Chùa Đông Thiền (Chùa Đông Thuyền – Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế)

Chùa Đông Thiền (Chùa Đông Thuyền – Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Đông Thiền là tên gọi phổ biến được sử dụng, tuy nhiên, trong đời sống dân gian, chùa còn được gọi với một số tên khác. Một cách gọi thường gặp là “chùa Đông Thuyền”, xuất phát từ sự nhầm lẫn giữa hai chữ “Thiền” và “Thuyền” trong cách hiểu phổ thông. Theo lời giải thích của một sư cô Thích Nữ Diệu Đạt – trụ trì chùa, việc gọi sai này phản ánh sự chưa thấu đáo về khái niệm “Thiền” trong Phật giáo. Ngoài ra, dân gian Huế còn truyền tụng câu: “Trống Đông Thuyền, chuông Thiên Mụ” hoặc “Trống Đông Thiền, chuông Linh Mụ”, cho thấy sự nổi tiếng của chiếc trống chùa Đông Thiền được đặt song song với chuông chùa Thiên Mụ – hai biểu tượng âm thanh linh thiêng của xứ Huế. Bên cạnh đó, trong văn tự, chùa còn được biết đến với tên gọi cổ kính là “Linh Sơn Đông Thuyền cổ tự”.

Về vị trí địa lý, chùa Đông Thiền tọa lạc tại số 65/2 đường Lê Ngô Cát, thuộc làng Dương Xuân xưa, nay là phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Vị trí của chùa cách trung tâm thành phố khoảng 5 kilômét về phía nam. Chùa Đông Thiền nằm gần khu vực Kinh thành Huế, góp phần tạo nên một không gian tâm linh đặc trưng giữa lòng thành phố. 

Lịch sử và nhân vật

Chùa Đông Thiền mang nhiều dấu ấn lịch sử và gắn liền với các nhân vật hoàng tộc triều Nguyễn. Theo sử liệu, chùa được ngài Tế Vĩ (hay Tế Vỹ Trường Chiếu), đệ tử của Tổ Liễu Quán, thuộc đời thứ 36 của phái thiền Lâm Tế, khai sơn vào khoảng cuối thế kỷ XVII hoặc XVIII. Thời điểm ban đầu, đây chỉ là một thảo am nhỏ do ngài Tế Vĩ dựng lên để hương khói cho tháp mộ thầy mình. Có giả thiết cho rằng sau khi ngài viên tịch, thảo am không người kế thừa nên bị suy tàn, đất chùa bị bỏ hoang và bị người dân địa phương khai khẩn sử dụng. Tuy nhiên, một chiếc khánh đồng hiện còn lưu tại chùa có khắc dòng chữ “Hoằng Nguyện Nguyễn Thị Châu, thân tử Trương Văn Đang tín cúng Tam bảo Đông Thiền tự khai sơn Sa môn Tế Vĩ”, cùng lạc khoản ghi rõ ngày 5 tháng 12 năm 1767, cho thấy ngài Tế Vĩ còn tại thế vào thời điểm đó.

Tuy không rõ năm sinh, năm xuất gia hay năm viên tịch của ngài, nhưng hiện nay tại chùa vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích quan trọng về ngài. Tấm bia tháp trong vườn chùa khắc rõ hàng chữ: “臨濟正宗三十六世開山東禪上長下照謚圓號大老和尚塔” – “Lâm Tế chánh tông tam thập lục thế, khai sơn Đông Thiền tự, thượng Trường hạ Chiếu, thụy Viên Hiệu, Đại Lão Hòa thượng tháp”.

Tại bàn thờ Tổ của chùa, long vị của ngài ghi: “傳臨濟正宗第三十六世開山本寺上長下照諱際偉謚圓號老大師法座” – “Truyền Lâm Tế chánh tông đệ tam thập lục thế, khai sơn bổn tự, thượng Trường hạ Chiếu, húy Tế Vĩ, thụy Viên Hiệu, lão Đại sư Pháp tòa”.

