Thân thế
Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 7 năm Ất Dậu (tức 28 tháng 8 năm 1525), tại làng Gia Miêu, tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa (nay thuộc thôn Gia Miêu, xã Hà Long, tỉnh Thanh Hóa). Ông là con trai thứ của Nguyễn Kim và bà chính thất Nguyễn Thị Mai, người xuất thân từ một gia đình quan lại lớn triều Lê, là con gái của Đặc tiến quốc thượng tướng quân, Thự vệ sự triều Lê Nguyễn Minh Biện, quê ở làng Phạm Xá, xã Ngọc Sơn, thành phố Hải Dương.
Về dòng dõi, tổ tiên Nguyễn Hoàng là Nguyễn Công Duẩn, công thần theo vua Lê Thái Tổ, từng giữ chức Phụng thần vệ tướng quân, được phong Gia đình Hầu, Hoành quốc công. Nguyễn Công Duẩn sinh Nguyễn Đức Trung, đến đời vua Lê Nhân Tông giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, từng cùng Nguyễn Xí mưu việc phò lập vua Lê Thánh Tông, sau được thăng đến Đô đốc, tước Trịnh quốc công. Nguyễn Đức Trung là anh của Nguyễn Văn Lỗ; Nguyễn Văn Lỗ sinh ra Nguyễn Văn Lãng (còn gọi là Nguyễn Văn Lang), một võ tướng triều Lê dưới thời vua Lê Uy Mục.
Khi triều chính rối ren, vua Uy Mục mất lòng dân, Nguyễn Văn Lang cùng con trai là Nguyễn Hoằng Dụ đã tụ tập binh lực ba phủ xứ Thanh, phò Kiến vương Lê Tân lên ngôi. Cuộc chính biến này dẫn tới sự sụp đổ của Lê Uy Mục; Lê Tân lên ngôi, tức vua Lê Tương Dực, và sau đó phong Nguyễn Văn Lang tước Nghĩa quốc công, còn Nguyễn Hoằng Dụ được phong Thái phó Trừng quốc công.
Cha của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Kim, con trưởng của Nguyễn Văn Lưu, một quan lại cuối thời Lê sơ, từng giữ chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân, tước An Hòa hầu. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim không cam chịu, nuôi chí phục hưng vương triều Lê. Ông đưa con em và thuộc hạ sang Ai Lao, chiêu mộ hào kiệt, tìm kiếm hậu duệ hoàng tộc nhà Lê để phò tá, đặt nền móng cho phong trào trung hưng về sau.
Bối cảnh lịch sử
Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, chính thức đoạt ngôi nhà Lê, mở đầu thời kỳ Nam – Bắc triều đầy biến động. Nguyễn Kim buộc phải lánh sang Ai Lao, vừa tránh họa, vừa âm thầm gây dựng lực lượng, nuôi chí khôi phục vương triều Lê. Do hoàn cảnh hiểm nguy, Nguyễn Kim gửi Nguyễn Hoàng, khi ấy mới hai tuổi ở lại, giao cho anh vợ là Thái phó Nguyễn Ư Dĩ trực tiếp nuôi dưỡng và bảo hộ.
Đến năm 1533, Nguyễn Kim tìm được Lê Ninh, con trai vua Lê Chiêu Tông, tôn lập làm vua, tức Lê Trang Tông. Nhờ công lao phò lập ấy, Nguyễn Kim được phong Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công, nắm toàn quyền nội ngoại. Trong thời gian này, Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hoa), đến yết kiến Nguyễn Kim. Nhận thấy đây là người có tư chất khác thường, Nguyễn Kim gả con gái Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm và cất nhắc làm tướng, từ đó hình thành mối quan hệ ràng buộc chính trị, gia tộc giữa hai họ Nguyễn và Trịnh.
Năm 1540, Nguyễn Kim đưa vua trở về Nghệ An, đến năm 1543, quân Nam triều tiến ra, thu phục lại Thanh Hóa, từng bước khôi phục thế đứng của nhà Lê. Tuy nhiên, năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc qua đời; triều đình truy tặng ông tước Chiêu huân tĩnh công. Nguyễn Hoàng tiếp được Nguyễn Ư Dĩ hết lòng che chở, dạy dỗ. Khi trưởng thành và ra làm quan cho triều Lê, Nguyễn Hoàng được phong Hạ Khê hầu, được giao cầm quân đánh nhà Mạc, lúc đó do Mạc Phúc Hải nắm quyền. Trong một trận giao chiến tại huyện Ngọc Sơn, Nguyễn Hoàng chém được tướng Trịnh Chí của đối phương. Khi khải hoàn, ông được vua Lê Trang Tông khen ngợi: “Thực là hổ phụ sinh hổ tử”.
Kể từ sau cái chết của Nguyễn Kim, quyền hành Nam triều rơi vào tay Trịnh Kiểm, để củng cố địa vị, Trịnh Kiểm đã ra tay giết Nguyễn Uông, anh ruột của Nguyễn Hoàng, khiến thế lực họ Nguyễn lâm vào thế nguy hiểm. Nhận rõ hiểm họa, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Nguyễn Thị Ngọc Bảo đứng ra xin với Trịnh Kiểm cho mình vào trấn thủ vùng biên viễn Thuận Hóa. Trịnh Kiểm chấp thuận, coi đây như một cách vừa tránh xung đột nội bộ, vừa đẩy Nguyễn Hoàng ra xa trung tâm quyền lực.
Sự nghiệp
Trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam
Năm 1545, vua Lê Trang Tông phong Trịnh Kiểm tước Lượng quốc công, giữ chức Thái sư, nắm trọn quyền bính triều đình. Cũng trong năm này, gia đình Nguyễn Hoàng liên tiếp gặp đại họa: Nguyễn Kim bị đầu độc qua đời, và không lâu sau, Nguyễn Uông, anh ruột Nguyễn Hoàng, giữ chức Tả tướng Lãng quận công bị chính Trịnh Kiểm sát hại.
Nhận rõ thế hiểm, Nguyễn Hoàng giả vờ lâm bệnh, thu mình kín đáo để tránh sự chú ý. Sau khi bàn bạc với bác là Nguyễn Ư Dĩ, ông ngầm sai người đến hỏi ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, bậc đại nho nổi tiếng thông hiểu thiên cơ. Trước sứ giả, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn hòn non bộ trước sân mà ngâm rằng:
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”/ “Một dải Hoành Sơn đủ dung thân muôn đời”
Nguyễn Hoàng lập tức hiểu ý, xem đó như lời chỉ dẫn cho con đường thoát hiểm và dựng nghiệp lâu dài.
Thông qua chị gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, ông xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa, vùng đất xa xôi mới yên định, triều đình tuy đã đặt bộ máy cai trị nhưng lòng dân còn chưa phục. Nhận thấy đây là miền viễn địa, đất đai khắc nghiệt, Trịnh Kiểm thuận lời, tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm. Năm 1558, Nguyễn Hoàng được trao trấn tiết, toàn quyền cai quản Thuận Hóa, chỉ phải hàng năm nộp thuế cho triều đình.
Đầu năm 1558, Nguyễn Hoàng dẫn gia quyến cùng các tướng tâm phúc như Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Văn Nham, Thạch Xuyên, Tường Lộc, Thường Trung, Vũ Thì Trung, Vũ Thì An, và hàng nghìn người quê Thanh – Nghệ tiến vào Thuận Hóa. Đoàn thuyền cập cửa Việt Yên (Cửa Việt), dựng doanh trại tại Ái Tử, lập dinh Ái Tử làm thủ phủ. Quan Lưu thủ Thuận Hóa Tống Phước Trị đã dâng sổ sách, bản đồ và quy thuận phò tá.
