Tên di sản: Lễ hội Bổ Đà
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Khu di tích chùa Bổ Đà và các di tích thuộc khu vực núi Bổ Đà, gắn với các thôn Thượng Lát, Hạ Lát, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh
Thời gian tổ chức: Chính hội từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Hai âm lịch hằng năm; ngày 12 tháng Chín âm lịch tổ chức lễ tưởng nhớ Thạch Linh Thần Tướng.
Đối tượng thờ phụng: Phật, các vị sư Tổ chùa Bổ Đà, Thạch Linh Thần Tướng; tại khu di tích còn có hệ thống thờ Tam giáo gồm Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo.
Cộng đồng thực hành: Nhân dân các thôn Thượng Lát, Hạ Lát, Kim Sơn và các vùng phụ cận; tăng ni, Phật tử và những người tham gia tổ chức lễ hội.
Nghi lễ và hoạt động đặc trưng: Giỗ Tổ, tế Tổ, lễ cúng Phật, lễ mộc dục, rước kiệu dâng lễ, tế Thạch Linh Thần Tướng, hát Quan họ, trò chơi dân gian và các hoạt động thể thao truyền thống.
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Lễ hội Bổ Đà là lễ hội truyền thống gắn với lịch sử hình thành và phát triển của chùa Bổ Đà cùng hệ thống đình, đền, chùa thuộc khu vực núi Bổ Đà. Lễ hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ các vị sư Tổ có công xây dựng, trùng tu chùa, thực hiện các nghi lễ thờ Phật và tưởng niệm Thạch Linh Thần Tướng theo tín ngưỡng dân gian địa phương. Chính hội diễn ra từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Hai âm lịch, với các nghi thức tế Tổ, dâng lễ cúng Phật, rước kiệu và những hoạt động văn hóa truyền thống. Ngoài ra, ngày 12 tháng Chín âm lịch, nhân dân còn tổ chức lễ tưởng nhớ Thạch Linh Thần Tướng tại hệ thống di tích liên quan đến sự tích của vị thần. Lễ hội thể hiện sự kết hợp giữa Phật giáo, tín ngưỡng dân gian bản địa và các hoạt động văn hóa cộng đồng của cư dân vùng Kinh Bắc.
Nguồn gốc và lịch sử lễ hội
Truyền tích về sự hình thành chùa Bổ Đà
Theo truyền tích dân gian, xưa kia trong vùng có một đôi vợ chồng làm nghề đốn củi, đã nhiều năm nhưng chưa có con. Một lần người chồng lên núi đốn củi, Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện và cho ông 32 đồng tiền từ cây thông già trên đỉnh núi. Người chồng khẩn cầu Đức Phật phù hộ cho vợ chồng sinh được con trai và nguyện sẽ dựng chùa thờ nếu điều mong ước thành hiện thực. Sau đó, hai vợ chồng sinh được một người con trai thông minh, tuấn tú. Để tạ ơn Quan Thế Âm Bồ Tát, người chồng dựng một ngôi chùa tại gốc cây thông già, gọi là chùa Quan Âm. Dân gian thường gọi ngôi chùa là chùa Bổ, gắn với tên núi Bổ Đà, về sau còn gọi là chùa Thượng do nằm ở vị trí cao trên sườn núi.
Sự hình thành lễ giỗ Tổ
Lễ hội Bổ Đà có nguồn gốc từ hoạt động tưởng niệm các vị sư Tổ đã có công xây dựng, trùng tu và phát triển chùa. Nhân dân địa phương lấy ngày 18 tháng Hai âm lịch làm ngày giỗ các vị sư Tổ. Ban đầu, lễ giỗ được tổ chức với quy mô đơn giản, chủ yếu là hoạt động dâng hương, lễ Phật và tưởng niệm tại chùa. Theo thời gian, số lượng người tham gia ngày càng đông, các hoạt động tế lễ được mở rộng và ngày giỗ Tổ dần trở thành ngày hội chung của cư dân trong vùng. Chính hội hiện được tổ chức trong ba ngày, từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Hai âm lịch.