Ngoài ra, tại chùa còn giữ được một chiếc khánh đồng cổ có giá trị lịch sử lớn. Mặt trước của khánh ghi dòng chữ: “弘願阮氏珠,親子張文?,信供三寶東禪寺開山沙門際偉伏願,佛日增輝法輪常轉” – “Hoằng nguyện Nguyễn Thị Châu, thân tử Trương Văn (?), tín cúng Tam Bảo Đông Thiền Tự khai sơn Sa môn Tế Vĩ phục nguyện: Phật nhật tăng huy, Pháp luân thường chuyển”.

Mặt sau khắc: “咒密丁亥年辛亥月乙亥日” – “Chú mật Đinh Hợi niên, Tân Hợi nguyệt, Ất Hợi nhật”. Năm Đinh Hợi này có thể là 1776 hoặc 1827. Nếu là 1776, thì có thể khẳng định chùa Đông Thiền được khai sơn vào khoảng nửa sau thế kỷ XVIII.

Đặc biệt, tại bàn thờ Tổ còn có một long vị khác có thể là của đệ tử Đại sư Tế Vĩ Trường Chiếu. Long vị ấy ghi: “嗣臨濟正宗三十七代諱大光上慧下照謚正聞和尚” – “Tự Lâm Tế chánh tông tam thập thất đại, húy Đại Quang, thượng Tuệ hạ Chiếu, thụy Chánh Văn Hòa thượng.” Điều này cho thấy sự tiếp nối thiền mạch tại chùa Đông Thiền, cũng như tầm ảnh hưởng của ngài đối với lịch sử Phật giáo vùng đất kinh kỳ.

Chùa Đông Thiền đặc biệt gắn bó với hoàng thất triều Nguyễn, nổi bật nhất là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Cơ (còn gọi là Ngọc Ky). Bà là hoàng nữ thứ 13 của vua Gia Long, sinh năm 1808, mẹ là Nguyễn Đình Thị Vĩnh. Năm 1829 hoặc 1830, bà được gả cho Vệ úy Nguyễn Huỳnh Thành, con trai Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Năm 1832, chồng và hai con trai của bà lần lượt qua đời, khiến bà ngộ ra lẽ vô thường của kiếp người. Từ đó, công chúa xuất gia tại Đông Thiền, pháp danh Hữu Châu, pháp tự Thiên Hương, với bổn sư là thiền sư Tánh Thông Giác Ngộ. Nhờ sự trợ cấp từ vua Minh Mạng và tài sản riêng, bà mua lại đất và phục hồi chùa, đổi tên thành Đông Thiền, đồng thời tôn trí long vị ngài Tế Vĩ. Theo quy tắc Phật giáo, vì là tỳ kheo ni, bà không thể đứng tên khai sơn nên đã thỉnh ngài Đạo Tâm Trung Hậu – một hòa thượng danh tiếng ở chùa Thuyền Tôn – làm tọa chủ danh dự. Phía sau chánh điện, bà cho xây một từ đường để thờ chồng, con và cha mẹ chồng, đồng thời mua ruộng đất ở hai xã Dương Xuân để lấy hoa lợi lo việc cúng tế.

Năm 1838, dân làng dựng bia đá ghi lại công đức của công chúa, ban đầu đặt tại mặt tiền từ đường. Đến năm 1842, vua Thiệu Trị cho trùng tu chùa và ban biển ngạch “Linh Sơn Đông Thiền tự”. Năm 1844, công chúa làm hội chủ đúc chuông chùa, khắc tên mình và mẹ. Bà mất năm 1856 và được vua Tự Đức truy phong tước hiệu Định Thái Hòa Trưởng công chúa, thụy là Đoan Nhàn.