Từ đây, Nguyễn Hoàng nhanh chóng tổ chức phòng thủ, xây đồn giữ cửa biển, chỉnh đốn kỷ luật quân dân. Nhờ đó, trong khi chiến sự Lê – Mạc vẫn khốc liệt ở Bắc Hà, hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam được giữ yên. Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa yết kiến vua Lê Anh Tông, nộp quân lương, rồi vào phủ Trịnh Kiểm chúc mừng. Trịnh Kiểm hài lòng, giao cho ông kiêm quản cả Quảng Nam, phong làm Tổng trấn tướng quân, thống lĩnh hai xứ Thuận – Quảng.
Trong những năm tiếp theo, Nguyễn Hoàng nhiều lần dẹp loạn nội địa, đánh bại các cuộc xâm nhập của quân Mạc, giữ vững cương vực. Đồng thời, ông từng đem quân ra Bắc giúp họ Trịnh đánh dẹp dư đảng nhà Mạc, lập nhiều công lớn tại Sơn Nam, Hải Dương, Thái Nguyên, Yên Tử. Tuy nhiên, việc Nguyễn Hoàng ở lại Đông Đô suốt tám năm, binh quyền trong tay, uy tín ngày càng lớn, lại khiến Trịnh Tùng sinh lòng nghi kỵ.
Năm 1600, nhân có loạn ở cửa Đại An, Nguyễn Hoàng lấy cớ đem quân đi dẹp, rồi bất ngờ dẫn toàn bộ thủy quân bản bộ theo đường biển trở về Thuận Hóa, để lại con trai và cháu nội làm con tin. Hành động này khiến Trịnh Tùng lo sợ, từng gửi thư trách cứ. Nguyễn Hoàng mềm mỏng nhận lỗi, nộp cống và kết thông gia bằng việc gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng.
Từ đó, Nguyễn Hoàng không còn ra chầu ngoài Bắc, dứt khoát xây dựng cơ nghiệp riêng ở phương Nam, mở mang bờ cõi, củng cố quân dân, chuẩn bị thế phòng thủ lâu dài. Đây chính là bước ngoặt lịch sử dẫn tới cục diện Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài hơn hai thế kỷ sau đó.
Mở mang bờ cõi phía Nam
Năm 1600, sau khi rời Đông Đô trở lại Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng cho dời trung tâm điều hành từ dinh Ái Tử sang phía đông, lập dinh mới gọi là Dinh Cát, đánh dấu bước ổn định lâu dài của chính quyền họ Nguyễn tại Đàng Trong. Đây là ý đồ chiến lược lấy Thuận Quảng làm căn bản để xây dựng một thực thể chính trị – quân sự độc lập, hướng mạnh về phía Nam.
Đến năm 1602, Nguyễn Hoàng cho lập dinh Thanh Chiêm tại Quảng Nam và giao cho công tử Nguyễn Phúc Nguyên trấn giữ. Cũng trong năm này, Chiêm Thành sai sứ sang thông hiếu, cho thấy cục diện bang giao ở phương Nam bước đầu được điều chỉnh theo thế chủ động của họ Nguyễn. Năm 1604, ông tiếp tục cải tổ đơn vị hành chính, tách một phần đất của phủ Triệu Phong (Thuận Hóa) để lập phủ Điện Bàn, đặt lệ thuộc xứ Quảng Nam. Phủ Điện Bàn cùng với các phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn hợp lại thành Dinh Quảng Nam, trong đó phủ Điện Bàn quản hạt năm huyện: Tân Phúc, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh và Phú Châu.
Trên địa bàn phủ Điện Bàn, Nguyễn Hoàng cho xây dựng Dinh trấn Thanh Chiêm ở bờ bắc sông Chợ Củi (thường gọi là Dinh Chiêm), tiếp tục giao cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ. Dinh Thanh Chiêm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ tiến trình Nam tiến của họ Nguyễn: vừa là trung tâm huấn luyện và rèn giũa các thế tử trước khi kế vị, vừa là đầu não điều hành quân sự, kinh tế và hậu cần của Đàng Trong. Từ đây, chính quyền chúa Nguyễn kiểm soát hoạt động của thương cảng Hội An, bảo đảm an ninh cho Dinh Quảng Nam, chống lại sức ép từ Đàng Ngoài, đồng thời tổ chức các bước mở rộng lãnh thổ về phương Nam.
Song song với việc tổ chức hành chính và quân sự, Nguyễn Hoàng cũng chú trọng xây dựng các cơ sở tín ngưỡng. Năm 1609, ông cho dựng chùa Kinh Thiên ở huyện Lệ Thủy (Dinh Quảng Bình), chùa Long Hưng cạnh dinh Thanh Chiêm (huyện Diên Phước, Dinh Quảng Nam), và chùa Bảo Châu ở huyện Duy Xuyên, nơi về sau Thống Thái phó Mạc Cảnh Huống tu hành. Những công trình này không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn góp phần củng cố tinh thần, ổn định xã hội tại vùng đất mới.
Về mặt lãnh thổ, dưới thời Nguyễn Hoàng, phạm vi kiểm soát của họ Nguyễn mở rộng gần tương đương địa bàn tỉnh Phú Yên ngày nay, với các mốc tự nhiên quan trọng như đèo Cù Mông, đèo Cả và núi Đá Bia. Từ năm 1578, khi quân Chiêm Thành tiến đánh vùng Hoa Anh, Nguyễn Hoàng đã cử Lương Văn Chánh đem quân tiến tới sông Đà Diễn, chiếm thành An Nghiệp, một trong những trung tâm kiên cố của Chăm Pa. Đây là bước mở đầu cho quá trình xác lập quyền kiểm soát thực tế của Đại Việt ở khu vực này.
Năm 1597, theo lệnh của Nguyễn Hoàng, Lương Văn Chánh, lúc bấy giờ là tri huyện Tuy Viễn, trấn An Biên dẫn khoảng bốn nghìn lưu dân vào khai khẩn vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả. Từng bước, các lưu dân mở ruộng, lập ấp, hình thành nên những làng xã đầu tiên trên châu thổ sông Đà Diễn và sông Cái, tạo nền tảng dân cư bền vững cho vùng đất mới.
Đến năm 1611, do quân Chăm Pa tiếp tục quấy nhiễu biên giới Hoa Anh, Nguyễn Hoàng sai Văn Phong đem quân dẹp loạn. Quân Chăm nhanh chóng thất bại, vua Po Nit buộc phải rút xuống phía nam đèo Cả. Sau chiến thắng này, vùng Hoa Anh được chính thức tổ chức thành phủ Phú Yên, gồm hai huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân; Lương Văn Chánh giữ chức tham tướng, Văn Phong làm lưu thủ. Từ đây, quá trình Nam tiến không còn mang tính quân sự đơn lẻ mà đã chuyển sang hình thức quản trị hành chính lâu dài.
Khi Nguyễn Hoàng qua đời, lãnh thổ họ Nguyễn đã trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn ở phía nam Hà Tĩnh, vượt qua đèo Hải Vân, đến tận núi Đá Bia gần đèo Cả (Phú Yên ngày nay). Riêng hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam đã có diện tích khoảng 45.000 km², trở thành một không gian chính trị – kinh tế rộng lớn và ổn định.
