèo lái, được tướng sĩ và bách quan tâm phục. Mười hai năm (1571 – 1583) ông liên tiếp đập tan mười cuộc tấn công của nhà Mạc, giữ vững căn cứ Thanh Hoa, gây dựng lực lượng để chuẩn bị cho đại nghiệp trung hưng.
Không chỉ là một danh tướng lỗi lạc, Trịnh Tùng còn là một nhà chính trị có tầm nhìn và lòng khoan dung hiếm có. Ông trọng dụng hiền tài, không câu nệ xuất thân, nhiều tướng nhà Mạc hàng phục vẫn được ông giữ chức trọng. Với tù binh, ông không giết hại mà chu cấp tiền gạo cho về quê, thể hiện tinh thần nhân nghĩa. Ngay cả với anh trai Trịnh Cối từng phản bội, ông vẫn cho đón linh cữu, an táng trọng thể. Tuy vậy, chính sự bao dung quá mức ấy về sau lại khiến ông phải trả giá, vì nể tình cha con mà dung thứ cho Trịnh Xuân, để rồi cuối đời phải chứng kiến cảnh nội loạn phủ Chúa, triều đình rối ren, bản thân mất giữa cơn binh biến.
Công lao lớn nhất của Trịnh Tùng là hoàn thành sự nghiệp trung hưng nhà Lê mà cha ông và Nguyễn Kim còn dang dở. Nếu như Trịnh Kiểm suốt 25 năm chỉ giữ được vùng Thanh Hóa trở vào, thì chỉ trong hơn mười năm, Trịnh Tùng đã quét sạch quân Mạc khỏi Đông Kinh, đưa vua Lê trở lại ngai vàng, mở ra thời kỳ “vua Lê – chúa Trịnh” ổn định kéo dài gần hai thế kỷ. Ông được xem là người mở nền thái bình cho trăm họ, khôi phục nguyên khí Đại Việt sau gần trăm năm nội chiến.
Uy danh của Trịnh Tùng vượt ra ngoài biên giới Đại Việt, Vua Minh Vạn Lịch từng sai sứ sang phong tặng, ban tám chữ vàng: “Quang hưng tiền liệt, định quốc nguyên huân”, ca ngợi ông là chân anh hùng trong đời. Trong nước, ông được sử gia và vua Lê tôn xưng là bậc khôi phục cơ đồ, trí dũng anh hào, lấy nhân nghĩa cứu dân, giữ yên xã tắc. Phan Huy Chú cũng ca ngợi ông là người dùng binh như thần, công trùm thiên hạ, danh vọng lừng lẫy.
Tuy nhiên, bên cạnh vinh quang, Trịnh Tùng cũng mang vết đen quyền lực. Việc ông giết vua Lê Kính Tông và tự xưng Vương bị các sử gia Nho học phê phán là tiếm quyền, gian thần như Vương Mãng, Tào Tháo. Song nhiều học giả hiện đại, trong đó có Nguyễn Khắc Thuần, cho rằng: nếu không có Trịnh Tùng thì cơ nghiệp họ Lê cũng không thể tồn tại; việc ông nắm quyền là hệ quả tất yếu của thời loạn, nơi mà mọi sự bất thường lại chính là sự thường.
Tựu trung, Trịnh Tùng là bậc anh hùng thời loạn, người vừa dựng nghiệp, vừa mở thời thái bình; là đấng khai tổ thực quyền của phủ Chúa Trịnh, công lớn như núi, lỗi cũng không nhỏ, nhưng xét theo lẽ lịch sử, ông vẫn là một trong những nhân vật quyết định vận mệnh Đại Việt cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, người đã đưa đất nước thoát khỏi cơn tàn suy, mở ra thời kỳ ổn định lâu dài dưới triều Lê trung hưng.
Tài liệu tham khảo
- Đào Duy Anh (2007), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin
- Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo TP.HCM
- Nguyễn Khoa Chiêm (1990), Nam triều công nghiệp diễn chí, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
- Ngô Thì Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Nxb Văn Sử.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
- Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
- Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nhiều tác giả (2021), Những vấn đề lịch sử thời Trịnh Nguyễn, Nxb Hồng Đức.
- Hoàng Xuân Hãn (1966), Gốc Tích Các Chúa Trịnh Và Bức Thư Nôm Của Trịnh Kiểm (trích Tập san sử địa số 3), Tập sách Khai Trí