Tiếp nối công chúa Ngọc Cơ là ni sư Viên Thông, cũng xuất thân từ hoàng tộc, con gái của Kiến An Vương. Bà từng đính hôn, nhưng chồng mất trước lễ cưới nên quyết tâm đi tu, cùng tu học với cô ruột là Ngọc Cơ. Sau khi Ngọc Cơ viên tịch, ni sư tiếp tục quản lý chùa một thời gian. Đến năm 1887 (Đồng Khánh thứ 2), bà được vua ban tặng ngân bài khắc bốn chữ “Tiết hạnh khả phong”.

Một nhân vật hoàng tộc khác cũng gắn bó với chùa là bà Bùi Mộng Điệp – vợ thứ của vua Bảo Đại – người từng được tổ chức lễ nhập tự tại từ đường của công chúa Ngọc Cơ, cho thấy mối liên hệ sâu sắc giữa Đông Thiền và triều Nguyễn kéo dài qua nhiều đời.

Tuy nhiên, từ thập niên 1930, chùa rơi vào cảnh hoang phế vì không có sư thường trú. Đến mùa thu năm 1975, sư bà Thích Nữ Diệu Không (thế danh Hồ Thị Hạnh, con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung) được Giáo hội Phật giáo Bình Trị Thiên cử làm trụ trì. Bà là người đã sáng lập sáu ngôi chùa ni khác và là một nhân vật tiêu biểu của Phật giáo Huế thế kỷ XX. Sau đó, bà giao lại việc phục hồi Đông Thiền cho ni cô Thích Nữ Diệu Đạt. Năm 1987, sư bà Diệu Không cùng sư cô Diệu Đạt đã trùng tu lại chùa, khôi phục kiến trúc cổ kính, tạo nên một nơi tu học khang trang, tôn nghiêm. Năm 1988, bà cho xây cổng tam quan và bổ sung phần chữ Quốc ngữ phía sau bia đá cổ.

Mặc dù trải qua thời gian và biến động lịch sử, chùa Đông Thiền vẫn giữ được hồn cốt kiến trúc cổ xưa và lưu giữ nhiều di vật quý giá như khánh đồng, bia đá, tượng thờ cổ, chuông và trống lớn. Đặc biệt, chiếc trống từng được người dân truyền tụng qua câu nói “trống Đông Thiền, chuông Linh Mụ” như một biểu tượng linh thiêng của ngôi chùa hơn hai thế kỷ tuổi này.

Kiến trúc và cảnh quan

Chùa Đông Thiền nổi bật với kiến trúc cổ kính được bảo tồn tinh tế và cảnh quan thiên nhiên tĩnh lặng, hài hòa. Tọa lạc trên một ngọn đồi tròn cao ráo, có hình dáng như mai rùa, chùa giữ được vẻ an yên dù nằm trong lòng phố thị. Dưới chân đồi là dòng khe suối uốn lượn, phía sau tiếp giáp núi rừng, hai bên có triền đồi bao quanh, tạo nên thế đất vững chãi và thơ mộng. Khuôn viên chùa rộng khoảng năm mẫu (gần 3.000m²), rợp bóng cây xanh và thoáng mát quanh năm.

Tổng thể kiến trúc chùa hiện nay được trùng tu vào năm 1987 dưới sự hướng dẫn của sư bà Thích nữ Diệu Không và sư cô Thích nữ Diệu Đạt. Việc trùng tu giữ gìn tối đa đường nét điêu khắc thuần khiết, bình dị và trang nhã của mỹ thuật đầu thời Nguyễn, nhờ đó vẻ đẹp cổ xưa vẫn hiện hữu qua từng mái ngói, khung gỗ.

Công trình đầu tiên là cổng tam quan với màu lam chủ đạo, mái lợp ngói âm dương, trang trí hoa văn rồng chầu, hổ phù đội pháp luân, bát bửu, câu đối Hán văn và phù điêu minh họa cuộc đời Đức Phật, tất cả đều khảm sành sứ công phu. Trên tầng hai đặt tượng Hộ Pháp quay mặt vào trong. Qua cổng là sân chùa phủ cỏ xanh, nối liền với chánh điện và các công trình phụ trợ.