Theo tư liệu về sinh hoạt lễ hội trước đây, lễ giỗ Tổ từng diễn ra trong khoảng từ ngày 15 đến ngày 19 tháng Hai âm lịch. Trong đó, lễ tế Tổ thường được tổ chức trước ngày chính hội một hoặc hai ngày để tránh ảnh hưởng bởi các hoạt động đông người. Việc tổ chức lễ tế do các làng Thượng Lát, Hạ Lát và Kim Sơn thay phiên đảm nhiệm, còn nhà chùa thực hiện các nghi lễ Phật giáo và phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của Phật tử.
Sự tích Thạch Linh Thần Tướng và lễ hội tháng Chín
Bên cạnh các nghi lễ Phật giáo, lễ hội Bổ Đà còn gắn với tín ngưỡng thờ Thạch Linh Thần Tướng, còn gọi là Thạch tướng quân. Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan quân giặc, Thạch Linh Thần Tướng lên đỉnh núi Phượng Hoàng, ngọn núi cao nhất trong dãy Bổ Đà sơn, rồi hóa về trời vào ngày 12 tháng Chín âm lịch. Nhân dân lập đền thờ tại đây và lấy ngày này làm dịp tưởng niệm. Đền Thượng quay mặt về phía Nam, nhìn ra sông Cầu, bên phải có núi Kim Sơn, bên trái là núi Bàn Cờ và phía sau có núi Con Voi. Các di tích Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, đình Thượng Lát và Ao Miếu đều gắn với sự tích, hoạt động thờ phụng Thạch Linh Thần Tướng.
Không gian tổ chức lễ hội
Lễ hội Bổ Đà diễn ra tại hệ thống di tích nằm xung quanh núi Bổ Đà, thuộc khu vực các thôn Thượng Lát và Hạ Lát. Trung tâm lễ hội là khu di tích chùa Bổ Đà, gồm các công trình như chùa Tứ Ân, chùa Quan Âm, chùa Cao cùng các khu vực vườn chùa, nội tự và vườn tháp. Các nghi lễ cúng Phật và tưởng niệm sư Tổ được thực hiện tại chính điện, nhà Tổ và những không gian thờ tự trong chùa. Khu vực sân rộng bên ngoài chùa là nơi tổ chức trò chơi dân gian, hoạt động thể thao và hát Quan họ.
Bên cạnh khu di tích chùa Bổ Đà, các nghi thức thờ Thạch Linh Thần Tướng được tổ chức tại đình Thượng Lát, Đền Trung, Đền Thượng và những địa điểm liên quan. Vào ngày hội, các đình, đền, chùa trong vùng đều mở cửa đón người dân và khách thập phương đến dâng hương, lễ Phật, lễ Thánh. Không gian lễ hội còn bao gồm các tuyến đường rước kiệu nối giữa những di tích, tạo thành hệ thống địa điểm thực hành tín ngưỡng chung của cộng đồng.
Các nghi lễ truyền thống trong chính hội tháng Hai
Công tác chuẩn bị lễ hội
Trước khi lễ hội diễn ra, chính quyền địa phương, các đoàn thể và đại diện các thôn tổ chức họp bàn, thống nhất chương trình và thành lập Ban Tổ chức. Các bộ phận được phân công phụ trách công tác khánh tiết, hậu cần, bảo vệ, chuẩn bị lễ vật, tổ chức tế lễ, rước kiệu và các hoạt động văn hóa. Từ ngày 16 tháng Hai âm lịch, những công việc chuẩn bị được triển khai tại các địa điểm chính của lễ hội, gồm vệ sinh khu vực đình, đền, chùa, thực hiện lễ mộc dục, làm sạch đồ thờ tự và đồ rước, trang trí cờ hội, cờ Phật pháp, cờ ngũ sắc và chuẩn bị các điều kiện phục vụ người tham gia. Các gia đình, dòng họ cũng chuẩn bị cỗ chay, cỗ mặn, bánh và những lễ vật để thờ cúng tổ tiên, cúng Thần, Phật và tiếp đón khách về dự hội. Theo lệ làng, các gia đình đóng góp kinh phí để chuẩn bị lễ cúng chung.
