Chùa Trăm Gian (Chương Mỹ, Hà Nội)

Chùa Trăm Gian (Chương Mỹ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Trăm Gian, hay còn được biết đến với tên gọi chùa Tiên Lữ, chùa có tên chữ là Quảng Nghiêm tự, là một trong những danh thắng nổi tiếng bậc nhất vùng xứ Đoài. Ngôi chùa tọa lạc trên một quả đồi cao khoảng 50 mét, thuộc thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Từ bao đời nay, chùa Trăm Gian được xem là một trong “Tứ đại danh thắng của xứ Đoài”, sánh vai cùng với chùa Trầm, chùa Thầy và chùa Tây Phương. Không chỉ mang giá trị đặc biệt về mặt kiến trúc – nghệ thuật, chùa còn là nơi lưu giữ những tầng sâu của lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng Phật giáo dân tộc.

Lịch sử và nhân vật

Lịch sử

       Theo truyền thuyết chùa Trăm Gian được khởi dựng vào năm Trinh Phù thứ 10 (1185) dưới triều vua Lý Cao Tông, nhà Lý. Tuy nhiên theo các tư liệu Hán Nôm còn lưu lại như văn bia, thần tích thì chùa dựng vào thời Trần, người có công sáng lập và mở mang ngôi chùa là Hòa thượng Bình An, quê ở làng Bối Khê. 

Tương truyền, ngài là một cậu bé mồ côi sinh ra từ giấc mộng Phật của một người phụ nữ ở Bối Khê. Sau khi xuất gia từ thuở nhỏ tại chùa Đại Bi, ngài du hành tới Tiên Lữ, xã Tiên Phương (nay thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội) để học đạo với một trưởng lão. Sau mười năm tu học, ngài trở thành bậc thạc đức tinh thông phép thuật, được triều đình nhà Trần phong hiệu là Đức Minh Hòa thượng, mời về kinh đô thuyết pháp. Sau khi trưởng lão Tiên Lữ viên tịch, ngài xin trở về quê dựng lại chùa Bối Khê. Khi viên tịch ở tuổi 95, di thể ngài được đặt trong khám gỗ, đến trăm ngày sau mở ra, kim thân vẫn nguyên vẹn, tỏa hương thơm, được dân làng xây tháp tôn thờ, củng cố thêm niềm tin linh thiêng về Đức Thánh Bối.

Thời Lê trung hưng, chùa được tiếp tục tu sửa lại Thượng Điện, tiếp đó dựng đài Thiêu Hương, Tiền Đường, hành lang tả hữu chùa được ghi lại trong văn bia Quảng Nghiêm tự bi ký.

Năm Chính Hòa thứ 14 (1693), triều Lê Hy Tông, chùa dựng một gác chuông hai tầng tám mái tại sân chùa.

Năm 1784, các hội chủ hưng công tu sửa chùa nhưng chưa được khắc trên bia nên vào năm 1821, khi tu sửa lại các hạng mục đó 1 lần nữa mới có dịp ghi tạc vào bia Quảng Nghiêm tự ngự điện bi ký.

Năm 1787, văn bia Tiên Lữ phong Quảng Nghiêm tự ni hiến cúng khối lỗi lệ điền ký niên đại Chiêu Thống thứ 1 (1787) cho biết Sư Tính Côn tự bỏ tiền riêng mua ruộng, tổng cộng là 1 mẫu, dâng cúng cho bản chùa làm ruộng thờ thánh.

Năm 1789, trong văn bia Quảng Nghiêm tự bi chép có trận lụt lớn, nhân dân định dỡ chùa để chống lụt nhưng Đô đốc Đặng Tiến Đông đã ngăn cản và may được bảo toàn.

Năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794), chùa thiếu chuông, do binh hỏa mà lạc mất nên đã cho đúc quả chuông Quảng Nghiêm cổ tự.

Văn bia Đặng tướng công bi cho biết Đô đốc Đặng Tiến Đông vào năm Giáp Dần (1794) niên hiệu Cảnh Thịnh, hưng công đúc quả chuông cho bản chùa và làm bức tượng truyền thần ông đặt ở chùa; mua hai phiến đá ở Đông Triều, một phiến cúng cho nhân dân để ghi thánh tích, một phiến giữ làm bia cho hậu cho ông.