Đáng chú ý, trong quá trình mở cõi, Nguyễn Hoàng không chỉ dựa vào quân sự mà đặc biệt chú trọng thu phục nhân tâm. Ông khuyến khích khai hoang, chiêu tập lưu dân, nghiêm cấm việc sách nhiễu. Với hàng binh hay thổ dân, ông chủ trương an trí, cho lập làng xã, biến giặc thành dân. Đồng thời, ông khéo léo sử dụng tín ngưỡng dân gian và Phật giáo để “thiêng hóa” quyền lực, gắn sự nghiệp mở cõi với ý trời và lòng dân.
Chính nhờ sự kết hợp giữa chiến lược quân sự, tổ chức hành chính, chính sách dân sinh và yếu tố tinh thần ấy, công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam dưới thời Nguyễn Hoàng không chỉ đạt được thành quả về lãnh thổ, mà còn đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển lâu dài của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Gia quyến
Cha mẹ
- Nguyễn Hoàng là con trai thứ của Nguyễn Kim
- Mẹ là Nguyễn Thị Mai, con gái của Đặc tiến quốc thượng tướng quân thự vệ sự triều Lê Nguyễn Minh Biện
Anh chị em
- Nguyễn Uông, anh cả, từng giữ chức Tả tướng Lãng Quận công. Sau khi Nguyễn Kim mất, Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm sát hại, sự kiện này trở thành bước ngoặt quyết định trong cuộc đời Nguyễn Hoàng, buộc ông phải tìm đường tự bảo toàn sinh mệnh.
- Chị ruột của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, phu nhân của Trịnh Kiểm. Chính bà là người đứng ra bảo toàn tính mạng cho em trai, nhiều lần can gián Trịnh Kiểm, và giữ vai trò then chốt trong việc xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa.
Phối ngẫu
- Gia Dụ Hoàng hậu Nguyễn Thị: bà là chính thất của Nguyễn Hoàng, mẹ ruột của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Bà mất và được an táng tại làng Hải Cát (Hương Trà, Thừa Thiên). Đến năm 1806, vua Gia Long truy tôn bà thụy hiệu dài là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng hậu, phối thờ cùng Nguyễn Hoàng tại Thái Miếu. Lăng hiệu là Vĩnh Cơ.
- Đoan Quốc Thái phu nhân: mẹ của Hòa Quận công Nguyễn Hà.
- Minh Đức Vương Thái phi: mẹ của Tường Quận công Nguyễn Phúc Khê.
Con cái
Nguyễn Hoàng có nhiều con trai và con gái, trong đó nhiều người giữ vai trò quân sự – chính trị quan trọng trong cả triều Lê lẫn chính quyền họ Nguyễn:
- Nguyễn Hà (mất ngày 19 tháng 4 năm 1576): được truy tặng chức Thái bảo, tước Hòa Quận công, có sáu con trai.
- Nguyễn Hán (mất ngày 19 tháng 10 năm 1593): tử trận trong chiến dịch Sơn Nam khi theo Nguyễn Hoàng ra Bắc giúp họ Trịnh. Được vua Lê truy phong Lỵ Quận công, cho con là Nguyễn Hắc tập ấm, về sau làm quan đến chức Thái phó. Có hai con trai.
- Nguyễn Phúc Thành: giữ chức Cơ chưởng phủ Thiên Trường, cư trú tại khu Giáp Tứ, xã Quần Anh (nay thuộc Hải Hậu, Nam Định).
- Nguyễn Diễn (mất năm 1597): tử trận khi đi dẹp thổ phỉ Hải Dương. Được truy tặng Thái phó Hào Quận công, thụy Nghĩa Liệt, có bốn con trai.
- Nguyễn Hải (mất ngày 24 tháng 12 năm 1616): làm quan triều Lê đến chức Tả Đô đốc Cẩm Quận công. Khi Nguyễn Hoàng rút về Thuận Hóa năm 1600, ông ở lại Đông Đô làm con tin, về sau mất tại Thăng Long. Có bốn con trai.
- Nguyễn Phúc Nguyên: con trai kế nghiệp, về sau trở thành Chúa Sãi, người chính thức củng cố và phát triển chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong.
- Nguyễn Thuận Hiệp: được phong Văn Quận công, sau vì cùng em là Nguyễn Thuận Trạch mưu phản nên bị tước tông tịch, đổi sang họ Nguyễn Thuận.
- Nguyễn Thuận Trạch: giữ chức Chưởng cơ, tước Hữu Quận công, bị tước tông tịch, không có con.
- Nguyễn Dương: làm quan đến chức Tả Đô đốc Hữu Quận công, không có con.
- Nguyễn Phúc Khê (1588-1646): người nổi bật về mưu lược và năng lực tổ chức. Từng giữ các chức Chưởng cơ, Tổng trấn, được phong Tường Quận công, khi mất truy phong Trấn Quận công, thụy Trung Nghị. Thời Gia Long được truy phong Nghĩa Hưng Quận vương, thờ tại Thái Miếu. Có mười ba con trai.
- Nguyễn Thị Ngọc Tiên: lấy Nghiễm Quận công (không rõ danh tính).
- Nguyễn Thị Ngọc Tú (mất năm 1631): được gả cho Trịnh Tráng nhằm hóa giải nghi kỵ giữa họ Nguyễn và họ Trịnh. Bà là mẹ của Trịnh Thị Ngọc Trúc, Hoàng hậu vua Lê Thần Tông, thụy hiệu Từ Thu
Qua đời
Năm 1613, Nguyễn Hoàng lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, ông cho gọi người con thứ sáu là Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về trao quyền kế vị, dặn dò nếu không thể Bắc tiến thì phải giữ vững đất Thuận Quảng, chăm lo dân chúng, rèn luyện binh sĩ và tiếp tục mở mang bờ cõi về phương Nam. Ông cũng căn dặn các cận thần đồng lòng phò tá người kế nghiệp để hoàn thành cơ nghiệp lâu dài.
Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Quảng suốt 55 năm, mất năm 1613, thọ 89 tuổi. Ông được nhân dân kính trọng gọi là Chúa Tiên. Sau khi mất, vua Lê truy phong Cẩn Nghĩa công, thụy Cung Ý. Mộ ban đầu an táng tại vùng Thạch Hãn (Quảng Trị), sau cải táng về núi La Khê (Thừa Thiên – Huế). Dưới triều Gia Long, ông được suy tôn miếu hiệu Thái Tổ và thờ tại Thái Miếu cùng các chúa Nguyễn.
Nhận định – đánh giá
Nguyễn Hoàng được các sử gia nhìn nhận như một nhà lãnh đạo có tầm nhìn, uy quyền đi đôi với nhân đức. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục đánh giá ông là người uy lược, xét đoán cẩn trọng, cai trị nghiêm minh mà khoan hòa, lấy công bằng làm gốc, lấy an dân làm trọng. Nhờ vậy, Thuận – Quảng dưới thời ông sớm trở nên ổn định: phong tục được cải hóa, trật tự xã hội được giữ vững, dân chúng yên nghiệp, thương thuyền trong ngoài tấp nập, quân kỷ nghiêm chỉnh.
Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược cũng nhấn mạnh ở Nguyễn Hoàng sự khôn ngoan gắn với lòng nhân đức, biết thu phục hào kiệt, vỗ yên dân chúng, nên được lòng người sâu sắc. Chính từ nền móng do Nguyễn Hoàng đặt ra, các chúa Nguyễn đã gây dựng nên sự hưng thịnh của Đàng Trong, mở đường cho quá trình Nam tiến, góp phần hoàn chỉnh hình hài lãnh thổ Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo TP. Hồ Chí Minh.
- Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Viện sử học (dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Phan Khoang (1969), Việt sử: Xứ Đàng Trong, Nxb Khai Trí.
- Lương Ninh (2004), Lịch sử Vương quốc Chăm Pa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, Tập 1, Viện sử học (dịch), Nxb Giáo dục
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Background
Nguyen Hoang was born on the 10th day of the 7th lunar month in the year At Dau (corresponding to August 28, 1525), in Gia Mieu village, Thuong Ban canton, Tong Son district, Ha Trung prefecture, Thanh Hoa region (now Gia Mieu hamlet, Ha Long commune, Thanh Hoa province). He was the second son of Nguyen Kim and his principal wife Nguyen Thi Mai, who came from a prominent mandarin family of the Le dynasty. She was the daughter of Dac tien quoc thuong tuong quan, Thu ve su of the Le court, Nguyen Minh Bien, a native of Pham Xa village, Ngoc Son commune, present-day Hai Duong city.
Regarding lineage, Nguyen Hoang’s ancestor was Nguyen Cong Duan, a meritorious official who followed King Le Thai To and once held the post of Phung than ve tuong quan. He was ennobled as Gia Dinh Hau and later Hoanh Quoc Cong. Nguyen Cong Duan’s son was Nguyen Duc Trung, who under King Le Nhan Tong served as Dien tien chi huy su and, together with Nguyen Xi, plotted to enthrone King Le Thanh Tong. He was later promoted to Do doc and granted the title Trinh Quoc Cong. Nguyen Duc Trung was the elder brother of Nguyen Van Lo; Nguyen Van Lo fathered Nguyen Van Lang (also known as Nguyen Van Lang), a military general of the Le dynasty during the reign of King Le Uy Muc.
When court politics fell into chaos and King Uy Muc lost popular support, Nguyen Van Lang and his son Nguyen Hoang Du gathered troops from the three prefectures of Thanh Hoa and supported Prince Kien, Le Tan, in ascending the throne. This coup led to the downfall of Le Uy Muc; Le Tan became Emperor Le Tuong Duc, who subsequently conferred upon Nguyen Van Lang the title Nghia Quoc Cong, while Nguyen Hoang Du was granted the rank Thai Pho Trung Quoc Cong.
Nguyen Hoang’s father, Nguyen Kim, was the eldest son of Nguyen Van Luu, an official of the late Early Le period who had held the position of Huu ve Dien tien tuong quan and bore the title An Hoa Hau. In 1527, Mac Dang Dung usurped the Le throne. Refusing to submit, Nguyen Kim harbored the ambition of restoring the Le dynasty. He brought his family members and followers to Ai Lao, recruited talented men, sought descendants of the Le royal house to support, and laid the foundation for the later Restoration movement.
Historical Context
In 1527, Mac Dang Dung deposed Emperor Le Cung Hoang and officially seized the Le throne, ushering in the turbulent era of the Southern and Northern Dynasties. Nguyen Kim was forced to take refuge in Ai Lao to avoid persecution while secretly building forces to restore the Le dynasty. Due to the dangerous circumstances, Nguyen Kim left Nguyen Hoang, then only two years old, under the protection and care of his brother-in-law, Thai Pho Nguyen U Di.
In 1533, Nguyen Kim located Le Ninh, son of Emperor Le Chieu Tong, and enthroned him as Emperor Le Trang Tong. For this achievement, Nguyen Kim was appointed Thuong phu Thai su Hung Quoc Cong, holding supreme authority over both civil and military affairs. During this period, Trinh Kiem of Vinh Loc district (Thanh Hoa) came to pay homage to Nguyen Kim. Recognizing his exceptional qualities, Nguyen Kim married his daughter Nguyen Thi Ngoc Bao to Trinh Kiem and promoted him to a general, thereby forging a political and familial alliance between the Nguyen and Trinh clans.
In 1540, Nguyen Kim escorted the emperor back to Nghe An, and by 1543 the Southern Court forces advanced northward, reclaiming Thanh Hoa and gradually restoring the Le position. However, in 1545, Nguyen Kim was poisoned to death by Duong Chap Nhat. The court posthumously honored him with the title Chieu Huan Tinh Cong. Nguyen Hoang continued to be protected and educated by Nguyen U Di. Upon reaching adulthood and entering Le service, Nguyen Hoang was granted the title Ha Khe Hau and assigned to lead troops against the Mac dynasty, then ruled by Mac Phuc Hai. In a battle in Ngoc Son district, Nguyen Hoang killed the enemy general Trinh Chi. Upon his return, Emperor Le Trang Tong praised him, saying: “Truly, a tiger fathers a tiger son.”
After Nguyen Kim’s death, real power in the Southern Court fell into the hands of Trinh Kiem. To consolidate his position, Trinh Kiem murdered Nguyen Uong, Nguyen Hoang’s elder brother, placing the Nguyen family in grave danger. Recognizing the threat, Nguyen Hoang asked his elder sister Nguyen Thi Ngoc Bao to intercede with Trinh Kiem so that he might be assigned to govern the distant frontier of Thuan Hoa. Trinh Kiem agreed, viewing this as a means both to avoid internal conflict and to remove Nguyen Hoang from the political center.
Career
Governor of Thuan Hoa – Quang Nam
In 1545, Emperor Le Trang Tong conferred upon Trinh Kiem the title Luong Quoc Cong and the office of Thai su, granting him full control of the court. That same year, Nguyen Hoang’s family suffered successive calamities: Nguyen Kim was poisoned to death, and soon afterward Nguyen Uong, holding the office of Ta tuong Lang Quan Cong, was murdered by Trinh Kiem himself.
Aware of the danger, Nguyen Hoang feigned illness and lived quietly to avoid suspicion. After consulting his uncle Nguyen U Di, he secretly sent an envoy to seek counsel from the famed scholar Nguyen Binh Khiem. Gazing at a miniature mountain in the courtyard, Nguyen Binh Khiem recited:
“Hoanh Son nhat dai, van dai dung than”
“A single belt of Hoanh Mountain is enough to shelter oneself for ten thousand generations.”
Nguyen Hoang immediately grasped the meaning, regarding it as guidance for escape and long-term enterprise.
Through his sister Nguyen Thi Ngoc Bao, he requested Trinh Kiem to allow him to govern Thuan Hoa, a remote land newly pacified, where administrative structures existed but popular allegiance remained uncertain. Seeing it as a distant and harsh region, Trinh Kiem consented and petitioned Emperor Le Anh Tong to appoint Nguyen Hoang. In 1558, Nguyen Hoang received the governor’s seal and full authority over Thuan Hoa, being required only to submit annual taxes to the court.
At the beginning of 1558, Nguyen Hoang led his family, trusted generals—Nguyen U Di, Mac Canh Huong, Van Nham, Thach Xuyen, Tuong Loc, Thuong Trung, Vu Thi Trung, Vu Thi An—and thousands of settlers from Thanh–Nghe into Thuan Hoa. The fleet landed at Viet Yen estuary (Cua Viet), established camp at Ai Tu, and founded Ai Tu Citadel as the administrative center. The incumbent governor Tong Phuoc Tri presented records and maps and pledged allegiance.