Lễ vật dâng cúng Phật
Lễ vật dâng cúng Phật tại chùa Bổ Đà được chuẩn bị theo hình thức lễ chay, gồm hoa quả, bánh kẹo, trầu cau, xôi oản và bánh chưng. Tùy từng năm, lễ vật còn có bánh dày, bánh khảo và những sản vật khác. Việc chuẩn bị lễ vật được thực hiện bởi nhân dân địa phương, các thôn và những người tham gia tổ chức lễ hội. Trong ngày chính hội, lễ vật được đặt lên kiệu, rước vào chùa và dâng tại ban Tam bảo cùng các ban thờ theo sự điều hành của vị sư trụ trì.
Lễ tế Tổ
Lễ tế Tổ là nghi thức tưởng niệm các vị sư Tổ có công xây dựng và phát triển chùa Bổ Đà. Theo lệ trước đây, việc tổ chức lễ tế do các làng Thượng Lát, Hạ Lát và Kim Sơn thay phiên phụ trách. Ban tế được các thôn lựa chọn và chuẩn bị, với những người đảm nhiệm vai trò Chủ tế, Đông xướng, Tây xướng và các quan viên tham gia nghi lễ. Chủ tế, Đông xướng và Tây xướng mặc áo đỏ, quần trắng, đội mũ tế và đi hài; các quan viên mặc áo xanh, quần trắng, đội mũ tế, đi hài; những người cao niên mặc áo the, khăn xếp màu đen. Lễ vật gồm đèn, trà, hoa quả và hương.
Lễ tế Tổ được tổ chức tại nhà Tiền tế và nhà Tổ tăng, thường bắt đầu vào khoảng 8 giờ và kết thúc khoảng 9 giờ 30 phút, tùy chương trình từng năm. Trước khi tiến hành nghi lễ, đại diện các cụ thượng của ba thôn dâng lễ và xin phép vị sư trụ trì. Trong thời gian Ban tế thực hiện nghi thức tại nhà Tổ, người dân có thể lễ Phật tại tòa Tam bảo. Sau khi lễ tế kết thúc, các sư tăng tiếp tục thực hiện nghi lễ cúng Tổ tại nhà Tổ tăng trong khoảng 30 phút. Khi nghi lễ của nhà chùa hoàn tất, nhân dân các làng và khách thập phương mới vào dâng lễ tưởng niệm.
Lễ cúng Phật và rước lễ ngày 18 tháng Hai
Sáng ngày 18 tháng Hai âm lịch, tại chùa Bổ Đà, các sư thực hiện nghi thức thỉnh kinh, gõ mõ và cúng Phật. Khoảng 8 giờ, nhân dân các thôn tập trung tại khu vực bên ngoài cổng chùa để tổ chức rước kiệu và lễ vật vào chùa. Đoàn rước có hai kiệu của thôn Thượng Lát và Hạ Lát, trên kiệu đặt các lễ vật như xôi oản, trầu cau, rượu, hương hoa và những vật phẩm dâng cúng khác. Đi đầu đoàn rước là đội cờ hội, đội trống, đội mang chấp kích, bát bửu, tiếp đến là đội khiêng kiệu gồm tám người. Hai bên kiệu có người cầm tàn, lọng che. Những người tham gia khiêng kiệu mặc áo nâu đỏ hoặc vàng, quần trắng, thắt đai lưng và quấn xà cạp ở chân.
Theo sau đội khiêng kiệu là đại diện các đoàn thể trong thôn, các cụ ông cao niên mặc áo the, khăn xếp, những người trong Ban tế mặc áo dài đỏ, vàng hoặc xanh, đội mũ chuồn và đi hia. Cuối đoàn là các cụ bà thuộc ban dâng hương, khoảng 20 người, mặc áo nâu. Theo lệ lựa chọn người tham gia, những gia đình có người đảm nhiệm việc rước phải là gia đình song toàn, không có tang trong năm; các cụ ông là những người đã lên lão, còn các cụ bà là những người đã quy y tại chùa.