Năm Gia Long thứ 11 (1805), nhân dịp có 2 phiến đá, chùa đã tiến hành trùng tu thạch đài và được ghi lại trong tấm bia Trùng tu thạch tự bi ký như sau:

“Nhân có hai phiến đá hai mặt trên dưới vuông vức như được đẽo, lại bằng phẳng như được mài, đều là loại đá xanh vậy. Phía trước xây một trụ đài hương, bên ngoài Nghi môn dựng hai cây trụ biểu, hai bên phải trái đối diện đắp tượng voi ngựa đặt, bốn phía xây tường bao quanh đều dùng bằng gạch đá, lại trồng nhiều cây to nhìn thấy xum xuê. Bởi vậy quang cảnh khu đàn thờ so với trước rộng lớn hơn nhiều. Công việc hoàn thành, muốn ghi khắc vào bia đá, nên tới xin ta lời văn, ta vui cùng người làm việc thiện, bèn cất bút vì việc này mà làm bài ký.”

Năm 1821, có 1 đợt trùng tu chùa được ghi lại trên văn bia Quảng Nghiêm tự ngự điện bi ký và Quảng Nghiêm tự ngự điện bi ký

Năm Tự Đức thứ 11 (1857), dựng bia Hậu tự bi chí để tưởng niệm hai vị Hậu Phật được phối thờ là Sa môn pháp hiệu Mỹ Thụy Diệu Hảo và Sa môn pháp hiệu Mỹ Thụy Diệu Tứ

Năm 1885, các vị quý nhân đã hưng công trùng tu chùa làm các bậc thang lát gạch đá, được ghi vào văn bia Hội thiện bi ký niên đại triều Khải Định năm thứ sáu (1921).

Các đời trụ trì chùa

  1. Đại thánh Khai sơn Nghĩa tồn Bình đẳng Hành thiện Bồ tát Thánh tổ Đức Minh chân nhân.
  2. Nghiêm Quận Chúa Đặng Thị Ngọc Phúc (1588 – ?)

Theo bia Quảng Nghiêm tự bi ký chép:

“… liền sinh tổ thứ hai là Nghiêm Quận chúa, nối ánh sáng trong cung quế dịch, phát tâm quảng đại, có nhã ý về đạo Tam Thừa, truy tôn Phật tổ, mở ba tòa cung điện lớn, cúng trăm mẫu ruộng đèn nhang, già trẻ quanh làng, đều nhờ ơn trạch…”

Bia Đặng tướng công bi ghi rằng Nghiêm Quận chúa có tượng thờ trong chùa, sinh ngày 12 tháng 8, mất ngày 17 tháng 9. Theo gia phả họ Đặng, bà tên thật là Đặng Thị Ngọc Phúc (có nguồn ghi là Trịnh Thị Ngọc Kỳ, sinh năm 1588), thụy Chân Minh, được chúa Trịnh Tráng nhận làm con nuôi, phong Quận chúa, ban họ Trịnh và gả cho Phó Đô tướng Thiếu úy Nghiêm Quận công.

  1. Đệ nhị khai nguyên đạo tràng, Thiền cơ Diệu giác Tỳ kheo ni pháp hiệu Như Cơ Chân Tĩnh thiền sư. 

Ni sư Như Cơ, pháp hiệu Chân Tĩnh, còn có tên hiệu là Thiền cơ Diệu Giác, là con gái thứ ba của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch (1653 – ?), quê làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Theo văn bia Quảng Nghiêm tự hậu Phật bi ký Ni sư sinh ra trong gia đình khoa bảng, có nhan sắc nhưng không lấy chồng, năm 22 tuổi xuất gia tại chùa Hạ Lôi. Sau thời gian chấp lao học đạo, bà đi tham học tại các đạo tràng Khả Viên, Nguyệt Thắng, Phật Tích, đạt đạo hạnh vững vàng nên được nhận điệp trụ trì chùa Quảng Nghiêm. Tại đây, Ni sư lo việc giảng dạy, trùng tu chùa, đúc chuông, tạo tượng, khiến chùa trở nên khang trang, trở thành một Ni viện lớn trong vùng.

Theo văn bia Đệ nhị khai nguyên đạo tràng Thiền cơ Diệu Giác Tỳ kheo ni pháp hiệu Như Cơ Chân Tĩnh thiền sư trạch tháp bi minh tịnh tự, Ni sư viên tịch ngày 8 tháng 2 năm Giáp Tuất, tức năm 1754, bia lập năm Ất Hợi, Cảnh Hưng 16 (1755). Như vậy, bà sinh năm 1696, thọ 57 tuổi. Sau khi bà viên tịch, đệ tử là Tính Côn đã đứng ra mộ hóa thập phương tín thí để xây tháp Từ Ân phụng thờ thầy.