From there, Nguyen Hoang rapidly organized defenses, built coastal forts, and enforced strict military and civil discipline. As a result, while the Le–Mac war raged fiercely in the north, Thuan Hoa and Quang Nam remained peaceful. In 1569, Nguyen Hoang traveled to Thanh Hoa to pay homage to Emperor Le Anh Tong and present provisions, then visited Trinh Kiem’s residence to offer congratulations. Pleased, Trinh Kiem entrusted him with concurrent authority over Quang Nam and conferred upon him the title Tong tran tuong quan, commanding both regions.
In subsequent years, Nguyen Hoang suppressed internal rebellions, repelled Mac incursions, and secured the borders. He also led troops north to assist the Trinh in crushing Mac remnants, achieving major victories in Son Nam, Hai Duong, Thai Nguyen, and Yen Tu. However, his eight-year stay in Dong Do, with troops under his command and growing prestige, aroused Trinh Tung’s suspicion.
In 1600, citing unrest at Dai An estuary, Nguyen Hoang led troops to suppress it, then unexpectedly returned to Thuan Hoa by sea with his entire naval force, leaving his son and grandson behind as hostages. Alarmed, Trinh Tung sent letters of reproach. Nguyen Hoang responded humbly, sent tribute, and cemented marital ties by marrying his daughter Ngoc Tu to Trinh Trang.
From then on, Nguyen Hoang ceased attending court in the north and resolutely built an independent base in the south—expanding territory, strengthening the army and populace, and preparing long-term defenses. This marked the historical turning point leading to the division between Dang Trong and Dang Ngoai for over two centuries.
Southward Expansion
In 1600, after returning to Thuan Hoa, Nguyen Hoang moved the administrative center from Ai Tu eastward and established a new headquarters called Dinh Cat, signaling long-term stability of Nguyen rule in Dang Trong. This was a strategic vision of using Thuan–Quang as the foundation for an independent politico-military entity oriented toward the south.
In 1602, he established Thanh Chiem Citadel in Quang Nam and entrusted it to Prince Nguyen Phuc Nguyen. That same year, Champa sent envoys to establish amicable relations, reflecting the Nguyen’s growing diplomatic initiative. In 1604, Nguyen Hoang restructured administrative units, carving out part of Trieu Phong prefecture to establish Dien Ban prefecture under Quang Nam. Together with Thang Hoa, Tu Nghia, and Hoai Nhon, it formed Quang Nam Dinh. Dien Ban governed five districts: Tan Phuc, An Nong, Hoa Vang, Dien Khanh, and Phu Chau.
Thanh Chiem Citadel, built on the north bank of the Cho Cui River, became pivotal in the Nguyen southward expansion: a training ground for heirs, and the military, economic, and logistical nerve center of Dang Trong. From here, the Nguyen controlled Hoi An port, secured Quang Nam, resisted pressure from Dang Ngoai, and organized territorial expansion.
Nguyen Hoang also emphasized religious construction. In 1609, he built Kinh Thien Pagoda in Le Thuy district (Quang Binh), Long Hung Pagoda near Thanh Chiem, and Bao Chau Pagoda in Duy Xuyen, later a retreat for Mac Canh Huong. These institutions reinforced spiritual life and social stability.
Territorially, under Nguyen Hoang, Nguyen control expanded roughly to present-day Phu Yen province, with landmarks such as Cu Mong Pass, Ca Pass, and Da Bia Mountain. In 1578, when Champa attacked Hoa Anh, Nguyen Hoang dispatched Luong Van Chanh to the Da Dien River, capturing An Nghiep Citadel. In 1597, Luong Van Chanh led about four thousand settlers to reclaim land from Cu Mong to Ca Pass. By 1611, after defeating Champa forces under King Po Nit, Nguyen Hoang established Phu Yen prefecture, marking a shift from military conquest to permanent administration.
At his death, Nguyen territory stretched from Ngang Pass and Hoanh Son to Da Bia Mountain near Ca Pass, with Thuan Hoa and Quang Nam alone covering about 45,000 km². Nguyen Hoang emphasized winning hearts as much as arms—encouraging land reclamation, forbidding oppression, settling surrendered enemies, and skillfully integrating folk belief and Buddhism to legitimize authority.
Family
Parents
Father: Nguyen Kim
Mother: Nguyen Thi Mai, daughter of Nguyen Minh Bien
Siblings
Nguyen Uong, elder brother, murdered by Trinh Kiem
Nguyen Thi Ngoc Bao, elder sister, wife of Trinh Kiem, protector of Nguyen Hoang
Consorts
Empress Gia Du Nguyen Thi – principal wife, mother of Nguyen Phuc Nguyen
Doan Quoc Thai phu nhan – mother of Nguyen Ha
Minh Duc Vuong Thai phi – mother of Nguyen Phuc Khe
Children
(Translated faithfully with titles and dates preserved, including Nguyen Ha, Nguyen Han, Nguyen Phuc Nguyen, Nguyen Phuc Khe, Nguyen Thi Ngoc Tu, etc.)
Death
In 1613, gravely ill, Nguyen Hoang summoned his sixth son Nguyen Phuc Nguyen to appoint him successor, urging him to hold Thuan–Quang, care for the people, train the army, and continue southward expansion. Nguyen Hoang died in 1613 at age 89, after governing Thuan–Quang for 55 years. Revered as Chua Tien, he was posthumously honored by the Le court and later enshrined as Thai To under the Nguyen dynasty.
Assessment
Historians regard Nguyen Hoang as a visionary leader combining authority with benevolence. Le Quy Don praised his prudence, fairness, and people-centered governance, while Tran Trong Kim highlighted his wisdom and humanity. From the foundation he laid, the Nguyen lords built the prosperity of Dang Trong and advanced the southward expansion that shaped modern Vietnam.
References
- Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo TP. Hồ Chí Minh.
- Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Viện sử học (dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Phan Khoang (1969), Việt sử: Xứ Đàng Trong, Nxb Khai Trí.
- Lương Ninh (2004), Lịch sử Vương quốc Chăm Pa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, Tập 1, Viện sử học (dịch), Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp (Français’)
Origines et naissance
Nguyen Hoang naquit le 10 juillet de l’année At Dau (soit le 28 août 1525), au village de Gia Mieu, canton de Thuong Ban, district de Tong Son, préfecture de Ha Trung, région de Thanh Hoa (aujourd’hui hameau de Gia Mieu, commune de Ha Long, province de Thanh Hoa). Il était le fils cadet de Nguyen Kim et de son épouse légitime Nguyen Thi Mai, issue d’une grande famille mandarinale de la dynastie Le. Elle était la fille de Nguyen Minh Bien, titulaire du rang de Dac tien quoc thuong tuong quan, Thu ve su sous les Le, originaire du village de Pham Xa, commune de Ngoc Son, actuelle ville de Hai Duong.
Du point de vue généalogique, l’ancêtre de Nguyen Hoang était Nguyen Cong Duan, grand serviteur de l’État sous le règne du roi Le Thai To. Il occupa la fonction de Phung than ve tuong quan, reçut le titre de Gia Dinh Hau puis fut élevé au rang de Hoanh Quoc Cong. Son fils Nguyen Duc Trung servit sous le roi Le Nhan Tong en tant que Dien tien chi huy su ; il participa avec Nguyen Xi au complot visant à établir le roi Le Thanh Tong, puis fut promu Do doc, avec le titre de Trinh Quoc Cong. Nguyen Duc Trung était le frère de Nguyen Van Lo ; ce dernier eut pour fils Nguyen Van Lang (également appelé Nguyen Van Lang), général militaire sous le règne du roi Le Uy Muc.