Khi đoàn rước vào chùa, lễ vật được đặt lên ban Tam bảo và các ban thờ dưới sự điều hành của vị sư trụ trì. Sau đó, những người được giao nhiệm vụ tế lễ thực hiện nghi thức dâng cúng. Nội dung bài cúng thể hiện lòng thành kính của nhân dân đối với Phật, cầu mong quốc thái dân an, mọi người khỏe mạnh, cuộc sống bình yên, no đủ và mùa màng bội thu. Trong thời gian hành lễ, những người tham gia đoàn rước đứng thành hai hàng hai bên kiệu, cầm hương và đọc kinh Phật. Sau khi hoàn tất nghi thức cúng Tổ, nhà chùa mời những người tham gia rước ở lại dùng cơm chay. Một phần lễ vật được để lại chùa, phần còn lại chia cho các gia đình trong thôn cùng hưởng lộc.
Nghi lễ thờ Thạch Linh Thần Tướng
Lễ rước và tế tại các đền trong chính hội tháng Hai
Trong quá trình phát triển của lễ hội, các nghi thức thờ Thạch Linh Thần Tướng tại hệ thống Đền Hạ, Đền Trung và Đền Thượng được kết hợp với những hoạt động của hội chùa Bổ Đà. Theo tư liệu về lễ hội hiện nay, sáng ngày 17 tháng Hai âm lịch, nhân dân tập trung tế lễ tại Đền Hạ, sau đó tổ chức đoàn rước từ Đền Hạ lên Đền Trung để bái vọng Đền Thượng. Đoàn rước đi qua đình Lát Hạ, chùa Linh Chi, chùa Núi Đất rồi đến Đền Trung. Tại đây, kiệu và đồ rước được đặt lại để nhân dân thực hiện nghi thức bái vọng lên Đền Thượng. Sau lễ bái vọng, đoàn rước thực hiện lễ hoàn cung, còn một bộ phận người dân và khách thập phương tiếp tục lên núi dâng hương tại Đền Thượng, sau đó lễ Phật tại chùa Quan Âm và chùa Tứ Ân.
Lễ tưởng niệm ngày 12 tháng Chín
Ngoài chính hội tháng Hai, ngày 12 tháng Chín âm lịch hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ tưởng niệm Thạch Linh Thần Tướng, gắn với truyền thuyết về ngày hóa của vị thần. Lễ vật dâng cúng gồm mâm xôi gà, thịt lợn luộc, bánh chưng, xôi, oản và hoa quả. Sáng ngày 12 tháng Chín, tại đình Thượng Lát, một hồi chiêng trống được đánh lên để báo hiệu giờ khởi kiệu. Chủ tế mặc áo đỏ, quần trắng, đội mũ mấn, đi hia và thực hiện nghi thức đọc lời tế, khấn thỉnh các vị Thành hoàng. Kiệu bát cống sơn son thếp vàng được tám trai làng mặc áo đỏ khiêng theo nhịp trống chiêng.
Đoàn rước được tổ chức theo thứ tự gồm đội cờ hội, đội múa lân, sáu mâm lễ do 12 phụ nữ đã quy y thuộc đội dâng hương khiêng, bốn trai làng đóng vai lính mặc áo đỏ, thắt lưng bỏ múi, đội nón chóp và cầm cờ lệnh. Tiếp đến là đội khiêng trống, chiêng gồm năm người mặc áo đỏ, đội khăn quấn đầu; đội nhạc sử dụng kèn, sáo, nhị, hồ; đội tùy giá gồm 13 người mang kiếm, đại đao, bát bửu và lệnh bài. Trước kiệu có người cầm trống rồng, mặc áo the, khăn xếp, đi giật lùi để giữ nhịp cho đoàn rước. Kiệu Thánh do tám người khiêng, chia đều bốn người phía trước và bốn người phía sau, có tàn, lọng che phía trước và hai bên. Theo sau kiệu là đội tế gồm tám cụ mặc áo thụng xanh, đội mũ mấn, đi hia; ba cụ thượng mặc áo đỏ; mười cụ mặc áo the, khăn xếp, mang ô lục soạn; các cụ bà đã quy y thuộc đội dâng hương và cuối cùng là nhân dân trong thôn.