Cảnh quan xung quanh được chăm chút kỹ lưỡng: vườn hoa với cúc, sống đời, bát tiên rực rỡ; những khóm hồng đỏ, vàng, tím dọc lối đi; phía bên phải là vườn rau xanh tốt, đủ rau khoai, mồng tơi, xà lách phục vụ bữa ăn chay đạm bạc. Lối vào khu sinh hoạt nội viện rợp bóng cây xanh, tạo không gian thanh tịnh và gần gũi.

Giữa sân chùa có hồ hoa súng và hòn non bộ nhỏ, phía trên là tượng Quan Âm đá trắng, phía dưới là tượng rồng mạ vàng bao quanh hồ cá. Một bi đình nhỏ đặt giữa sân bảo tồn bia đá cổ, mặt sau khắc chữ Hán và chữ quốc ngữ ghi chép lịch sử chùa.

Chánh điện là tòa nhà rường ba gian hai chái, mái thấp và nhỏ dần lên phía trên, gợi liên tưởng đến phủ đệ của hoàng thân triều Nguyễn. Trên mái gắn các hoa văn rồng chầu, mai hóa rồng bằng sành sứ. Bên trong, không gian rộng và thoáng, ánh sáng hài hòa với màu gỗ nâu đen, các gian thờ được sắp xếp gọn gàng, thanh nghiêm. Chính điện thờ Tam Thế Phật, phía trước có tượng cổ Quán Thế Âm, hai bên thờ Hộ Pháp Bí Đà, Tiêu Diện Đại Sĩ, Câu Xanh và bàn thờ hướng linh. Một chiếc trống lớn sơn đỏ đặt bên trong, đối diện là giá chuông.

Phía sau chánh điện là các công trình khép kín thành hình chữ khẩu, quay vào một khu vườn nhỏ trồng cây cảnh. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ nhiều kỷ vật quý như khánh đồng thời Tế Vỹ, bia đá thanh thời Minh Mạng, tấm biển sơn son thếp vàng thời Thiệu Trị, các khám và tượng thờ cổ. Đặc biệt, chùa từng sở hữu chiếc trống cổ được truyền tụng là lớn nhất xứ Huế qua câu “trống Đông Thiền, chuông Linh Mụ”; hiện chiếc trống này đã hư hỏng và được lưu giữ trong kho.

Hiện vật

Không chỉ nổi tiếng với lịch sử lâu đời và sự gắn bó với hoàng thất nhà Nguyễn, mà chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá, dù một số đã không còn nguyên vẹn theo thời gian. Chùa còn lưu giữ một chiếc khánh đồng có từ thời ngài Tế Vỹ. Trên khánh có khắc dòng chữ Hán: “Hoằng Nguyện Nguyễn Thị Châu, thân tử Trương Văn Đang tín cúng Tam bảo Đông Thuyền tự khai sơn sa môn Tế Vỹ. Phục nguyện: Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển”. Dòng chữ này có nghĩa là: “Hoằng Nguyện Nguyễn Thị Châu và con trai Trương Văn Đang xin dâng Tam bảo sa môn Tế Vỹ, khai sơn chùa Đông Thuyền. Cúi xin nguyện: Ngày Phật sáng thêm, bánh xe pháp quay mãi”. Lạc khoản đề: “Chú mật Đinh Hợi niên Tân Hợi nguyệt Ất Hợi nhật” (Đúc ngày Ất Hợi, tháng Tân Hợi năm Đinh Hợi). Các nhà nghiên cứu đã phân tích và kết luận rằng khánh được đúc vào ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi (dương lịch 5 tháng 12 năm 1767), dưới triều đại Nguyễn Phúc Thuần, khi ngài Tế Vỹ còn tại thế.