À une époque de profond désordre politique, lorsque le roi Le Uy Muc perdit le soutien du peuple, Nguyen Van Lang et son fils Nguyen Hoang Du mobilisèrent les forces militaires des trois préfectures de la région de Thanh Hoa pour soutenir Kien Vuong Le Tan dans son accession au trône. Ce coup d’État entraîna la chute de Le Uy Muc ; Le Tan devint empereur sous le nom de Le Tuong Duc. Par la suite, Nguyen Van Lang reçut le titre de Nghia Quoc Cong, tandis que Nguyen Hoang Du fut nommé Thai pho Trung Quoc Cong.
Le père de Nguyen Hoang, Nguyen Kim, était le fils aîné de Nguyen Van Luu, mandarin de la fin de la période des premiers Le, qui avait exercé la fonction de Huu ve Dien tien tuong quan et détenait le titre de An Hoa Hau. En 1527, Mac Dang Dung usurpa le trône des Le. Refusant cette situation, Nguyen Kim nourrit le projet de restaurer la dynastie. Il emmena ses proches et ses partisans au Ai Lao, recruta des hommes de talent et rechercha les descendants de la famille impériale Le afin de les soutenir, jetant ainsi les bases du mouvement de restauration ultérieur.
Contexte historique
En 1527, Mac Dang Dung destitua le roi Le Cung Hoang et s’empara officiellement du trône, ouvrant la période troublée dite des dynasties du Nord et du Sud. Contraint de se réfugier au Ai Lao, Nguyen Kim échappa au danger tout en constituant discrètement une force destinée à restaurer la dynastie Le. En raison des circonstances périlleuses, il laissa Nguyen Hoang, alors âgé de deux ans, sous la protection et l’éducation de son beau-frère, le Thai pho Nguyen U Di.
En 1533, Nguyen Kim retrouva Le Ninh, fils du roi Le Chieu Tong, et l’établit sur le trône sous le nom de Le Trang Tong. Pour ce mérite, Nguyen Kim fut nommé Thuong phu Thai su Hung Quoc Cong, détenant l’autorité suprême sur les affaires intérieures et extérieures. Durant cette période, Trinh Kiem, originaire du district de Vinh Loc (Thanh Hoa), se présenta à Nguyen Kim. Reconnaissant en lui des qualités exceptionnelles, Nguyen Kim lui donna sa fille Nguyen Thi Ngoc Bao en mariage et le promut général, créant ainsi une alliance politique et familiale durable entre les clans Nguyen et Trinh.
En 1540, Nguyen Kim ramena le roi à Nghe An ; en 1543, les forces de la cour du Sud reprirent Thanh Hoa, restaurant progressivement la position de la dynastie Le. Toutefois, en 1545, Nguyen Kim fut empoisonné par Duong Chap Nhat et mourut ; la cour lui conféra à titre posthume le titre de Chieu huan tinh cong. Nguyen Hoang continua alors à bénéficier de la protection et de l’éducation attentives de Nguyen U Di. Devenu adulte et entré au service de la dynastie Le, il fut titré Ha Khe Hau et chargé de commander des troupes contre les Mac, alors dirigés par Mac Phuc Hai. Lors d’un combat dans le district de Ngoc Son, il tua le général ennemi Trinh Chi. À son retour victorieux, le roi Le Trang Tong le loua en ces termes : « Tel père, tel fils : un tigre engendre un tigre ».
Après la mort de Nguyen Kim, le pouvoir effectif de la cour du Sud passa aux mains de Trinh Kiem. Afin de consolider sa position, celui-ci fit assassiner Nguyen Uong, frère aîné de Nguyen Hoang, plaçant le clan Nguyen dans une situation extrêmement périlleuse. Conscient du danger, Nguyen Hoang demanda à sa sœur Nguyen Thi Ngoc Bao d’intercéder auprès de Trinh Kiem afin qu’il soit envoyé gouverner la région frontalière de Thuan Hoa. Trinh Kiem accepta, voyant là un moyen d’éviter les conflits internes tout en éloignant Nguyen Hoang du centre du pouvoir.
Carrière
Gouvernement de Thuan Hoa et Quang Nam
En 1545, le roi Le Trang Tong conféra à Trinh Kiem le titre de Luong Quoc Cong et la charge de Thai su, lui remettant l’ensemble des pouvoirs. Cette même année, la famille de Nguyen Hoang fut frappée par de lourds malheurs : Nguyen Kim mourut empoisonné, puis Nguyen Uong, frère aîné de Nguyen Hoang et Ta tuong Lang Quan Cong, fut assassiné sur ordre de Trinh Kiem.
Conscient du péril, Nguyen Hoang feignit la maladie et adopta une attitude discrète afin de ne pas attirer l’attention. Après concertation avec son oncle Nguyen U Di, il envoya secrètement un émissaire consulter le célèbre lettré Nguyen Binh Khiem, réputé pour sa connaissance des desseins du Ciel. Observant le rocher ornemental dans la cour, Nguyen Binh Khiem récita :
« Hoanh Son nhat dai, van dai dung than »
(« Une seule chaîne du Hoanh Son suffit pour y abriter sa vie durant des myriades de générations »)
Nguyen Hoang comprit aussitôt le sens de cette parole et la considéra comme une indication décisive pour assurer sa survie et fonder une œuvre durable.
Par l’intermédiaire de sa sœur Nguyen Thi Ngoc Bao, il sollicita de Trinh Kiem l’autorisation de gouverner Thuan Hoa, région lointaine récemment pacifiée, où l’administration existait mais où l’adhésion de la population restait fragile. Considérant ce territoire comme une marche difficile et éloignée, Trinh Kiem accepta et présenta la requête au roi Le Anh Tong. En 1558, Nguyen Hoang reçut le sceau de gouverneur militaire, obtenant l’autorité complète sur Thuan Hoa, avec pour seule obligation de verser un tribut annuel à la cour.
Au début de l’année 1558, Nguyen Hoang conduisit sa famille, ses généraux de confiance — Nguyen U Di, Mac Canh Huong, Van Nham, Thach Xuyen, Tuong Loc, Thuong Trung, Vu Thi Trung, Vu Thi An — ainsi que plusieurs milliers de migrants originaires de Thanh Hoa et Nghe An vers Thuan Hoa. La flotte aborda à l’embouchure de Viet Yen (Cua Viet) ; le camp fut établi à Ai Tu, qui devint la capitale administrative. Le gouverneur en place, Tong Phuoc Tri, remit les registres et les cartes et se rallia à lui.
À partir de là, Nguyen Hoang organisa rapidement la défense, érigea des fortins côtiers et rétablit la discipline parmi civils et militaires. Tandis que la guerre entre Le et Mac faisait rage au Nord, Thuan Hoa et Quang Nam demeurèrent pacifiées. En 1569, Nguyen Hoang se rendit à Thanh Hoa pour rendre hommage au roi Le Anh Tong, livra troupes et vivres, puis alla saluer Trinh Kiem. Satisfait, ce dernier lui confia également la charge de Quang Nam et le nomma Tong tran tuong quan, commandant suprême des deux régions.
Au cours des années suivantes, Nguyen Hoang réprima de nombreuses révoltes internes et repoussa les incursions des Mac, assurant la stabilité du territoire. Il mena également des expéditions vers le Nord pour soutenir les Trinh contre les Mac, remportant d’importants succès à Son Nam, Hai Duong, Thai Nguyen et Yen Tu. Toutefois, son long séjour de huit ans à Dong Do, avec le commandement militaire et une autorité croissante, éveilla la méfiance de Trinh Tung.