  1. Tỳ kheo ni Như Bích, quê huyện Từ Liêm, Từ Huệ tháp. Tháp lập năm Cảnh hưng thứ 16 (cần kiểm tra lại thông tin, hàng chữ Như là ngang hàng Như Cơ).
  2. Viên Dung Tháp, Sa di ni Tính Côn, tháp lập năm Cảnh Hưng 33 (1772)

Ni sư Tính Côn, pháp tử kế đăng trụ trì chùa Quảng Nghiêm sau Ni sư Như Cơ. Theo Viên Dung tháp tự văn và Tiên Lữ phong Quảng Nghiêm tự ni hiến cúng Khổi lỗi lệ điền bi, Ni sư là người xã Đông Bình, huyện Gia Định (nay thuộc Bắc Ninh), từng xuất thân cung tần trước khi xuất gia. Trong thời gian trụ trì, bà kế thừa tâm nguyện của thầy, trùng tu chùa và hiến ruộng làm lệ điền để duy trì lễ hội múa rối vào dịp giỗ Thánh Bối. 

Văn bia Quảng Nghiêm tự bi ký do Ngô Thì Nhậm soạn gọi Ni sư là Tổ thứ ba, từng nuôi dưỡng cháu là Đại Đô đốc Đặng Tiến Đông, được con gái ông gọi là dưỡng tổ mẫu. Có thể Ni sư là người họ Phạm, dì ruột bên ngoại của Đô đốc Đông. Ni sư viên tịch trước năm 1772, năm lập tháp Viên Dung phụng thờ.

  1. Bản tự tôn sư hiệu hiệu Diệu Triêu 

Bia Quảng Nghiêm tự ngự điện bi ký lập năm 1821 nhưng soạn từ năm Giáp Thìn 1784 cho biết hai vị Bản tự tôn sư khi đó là hiệu Tính Côn và hiệu Diệu Triêu như vậy ngay khi Tính Côn còn sống Diệu Triêu đã là bậc tôn sư có tham gia xây dựng Ngự điện và có lẽ đã dựng bia Khối Lỗi năm 1787 cùng Ni sư Tính Côn. Bia bầu hậu Tự hậu bi ký năm 1847 lại cho biết Diệu Triêu theo tổ cô đi tu từ khi mới 4 tuổi, nếu tổ cô chỉ Tính Côn thì Diệu Triêu có lẽ cũng là người họ Đặng hay họ Phạm ngang hàng con gái Đô Đốc Đông.

Từ thứ 7 đến 9 không rõ thế thứ vai bậc, cũng không rõ có phải là trụ trì không: 

  1. Ni hiệu Diệu Bỉnh nhắc trong bia Trùng tu thạch đài bi ký năm 1805 
  2. Thiền sư Diệu Liên có tên trong bia Sóc vọng điền bi ký năm 1832
  3. Ni sư Diệu Nhiên, phối thờ cùng Diệu Triêu trong bia Tự hậu bi ký năm 1847

Con gái Đô đốc Đặng Tiến Đông từng là phi tần vua Quang Trung, được phong chức Mậu Chiêu. Sau khi vua mất, bà xin xuất gia và được vua Cảnh Thịnh ban trụ trì chùa Trăm Gian. Văn bia Quảng Nghiêm tự bi ký ghi Ni sư đứng ra đúc chuông (1794) và quyên tiền tu sửa chùa (1797), cho thấy bà thực sự giữ vai trò trụ trì. Trước đó, hai đời trụ trì đều là người họ ngoại của Đặng Tiến Đông, trong đó có thể có Ni sư Tính Côn, dì ruột ông. Tấm bia Đặng tướng công ký cũng xác nhận bà từng dự hàng cửu tần từ năm 1778. Bà có thể là Ni sư Diệu Nhiên được phối thờ cùng Diệu Triêu trong Tự hậu bi ký lập năm 1847, do suốt thời Gia Long, Minh Mạng không thấy nhắc tên, có lẽ vì từng là cung tần nhà Tây Sơn nên phải ẩn danh cho đến khi được truy niệm.