Đoàn rước di chuyển theo nhịp nhạc sênh tiền đến Đền Thượng để thực hiện nghi thức tế. Tại đây, cờ hội, chấp kích, bát bửu và đại đao được xếp thành hai hàng ở khu vực hành lễ. Phía trong là hai hàng quan viên phụ tế ở phía Đông và phía Tây. Trên sân trước điện thờ đặt một bàn nhỏ trải khăn đỏ, bên trên có hộp gỗ sơn đen đựng bộ ấm sứ dùng để rót rượu hành lễ, cạnh bàn đặt một chiếc trống trung. Mười tám quan viên đứng thành hai hàng hai bên. Đến giờ hành lễ, hai quan viên tiến lên đánh ba hồi chiêng trống, sau đó đội tế bắt đầu thực hiện các nghi thức và đọc chúc văn. Khi lễ tế kết thúc, chúc văn được hóa, nhân dân vào lễ Thánh và đoàn rước quay trở về đình Thượng Lát.
Hoạt động văn hóa và trò chơi dân gian
Bên cạnh các nghi thức thờ Phật, giỗ Tổ và tế Thánh, lễ hội Bổ Đà còn tổ chức những hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian và thi đấu thể thao. Các trò chơi truyền thống được ghi nhận gồm bịt mắt đập niêu, cờ tướng, cờ người, đấu vật và chọi gà. Những năm gần đây theo tư liệu, Ban Tổ chức còn đưa các môn thể thao như bóng chuyền và vật cổ truyền vào chương trình lễ hội. Những hoạt động này diễn ra chủ yếu tại khu vực sân rộng phía ngoài chùa, tạo điều kiện cho người dân và khách thập phương cùng tham gia.
Hát Quan họ là một hoạt động văn hóa đặc trưng trong chương trình lễ hội Bổ Đà. Từ năm 2006, địa phương bắt đầu tổ chức thi hát Quan họ trong dịp lễ hội, với sự tham gia của các liền anh, liền chị đến từ nhiều địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Các hình thức trình diễn gồm hát trên sân khấu, hát đối đáp, hát đơn, hát tốp nam nữ và các bài giọng vặt. Hoạt động này gắn với không gian văn hóa Kinh Bắc, đồng thời góp phần duy trì việc thực hành và giới thiệu Dân ca Quan họ trong sinh hoạt lễ hội. Ngày 30/9/2009, Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Các ngày lễ và sinh hoạt tín ngưỡng khác
Ngoài hai dịp lễ hội chính vào tháng Hai và tháng Chín âm lịch, chùa Bổ Đà còn duy trì những ngày giỗ các vị sư Tổ và các sinh hoạt Phật giáo theo lịch truyền thống. Các ngày giỗ được ghi nhận gồm ngày 26 tháng Tư âm lịch giỗ Hòa thượng Phạm Kim Hưng, ngày 20 tháng Sáu giỗ Hòa thượng tự Chiếu Không, ngày 2 tháng Chín giỗ Hòa thượng tự Tính Ánh, ngày 4 tháng Mười Hai giỗ Hòa thượng tự Chí Tâm và ngày 15 tháng Ba giỗ Hòa thượng Thích Quảng Luân. Những vị sư Tổ được tưởng niệm là những người có công xây dựng, mở mang và phát triển chùa; theo tư liệu, các vị từng cấp cho dân thôn 50 mẫu ruộng. Về sau, nhân dân thực hiện lễ tế chung vào ngày 18 tháng Hai và ngày 2 tháng Chín âm lịch.
Trong dịp Tết Nguyên đán, sáng mùng Một, các cụ trong vùng đến chùa hái lộc, thắp hương cầu phúc, đồng thời góp gạo để nhà chùa làm lễ và cùng nhau thụ lộc. Từ sau ngày 15 tháng Giêng, một số gia đình chung nhau xin sớ giải hạn và làm lễ cầu bình an cho gia đình trong năm mới. Vào các ngày rằm, mùng Một, người dân đến chùa thắp hương lễ Phật. Theo lệ được ghi nhận, vào những dịp này, các sư thu hái hoa quả chín trong vườn chùa để dâng cúng Phật, sau đó phân phát cho trẻ nhỏ trong làng. Ngoài ra, ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch tổ chức lễ Phật Đản; ngày rằm tháng Bảy tổ chức lễ Vu Lan, cúng cháo tại sân chùa và tụng kinh niệm Phật cầu siêu cho các vong linh.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Lễ hội Bổ Đà gắn với quá trình hình thành, phát triển của chùa Bổ Đà và lịch sử cư trú, khai phá vùng đất quanh núi Bổ Đà. Những nghi thức giỗ Tổ, tế Tổ và các ngày tưởng niệm sư Tổ phản ánh vai trò của các vị tăng sĩ trong việc xây dựng, mở mang chùa và hỗ trợ đời sống của cư dân địa phương. Các hoạt động thờ Thạch Linh Thần Tướng còn lưu giữ những truyền thuyết dân gian liên quan đến lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng.