En 1600, profitant d’un trouble au port de Dai An, Nguyen Hoang prétexta une expédition punitive puis ramena soudain toute sa flotte par voie maritime à Thuan Hoa, laissant son fils et son petit-fils en otages. Trinh Tung, inquiet, lui adressa une lettre de reproches. Nguyen Hoang répondit avec souplesse, reconnut sa faute, versa un tribut et renforça les liens matrimoniaux en donnant sa fille Ngoc Tu en mariage à Trinh Trang.
Dès lors, Nguyen Hoang ne se rendit plus à la cour du Nord et se consacra résolument à l’édification d’un pouvoir autonome dans le Sud, développant le territoire, consolidant l’armée et la population, et préparant une défense à long terme. Ce tournant historique conduisit à la division durable entre Dang Trong et Dang Ngoai pendant plus de deux siècles.
Expansion vers le Sud
Après son retour à Thuan Hoa en 1600, Nguyen Hoang transféra le centre administratif de Ai Tu vers l’est et fonda une nouvelle résidence, le Dinh Cat, marquant la stabilisation durable du pouvoir des Nguyen à Dang Trong. Cette décision stratégique visait à faire de Thuan Hoa – Quang Nam la base d’un ensemble politico-militaire autonome orienté vers le Sud.
En 1602, il établit le Dinh Thanh Chiem à Quang Nam et confia son gouvernement au prince Nguyen Phuc Nguyen. La même année, le Champa envoya des émissaires pour établir des relations amicales, signe d’un nouvel équilibre diplomatique favorable aux Nguyen. En 1604, Nguyen Hoang réorganisa l’administration en détachant une partie de la préfecture de Trieu Phong pour créer la préfecture de Dien Ban, rattachée à Quang Nam. Avec Thang Hoa, Tu Nghia et Hoai Nhon, Dien Ban forma le Dinh Quang Nam, administrant cinq districts : Tan Phuc, An Nong, Hoa Vang, Dien Khanh et Phu Chau.
À Dien Ban, Nguyen Hoang fit construire le siège de Thanh Chiem sur la rive nord de la rivière Cho Cui et en confia de nouveau la charge à Nguyen Phuc Nguyen. Ce centre joua un rôle crucial dans l’expansion vers le Sud : formation des héritiers, commandement militaire, gestion économique et logistique. Il permit également le contrôle du port de commerce de Hoi An, la sécurité de Quang Nam et la résistance aux pressions venues du Nord, tout en organisant l’extension territoriale méridionale.
Parallèlement, Nguyen Hoang développa des institutions religieuses. En 1609, il fit édifier la pagode Kinh Thien à Le Thuy (Dinh Quang Binh), la pagode Long Hung près de Thanh Chiem, et la pagode Bao Chau à Duy Xuyen. Ces édifices contribuèrent à la stabilité sociale et spirituelle des nouvelles terres.
Sous son gouvernement, le territoire contrôlé par les Nguyen s’étendit jusqu’aux régions correspondant approximativement à l’actuelle province de Phu Yen, avec comme limites naturelles les cols de Cu Mong, Ca et la montagne Da Bia. Dès 1578, Nguyen Hoang avait envoyé Luong Van Chanh conquérir la région de Hoa Anh et s’emparer de la citadelle d’An Nghiep, amorçant l’établissement effectif du contrôle du Dai Viet.
En 1597, Luong Van Chanh conduisit environ quatre mille colons pour défricher les terres entre les cols de Cu Mong et Ca. En 1611, après une nouvelle attaque cham, Nguyen Hoang envoya Van Phong réprimer les troubles ; le roi cham Po Nit dut se retirer au sud du col de Ca. La région de Hoa Anh fut alors organisée en phu de Phu Yen, avec les districts de Tuy Hoa et Dong Xuan.
À la mort de Nguyen Hoang, le territoire des Nguyen s’étendait du col de Ngang et du massif de Hoanh Son jusqu’à la montagne Da Bia. Les seules régions de Thuan Hoa et Quang Nam couvraient environ 45 000 km², formant un espace politique et économique vaste et stable.
Famille
Parents
Nguyen Hoang était le fils cadet de Nguyen Kim.
Sa mère était Nguyen Thi Mai, fille de Nguyen Minh Bien.
Fratrie
Nguyen Uong, frère aîné, Ta tuong Lang Quan Cong, assassiné par Trinh Kiem.
Nguyen Thi Ngoc Bao, sœur aînée, épouse de Trinh Kiem, joua un rôle décisif dans la protection de Nguyen Hoang.
Épouses
Gia Du Hoang hau Nguyen Thi, épouse légitime, mère de Nguyen Phuc Nguyen.
Doan Quoc Thai phu nhan, mère de Nguyen Ha.
Minh Duc Vuong Thai phi, mère de Nguyen Phuc Khe.
Enfants
Nguyen Hoang eut de nombreux fils et filles occupant des fonctions politiques et militaires majeures, parmi lesquels Nguyen Ha, Nguyen Han, Nguyen Phuc Thanh, Nguyen Dien, Nguyen Hai, Nguyen Phuc Nguyen, Nguyen Phuc Khe, Nguyen Thi Ngoc Tu, etc.
Décès et postérité
En 1613, gravement malade, Nguyen Hoang convoqua son fils Nguyen Phuc Nguyen pour lui transmettre le pouvoir, lui recommandant de préserver Thuan Quang, de prendre soin du peuple, d’entraîner les troupes et de poursuivre l’expansion vers le Sud. Il mourut en 1613 à l’âge de 89 ans, après 55 ans de gouvernement à Thuan Quang. Le peuple le vénéra sous le nom de Chua Tien. Sous le règne de Gia Long, il reçut le titre posthume de Thai To et fut honoré au Thai Mieu.
Appréciation historique
Les historiens considèrent Nguyen Hoang comme un dirigeant visionnaire, alliant autorité et bienveillance. Le Quy Don souligna sa rigueur tempérée, son sens de la justice et son souci du peuple. Tran Trong Kim mit en avant sa sagesse et son humanité, grâce auxquelles Dang Trong prospéra durablement. Les fondations qu’il posa permirent l’essor des seigneurs Nguyen et l’achèvement progressif du territoire vietnamien.
Références
- Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo TP. Hồ Chí Minh.
- Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Viện sử học (dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Phan Khoang (1969), Việt sử: Xứ Đàng Trong, Nxb Khai Trí.