  1. Trụ trì hiệu Diệu Tứ 1847, đề cập trong bia Tự hậu bi ký 1847, có tôn sư là Diệu Triêu.
  2. Sa môn tên thụy là Diệu Hảo, vốn người họ Nguyễn ở Vĩnh An, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, là đệ tử của Diệu Tứ, theo bia Hậu tự bi chí Hậu năm 1858.
  3. Tỳ kheo ni Diệu Sử, hiệu Giới Sử, người làng Bối Khê. Nhắc trong bia Sóc vọng tương kế năm 1945.
  4. Ni Trưởng Thích Đàm Hiền: Dưới thời trụ trì của Ni trưởng, chùa tiếp tục là nơi tu học cho ni giới và Phật tử địa phương.
  5. Ni Sư Thích Đàm Khoa: Hiện đang đảm nhiệm chức vụ trụ trì, Ni Sư Thích Đàm Khoa tiếp nối sự nghiệp của chư Tổ, duy trì nghi lễ truyền thống và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, tâm linh tại chùa. Dưới sự hướng dẫn của Ni sư, chùa không chỉ là nơi tu học mà còn là điểm đến tâm linh quan trọng của cộng đồng Phật tử và khách thập phương.

Kiến trúc cảnh quan

Tam Quan 

Tam Quan dựng bốn cột trụ biểu cao lớn, chạm khắc hình rồng mây tượng trưng cho sự uy nghiêm và linh thiêng. Hai bên sân là hai quán nhỏ, vốn được dùng làm nơi đánh cờ người trong dịp hội làng. Phía trước là nhà Giá Ngự, quay mặt ra hồ sen, từng là nơi đặt kiệu Thánh, đồng thời là vị trí lý tưởng để người xem thưởng lãm các màn múa rối nước. 

Gác Chuông

Gác Chuông nằm ở tầng nền thứ hai, được dựng vào năm Chính Hòa thứ 14 (1693) dưới triều Lê Hy Tông. Gác có kết cấu hai tầng mái, tám góc đao cong vút, tạo nên một thế vươn lên đầy thanh thoát giữa sân chùa. Bốn mặt gác đều có lan can gỗ bao quanh, các ván bưng được chạm trổ tinh tế với họa tiết mây hoa mềm mại. Giữa gác treo một đại hồng chung cao 1,10m, đường kính 0,60m, được đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794), trên chuông có khắc một bài minh của danh sĩ Phạm Huy Ích. Gác chuông không chỉ là điểm nhấn về mặt nghệ thuật mà còn là nơi truyền âm thiêng, mở đầu và kết thúc mọi thời khóa lễ trong ngày.

Tam Bảo

Từ gác chuông lên 25 bậc đá xanh chạm hình rồng mây uốn lượn, dẫn tới tầng nền cao nhất, nơi đặt khu nội tự, trung tâm linh thiêng của toàn bộ ngôi chùa. Cụm kiến trúc Tam Bảo gồm ba tòa nhà theo thứ tự từ ngoài vào trong là Tiền Đường, Thiêu Hương và Thượng Điện.

Tiền Đường có kiến trúc mái dốc, lợp ngói mũi hài truyền thống, vì kèo theo lối chồng rường giá chiêng. Kế tiếp là tòa Thiêu Hương là nơi bày biện hương án, đặt đồ lễ. Thượng Điện tôn trí các pho tượng Phật và thực hiện các nghi lễ quan trọng, trung tâm thượng điện là một bệ đất nung đỏ hình khối chữ nhật, được cho là mang phong cách nghệ thuật thời Trần, với các hoa văn động vật, hoa lá và chim thần ở bốn góc. Trên bệ là đài sen, và phía trên là bộ tượng Phật Tam Thế gồm Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong Tam Bảo hiện lưu giữ 153 pho tượng cổ, phần lớn bằng gỗ sơn son thếp vàng, một số bằng đất nung. Nổi bật trong số này là tượng Tuyết Sơn thể hiện Đức Phật Thích Ca nhập định khổ hạnh, và tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn có giá trị nghệ thuật và tín ngưỡng đặc biệt. Không gian Tam Bảo còn lưu giữ nhiều bia đá, hoành phi, câu đối cổ, trong đó có hai câu đối khảm trai tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400 – 1406), là di vật quý giá mang dấu ấn lịch sử.