Giá trị tôn giáo và tín ngưỡng: Lễ hội thể hiện sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa, trong đó nổi bật là việc thờ Phật, tưởng niệm các vị sư Tổ và thờ Thạch Linh Thần Tướng. Khu di tích chùa Bổ Đà còn có hệ thống thờ Tam giáo gồm Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, với các đối tượng thờ phụng như Phật, Lão Tử và Khổng Tử. Đây cũng là nơi gắn với các dòng thiền Lâm Tế, Trúc Lâm và từng là cơ sở đào tạo tăng ni thuộc Thiền phái Lâm Tế. Những yếu tố này phản ánh sự hiện diện và kết hợp của nhiều truyền thống tôn giáo, tín ngưỡng trong cùng một không gian văn hóa.
Giá trị văn hóa dân gian: Lễ hội bảo lưu những nghi thức truyền thống như giỗ Tổ, tế Tổ, lễ mộc dục, rước kiệu, dâng lễ cúng Phật và tế Thạch Linh Thần Tướng. Các nghi thức có sự tham gia của đội tế, đội rước, đội dâng hương, đội nhạc và những người đảm nhiệm các công việc phục vụ lễ hội. Bên cạnh đó, các trò chơi dân gian và hoạt động hát Quan họ góp phần duy trì những hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân vùng Kinh Bắc.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội được tổ chức với sự tham gia của nhà chùa, chính quyền địa phương, các thôn, đoàn thể, gia đình và dòng họ. Việc chuẩn bị lễ vật, đóng góp kinh phí, tổ chức đoàn rước và thực hiện các nghi thức tế lễ thể hiện vai trò của cộng đồng trong việc duy trì lễ hội. Các hoạt động chung tạo điều kiện để người dân gặp gỡ, giao lưu và duy trì mối quan hệ giữa các làng trong khu vực.
Giá trị giáo dục: Thông qua các nghi thức tưởng niệm sư Tổ, lễ Phật và tế Thạch Linh Thần Tướng, lễ hội góp phần truyền lại những câu chuyện, phong tục và quan niệm tín ngưỡng của địa phương. Việc thực hành lễ hội còn thể hiện truyền thống tưởng nhớ người có công, đạo lý uống nước nhớ nguồn và sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân. Các hoạt động văn hóa dân gian tạo điều kiện để thế hệ trẻ tìm hiểu những hình thức sinh hoạt truyền thống của cộng đồng.
Giá trị bảo tồn di sản: Lễ hội Bổ Đà duy trì hệ thống nghi lễ Phật giáo, nghi thức thờ thần và các hoạt động văn hóa dân gian tại nhiều di tích trong khu vực núi Bổ Đà. Sự kết hợp giữa lễ giỗ Tổ, các nghi thức rước tế tại hệ thống đền thờ Thạch Linh Thần Tướng và hội thi hát Quan họ phản ánh quá trình phát triển của lễ hội từ sinh hoạt tín ngưỡng tại chùa thành lễ hội vùng. Việc tiếp tục thực hành những nghi lễ và hoạt động này góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.
Lễ hội Bổ Đà là lễ hội truyền thống gắn với khu di tích chùa Bổ Đà và hệ thống di tích thờ Thạch Linh Thần Tướng tại vùng núi Bổ Đà. Lễ hội được tổ chức với các nghi thức giỗ Tổ, tế Tổ, cúng Phật, rước kiệu, tế Thánh cùng những hoạt động văn hóa dân gian, trong đó có hát Quan họ. Qua quá trình phát triển, lễ hội trở thành sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng, phản ánh sự kết hợp giữa Phật giáo, tín ngưỡng dân gian bản địa và truyền thống văn hóa Kinh Bắc. Với những giá trị lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa tiêu biểu, Lễ hội Bổ Đà được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017.