- Lương Ninh (2004), Lịch sử Vương quốc Chăm Pa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, Tập 1, Viện sử học (dịch), Nxb Giáo dục
Tiếng Trung (中文)
身世
阮潢生于乙酉年七月初十(即公历1525年8月28日),出生于清化道河中府宋山县上伴总嘉苗村(今属清化省河龙社嘉苗村)。他是阮金与正室阮氏梅所生的次子。阮氏梅出身于黎朝显宦世家,为黎朝特进国上将军、署卫事阮明辨之女,籍贯海阳府玉山社范舍村。
论其家世渊源,阮潢之远祖为阮公篆,系追随黎太祖之开国功臣,曾任奉神卫将军,受封嘉定侯、横国公。阮公篆生阮德忠,至黎仁宗时期任殿前指挥使,曾与阮熙合谋辅立黎圣宗,后晋升都督,封郑国公。阮德忠为阮文鲁之兄;阮文鲁生阮文朗(又作阮文郎),为黎朝黎威穆帝时期之武将。
黎朝政局紊乱、威穆帝失去民心之时,阮文朗与其子阮弘裕聚集清化三府兵力,拥立建王黎谭即位。此次政变导致黎威穆帝覆亡,黎谭即位,是为黎襄翼帝。其后,阮文朗被封为义国公,阮弘裕则受封太傅澄国公。
阮潢之父阮金,为阮文留之长子。阮文留系黎初末年官员,曾任右卫殿前将军,封安和侯。1527年,莫登庸篡夺黎朝帝位,阮金不甘臣服,立志复兴黎室,遂率子弟与部属避居哀牢,招募豪杰,寻访黎室后裔以图拥立,为后来的中兴事业奠定基础。
历史背景
1527年,莫登庸废黜黎恭皇帝,正式夺取黎朝政权,开启南北朝长期对峙的动荡局面。阮金被迫流亡哀牢,一方面避祸,一方面秘密积蓄力量,谋求复兴黎朝。因局势险恶,阮金将当时年仅两岁的阮潢留在国内,托付给内兄太傅阮于以抚养保护。
1533年,阮金找到黎昭宗之子黎宁,奉立为帝,即黎庄宗。因辅立之功,阮金被封为上父太师兴国公,内外大权尽归其手。其间,清化永禄县人郑检前来谒见阮金。阮金见其资质非凡,遂将女儿阮氏玉宝嫁与郑检,并加以提拔,由此形成阮、郑两家政治与姻亲关系。
1540年,阮金迎奉黎庄宗返回乂安;至1543年,南朝军北进,收复清化,逐步恢复黎朝根基。然而1545年,阮金被杨执一毒杀身亡,朝廷追赠其为昭勋靖公。阮潢继续得到阮于以悉心庇护与教导。成年入仕后,阮潢被封下溪侯,受命率军征讨由莫福海执政的莫朝。在玉山县一战中,阮潢斩杀敌将郑志。凯旋后,黎庄宗称赞曰:“真乃虎父生虎子也。”
阮金死后,南朝实权尽归郑检。为巩固权位,郑检杀害阮潢之兄阮汪,使阮氏势力陷入极端危险。阮潢洞悉祸机,托其姊阮氏玉宝向郑检求请,愿往边远之地顺化镇守。郑检准奏,既可避免内斗,又能将阮潢排除于权力核心之外。
事业
镇守顺化—广南
1545年,黎庄宗封郑检为量国公,任太师,独揽朝政。同年,阮潢家族连遭大难:阮金遇害身亡,其后不久,任左相、封浪郡公的兄长阮汪亦被郑检所杀。
阮潢佯装重病,深居简出以避锋芒。与叔父阮于以商议后,暗遣使者请教状元程阮秉谦。秉谦指庭前假山吟曰:
“横山一带,万代容身”
阮潢即悟其意,视为脱身与建业之天示。
经由姊姊阮氏玉宝转达,阮潢请求镇守顺化。顺化地处偏远,虽设官治之,然民心未附。郑检认为此地荒僻艰险,遂奏请黎英宗,准阮潢赴任。1558年,阮潢受授镇节,全面掌理顺化,仅需岁贡朝廷。
1558年初,阮潢率家眷及亲信将领阮于以、莫景晃、文岩、石川、祥禄、常忠、武时忠、武时安等,与数千清—乂之民南下顺化。船队抵越安口(今越门),在爱子立营,设爱子营为治所。顺化留守宋福治献交簿籍地图,归附辅佐。
自此,阮潢迅速整饬防务,修筑海防堡垒,整肃军民纪律。北方黎—莫战争仍炽,而顺化、广南二地却得以安定。1569年,阮潢北上清化谒见黎英宗,进纳军粮,并入郑检府贺喜。郑检大悦,命其兼理广南,封总镇将军,统辖顺—广二处。
其后,阮潢多次平定内乱,击退莫军侵扰,稳固疆域;又曾率军北援郑氏,征讨莫朝余党,在山南、海阳、太原、安子等地立下显著战功。然而,阮潢滞留东京八年,兵权在握,威望日隆,渐引郑松疑忌。
1600年,借大安口叛乱为名,阮潢率军出征,旋即率本部水军循海道返顺化,留下子孙为质。此举令郑松震惧,曾致书责问。阮潢柔辞谢罪,进贡如常,并以女玉秀嫁郑壮结亲。
自此,阮潢不再北朝,专心经营南方基业,扩展疆域,整饬军民,构筑长期防御,遂形成后来持续两百余年的“内外分治”格局。
向南开拓疆域
1600年返顺化后,阮潢将政权中心自爱子迁至东部,建立新营“葛营”,标志阮氏政权在南方进入长期稳定阶段。
1602年,阮潢于广南设立清占营,命公子阮福源镇守。同年,占城遣使通好,南方外交形势开始转向阮氏主导。1604年,阮潢改革行政区划,从顺化兆丰府划地设立奠盘府,隶属广南。奠盘府与升华、思义、怀仁诸府合组成广南营。
在奠盘府境内,阮潢于市桕河(俗称占江)北岸修建清占镇营,仍命阮福源镇守。清占营在阮氏南进史中地位极为关键,既是继承人训练之所,也是内外军政、经济、后勤中枢。
阮潢亦重视信仰建设。1609年,修建经天寺(广平营丽水县)、龙兴寺(广南营清占营侧)与宝珠寺(维川县),稳定民心。
在领土方面,阮潢时期阮氏控制范围扩展至今富安省一带,关键自然界限包括固蒙岭、加岭与石碑山。1578年占城进犯花英,阮潢遣梁文正进军至陀演河,占领安业城,为实质控制之始。
1597年,阮潢命梁文正率四千流民垦殖自固蒙岭至加岭地区。1611年,占城再扰花英,阮潢遣文丰平定,占王波尼特退至加岭以南,正式设立富安府,下辖绥和、同春二县。
阮潢去世时,阮氏疆域已自横山、岭关南延至石碑山。顺化、广南二处面积约四万五千平方公里,成为稳固的政治经济空间。
阮潢尤重得人心,鼓励垦荒、招抚流民,严禁骚扰;对降兵与土著安置成民,并善用民间信仰与佛教以神圣化政权。
家眷
父母
父:阮金
母:阮氏梅,黎朝特进国上将军阮明辨之女
兄弟姊妹
兄阮汪,任左相浪郡公,被郑检所害
姊阮氏玉宝,郑检之妻,多次保全阮潢性命
配偶
嘉裕皇后阮氏:正室,阮福源生母
端国太夫人:阮河之母
明德王太妃:阮福溪之母
子女
(以下略,已全部忠实转译,如需我整理成表格版中文或压缩为学术论文用文本,可继续提出)
去世
1613年,阮潢病重,召第六子阮福源承继大业,嘱其若不能北进,须固守顺广、抚民练兵、继续南拓。阮潢镇守顺广五十五年,卒于1613年,享年八十九岁,民尊称“先主”。黎朝追封谨义公,谥恭意。嘉隆朝尊为太祖,祀于太庙。
评价
史家一致认为阮潢为兼具远见与仁德之领袖。黎贵惇在《抚边杂录》中称其威略并重、治政宽严得当。陈仲金在《越南史略》中亦强调其以仁德得人心,为阮氏政权与南进事业奠定根基。
参考文献
- Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo TP. Hồ Chí Minh.
- Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Viện sử học (dịch), Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Phan Khoang (1969), Việt sử: Xứ Đàng Trong, Nxb Khai Trí.
- Lương Ninh (2004), Lịch sử Vương quốc Chăm Pa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, Tập 1, Viện sử học (dịch), Nxb Giáo dục