Nhà Tổ

Nhà Tổ nằm phía sau khu Tam Bảo, là nơi tôn thờ các vị tổ sư khai sơn chùa, đặc biệt là Hòa thượng Bình An, người có công lập chùa và được nhân dân tôn kính như một vị Thánh. Tại đây hiện đặt một khám thờ bằng gỗ, bên trong là pho tượng cốt rút của Đức Thánh Bối, được làm bằng khung mây đan bọc vải sơn, tương truyền chứa hài cốt của ngài sau khi viên tịch ở tuổi 95. Nhà Tổ còn lưu giữ một lầu trống cổ, bên trong treo một chiếc trống lớn đường kính 1m, âm thanh vang vọng, cùng với một tấm khánh đồng đúc năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), dài 1,20m, cao 0,60m, khắc nổi hoa văn mây cuốn, thể hiện nghệ thuật chế tác kim loại tinh xảo thời Lê Trung hưng. Đây là không gian trang nghiêm, linh thiêng, nơi tăng chúng và tín đồ tưởng niệm công đức các bậc tiền bối.

Nhà Mẫu

Nhà Mẫu là nơi phụng thờ các vị Thánh Mẫu trong hệ thống tín ngưỡng Tứ Phủ như Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, và các vị chầu, cô, cậu theo hệ thống thần điện dân gian Việt Nam. Mặc dù có quy mô khiêm tốn hơn so với khu Phật điện, song nhà Mẫu vẫn được bài trí công phu, với các bức tường sơn son thếp vàng, hương án chạm khắc tinh xảo, tòa Sơn Trang và hệ thống tượng thờ sinh động. Không gian này thể hiện sự giao thoa rõ nét giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng trong không gian thờ tự tại chùa Trăm Gian.

Hiện vật 

– Hơn 150 pho tượng, phần lớn được tạc bằng gỗ phủ sơn thếp vàng, một số ít bằng đất nung hoặc mây đan bọc vải sơn. Trong số đó, nổi bật có bộ tượng Tam Thế Phật đặt trên một bệ đất nung đỏ hình khối chữ nhật được trang trí bằng hình động vật, hoa lá, bốn góc có hình chim thần mang yếu tố biểu tượng của nghệ thuật thời Trần. Bệ tượng là một trong những hiện vật có giá trị lịch sử – nghệ thuật cao nhất còn lại tại chùa.

– Chuông đồng lớn tên Quảng Nghiêm cổ tự đúc năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794), cao 1,10 m, đường kính 0,60 m, treo tại gác chuông. Miệng để trơn, có 4 núm đánh, quanh núm có từ 24 – 26 hạt tràng. Phần quai chuông là hai con rồng chung lưng vào nhau, rồng ở đây không có đuôi, phía dưới lưng là cụm mây xoắn, vây lưng rồng là vây gai. Trên thân có khắc bài minh do Thụy nham hầu Phan Huy Ích soạn.

– 13 đạo sắc phong thời Hậu Lê: Thịnh Đức thứ 4 (1656), Vĩnh Thọ thứ 3 (1660), Cảnh Hưng thứ 28 (1767), Cảnh Trị thứ 8 (1670), Dương Đức thứ 3 (1674), Chính Hòa thứ 4 (1683), Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710), Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), Cảnh Hưng thứ 1 (1740), Cảnh Hưng thứ 24 (1763), 2 sắc Cảnh Hưng thứ 44 (1783), Chiêu Thống nguyên niên (1787). 

– Bia đá gồm:

Quảng Nghiêm tự bi ký/ Tập phúc thắng hội kinh điển (1604), Tiên Lữ đức thánh bi ký (1805), Đệ nhị khai nguyên đạo tràng Thiền cơ Diệu Giác Tỳ kheo Ni pháp hiệu Như Cơ Chân Tĩnh thiền sư trạch tháp bi minh tịnh tự (1755), Tiên Lữ phong Quảng Nghiêm tự Ni hiến cúng Khổi lỗi lệ điền bi (1787), Quảng Nghiêm tự ngự điện bi ký (1821), Quảng Nghiêm tự hậu Phật bi ký (1768), Sóc vọng điền bi ký (1832), Tự hậu bi ký (1847), Hậu tự bi chí Hậu (1858), Sóc vọng tương kế (1945), Đặng tướng công bi (1794), Vô đề (1755), 2 bia Phật Tổ di tích bi ký (1805), Kỷ niệm bi (1926), Hậu tự bi chí (1857), Trùng tu thạch đài bi ký (1805).