Chùa lưu giữ một tấm biển sơn son thếp vàng từ thời vua Thiệu Trị. Biển trùng tu này đề năm Nhâm Dần, Thiệu Trị thứ 2 (1842). Ngoài ra còn có bia bằng đá thanh từ thời vua Minh Mạng. Bia được dựng vào tháng 6 năm Minh Mạng thứ 19 (1838). Tấm bia này nguyên xưa được dựng tại mặt tiền ngôi từ đường của công chúa Ngọc Cơ. Năm 1976, khi trùng hưng, tấm bia bị nhầm là bia chùa nên được dời chỗ, đưa ra dựng ở mặt tiền bên trái trước chánh điện. Đến năm 1988, sư bà Diệu Không cho xóa phần kê ruộng đất của công chúa Ngọc Cơ và khắc thêm phần chữ Quốc ngữ phía lưng bia. Bia có kích thước khổ 140×80 cm. Một đoạn dịch từ bia đá kể về công đức của công chúa Ngọc Cơ và lòng tri ân của hai xã Dương Xuân, nhấn mạnh sự hiếu nghĩa và trinh tiết của bà. Trong sân chùa, có một bi đình nhỏ đặt một chiếc bia đá cổ, mặt sau khắc chữ Hán và mặt trước khắc chữ Quốc ngữ kể về quá trình lịch sử của chùa.

Chùa vẫn còn lưu giữ các tượng thờ cổ. Trong chánh điện, gian giữa thờ tượng Tam Thế Phật, phía trước có bức tượng cổ Bồ Tát Quán Thế Âm. Một bên chánh điện có hai gian thờ Hộ Pháp Bí Đà và Tiêu Diện Đại Sĩ, bên còn lại có một gian thờ với bức tượng ngài Câu Sanh và bàn thờ hướng Linh.

Chùa Đông Thiền sở hữu chiếc trống được cho là lớn nhất Huế. Chiếc trống này nổi danh qua câu truyền tụng dân gian “trống Đông Thiền, chuông Linh Mụ” (hoặc “trống Đông Thuyền, chuông Thiên Mụ”). Chiếc trống có đường kính khoảng 2 m và dài đến 3 m. Bên trong lòng trống có những móc thép kéo chéo với nhau, tạo sự bền vững. Trụ trì chùa cho biết chiếc trống này vẫn còn giữ trong kho nhưng đã hỏng.

Năm 1844, công chúa Ngọc Cơ đã làm hội chủ đúc quả chuông chùa. Trên thân chuông có khắc chữ “triện”, chữ “phù” và chữ Hán viết chân phương, hoa văn giản dị. Lạc khoản đề “Thiệu Trị tứ niên trọng hạ”. Chuông nặng 398 cân, cao khoảng 1 m, và nếu kể đến đầu con bồ lao thì chuông cao khoảng từ 1,3 đến 1,4 m. 

Ngoài ra, trong chánh điện chùa còn có nhiều tranh, câu đối, thơ, thư pháp, sách vở về Phật pháp, đặc biệt là bức tranh về khoảnh khắc giác ngộ của Đức Phật được vẽ bằng chất liệu màu nước rất tinh tế.

Tham khảo 

  1. Chùa cổ Đông Thiền cơ duyên với nữ nhân triều Nguyễn, YouTube Khám phá Huế.
  2. Hồ Hoàng Thảo (2020), Công chúa Ngọc Cơ & chùa Đông Thuyền, HueNgayNay.
  3. Lê Thục Đan (2021), An nhiên nơi chùa xưa Đông Thuyền, HueNgayNay.
  4. Thích Trung Hậu (2011), Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu công Phật giáo Thuận Hóa (Tập 1), mục “Đại sư Tế Vĩ Trường Chiếu (?-?) Chùa Đông Thiền – Huế”.
  5. Văn bia chùa Đông Thuyền, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 8 (142), 2017, tr. 30.

 

5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)