– Khánh đồng: Đúc năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), dài 1,20 m, cao 0,60 m. Chính giữa khánh có hình mặt trăng là núm đánh gồm 2 vòng tròn nổi khối. Mặt trước có 4 chữ đại tự viết theo kiểu chữ triện cách điệu, 4 chữ đại tự mặt sau là “Quảng Nghiêm thiền tự”. Dưới chữ 4 đại tự mặt trước còn có băng chạy ngang với dòng chữ viết theo kiểu chữ Phạn. 

– Bệ gạch đất nung ở Tam Bảo chùa. Bệ gạch cao, đồ sộ, có kích thước dài 2,60m, rộng 1,30m, cao 0,96m. Đây là loại bệ sen hình hộp mà từ thời Lý, nhất là thời Trần chúng ta đã gặp nhiều, mục đích của nó là nơi để các tượng Phật. Nếu như ở thời Trấu phần lớn làm bằng chất liệu đá thì ngược lại sang thời Mạc loại bệ này phần lớn lại làm bằng đất nung.

Sự kiện và lễ hội

Sinh hoạt Tín ngưỡng và Cộng đồng

Hằng ngày, chùa là điểm tựa tâm linh thu hút Phật tử và du khách đến cầu an, cầu phúc, đặc biệt vào các ngày Rằm, mùng Một và dịp lễ Tết. Ngoài nghi thức Phật giáo, chùa còn là không gian sinh hoạt cộng đồng, tổ chức các hoạt động khóa tu, giảng pháp và thiện nguyện, phổ biến giáo lý nhà Phật và giáo dục đạo đức truyền thống.

Lễ hội chính 

Lễ hội chính của chùa được tổ chức hàng năm từ ngày 1 đến ngày 4 tháng Giêng âm lịch để tưởng niệm ngày hóa của Đức Thánh Bối (Hòa thượng Bình An – người sáng lập chùa). Lễ hội có hai phần:

  • Phần Lễ: Trang nghiêm với nghi thức tế lễ, dâng hương, đọc văn tế và rước kiệu Thánh từ chùa ra đình làng.
  • Phần Hội: Sôi nổi với các trò chơi dân gian đặc sắc như cờ người, kéo co, đấu vật. Điểm nhấn là màn múa rối nước tại hồ sen trước nhà Giá Ngự, tái hiện không gian văn hóa truyền thống.

Các ngày lễ lớn khác của Phật giáo như Phật đản (rằm tháng Tư), Vu Lan báo hiếu (rằm tháng Bảy) cũng được tổ chức trang nghiêm.

Sự hòa quyện tín ngưỡng

Chùa Trăm Gian là điển hình tiêu biểu cho sự hòa quyện giữa Phật giáo Đại thừa và tín ngưỡng dân gian. Ngoài thờ Tam Bảo, chùa còn thờ Đức Thánh Bối (được tôn là vị thần linh ứng) và có khu vực phối thờ Mẫu. Sự phối thờ Phật – Mẫu – Thánh này phản ánh bản sắc văn hóa Việt Nam với tính dung hợp cao, nhưng luôn giữ được tinh thần hướng thiện và triết lý từ bi của đạo Phật.

Xếp hạng

Năm 1962, chùa Trăm Gian đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. 

Tài liệu tham khảo

  1. Hệ thống văn bia chùa Trăm Gian
  2. Thượng tọa Thích Tiến Đạt (2025), Di văn Hán Nôm chùa Trăm Gian, Trung tâm tư liệu Phật giáo Việt Nam. 
  3. Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 02, Nxb Hà Nội.
  4. Hoàng Sơn, “Phó Giáo sư, Tiến sĩ Chu Văn Tuấn – Viện Nghiên cứu Tôn giáo: Chùa Trăm Gian có giá trị đặc biệt về tôn giáo”, Cổng Thông tin điện tử huyện Chương Mỹ – Thành phố Hà Nội, Ngày 30/09/2024.
  5. Hưng Thịnh, “Chùa Trăm Gian – Điểm du lịch cuối tuần khó bỏ qua ở Thủ đô”, Báo Nhịp sống Hà Nội, Ngày 26/12/2019.
  6. Nguyễn Hữu Mạnh, “Chùa Trăm Gian, di sản kiến trúc Phật giáo độc đáo tại Hà Nội”, Báo Lao Động, Ngày 09/10/2023.
  7. Diệu Huyền, “Chùa Trăm Gian: Chốn tâm linh giữa lòng thủ đô”, Báo Quân đội nhân dân, Ngày 03/09/2023.
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)