Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Đô hay còn gọi là đền Lý Bát Đế, Cổ Pháp điện được xây dựng vào thế kỷ XI tại hương Cổ Pháp, nay thuộc phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
“Khu di tích này ở phía Đông Nam là Đình Bảng, trên khu đất cao, rộng, phẳng, sát đầu xóm Thượng. Đền và các lăng của vua Lý được các triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng, trở thành khu “Sơn Lăng Cấm Địa”, trong đó đền Đô được xây dựng rất quy mô…”[1]
Lịch sử và nhân vật
Năm 1019, khi Lý Thái Tổ lên ngôi được 10 năm, ông về quê lập một Thái miếu để thờ tổ nội mình ở đây. Lúc đó, vua đã chọn một khu đất để làm nơi chôn cất sau khi băng hà, cách cửa đền Đô hiện tại khoảng 1 Km, đặt tên là Cấm Địa Sơn Lăng. Năm 1028 Lý Thái Tổ băng hà, được an táng tại quê nhà theo di nguyện. Sau này, các vị vua nhà Lý đều được đưa về chôn cất tại đây.
Năm 1030, vua Lý Thái Tông cho xây dựng Cổ Pháp điện làm nơi thờ vua cha. Từ đó, đền trở thành nơi thờ tự các vị vua nhà Lý.
Có ý kiến cho biết thêm rằng, xa xưa, dân làng Đình Bảng đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua. Khi vua Lý Công Uẩn băng hà, Lý Thái Tông lên ngôi kế vị vua cha, ông đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa và chọn làm nơi thờ tự vua cha, dần dần nơi đây trở thành nơi thờ tự 8 vị vua nhà Lý sau khi băng hà: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông.
Theo ông Nguyễn Tiến Chiến – Trưởng Ban quản lý Khu di tích Đền Đô, ban đầu, đền có tên là Cổ Pháp điện. Đến năm 1605, vua Lê Kính Tông cho mở rộng và đổi tên thành đền Lý Bát Đế. Năm 1952, đền bị thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1989, chính quyền đã phục dựng đền theo nguyên mẫu và gọi là đền Đô.
Kiến trúc cảnh quan
Trải qua thời gian dài cùng sự tàn phá của chiến tranh, Đền Đô đã được tu sửa và mở rộng nhưng vẫn theo đúng hình dáng và kiến trúc ban đầu. Đền nằm trong khuôn viên rộng hơn 31.000 m2 với 21 hạng công trình, gồm ngoại thành và nội thành.
Cổng vào nội thành đền Đô gọi là Ngũ Long Môn với hai cánh cổng có chạm khắc hình 5 con rồng. Mỗi khi cổng được mở ra, sẽ như hình dáng rồng bay lên cao vút.
Hai bên cổng chính nội thành đền Đô, phía bên trái đặt bức cuốn thư “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ gồm 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải là bài thơ Nam quốc sơn hà được mệnh danh là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Trung tâm của Khu nội thành là Chính Điện. Phía sau Chính Điện là Hậu Cung rộng 220 m2, nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý.
Khu ngoại thành đền Đô gồm Thuỷ Đình, Văn Chỉ, Võ Chỉ, Nhà Kho, Nhà Khách và đền Vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng)…
Hai bên tả hữu đền Đô là nhà thờ quan văn và quan võ tiêu biểu nhất trong suốt 216 năm trị vì của vương triều nhà Lý. Văn Chỉ ba gian chồng diêm rộng nằm bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý. Võ Chỉ có kiến trúc tương tự Văn Chỉ, thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc là những quan võ tài lược.
Phía đông Đền có Nhà Bia, nơi đặt “Cổ Pháp Điện Tạo Bi”. Tấm bia đá này cao 190cm, rộng 103cm và dày 17cm, được khắc năm Giáp Thìn (1605). Bia được chạm khắc tinh xảo, trán bia có hình lưỡng long chầu nguyệt. Mặt trăng được chạm nổi, xung quanh có hình tượng hào quang tỏa chiếu. Lòng bia khắc 35 dòng chữ Hán, có xen kẽ một số chữ Nôm, tổng cộng chừng 1.500 chữ.
Theo nhóm tác giả sách Đền miếu Việt Nam cho biết: “…Qua văn bia, cho thấy công đức to lớn của triều Lý, truyền thống quý giá và đạo lý cao đẹp của dân tộc ta: “Uống nước nhớ nguồn”, luôn trân trọng, gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu của triều Lý: “… Thánh hiền nối tiếp tám đời vua, làm chủ hết muôn phương trong nước, nối ngôi trường cửu 216 năm, được lòng dân trong cả nước… Đắp thành Thăng Long, định chỗ ở là nơi trung tâm của đất nước, ngày nay, nhìn lại lịch sử việc tiền tự gia, hậu tự quốc, việc dựng lại triều chính, các việc lớn đều là mẫu mực của chính thể triều Lý… Dẫu thời đã hết, công đức ấy phải duy trì. Công đức triều Lý Bát Đế người nước Nam đời đời ghi nhớ. Dân nước Nam ghi công sức to lớn ấy, phải dựng lại miếu đền thờ cúng, xuân thu tứ thời bát tiết, lộc hưởng muôn đời, toàn dân trong thiên hạ tôn kính báo đền công đức triều Lý…””[2]
Thủy Đình rộng 5 gian có kiến trúc chồng diêm 8 mái, 8 đao cong được làm bằng gỗ lim chắc chắn, chạm khắc hoa văn tinh xảo. Thuỷ Đình nằm trên hồ bán nguyệt, được nối với sân chính bằng chiếc cầu đá. Nó từng được Ngân hàng Đông Dương xưa chọn in trên “giấy năm đồng vàng”.
Hiện vật
Phòng truyền thống tại đền Đô là nơi lưu giữ các cổ vật cũng như những tư liệu quý về di tích này cũng như về các vị vua triều Lý. Trong tủ trưng bày có bộ đồ thờ cổ của đền Đô xưa gồm đỉnh và đôi hạc đứng trên hai con rùa bằng đồng có chữ “Cổ Pháp điện”. Theo ông Nguyễn Tiến Chiến cho biết, di vật được tìm thấy vào lúc 11h ngày 25/11/1994 dưới đáy giếng Ngọc, khi ông Lý Xương Căn, hậu duệ đời thứ 31 của vua Lý Thái Tổ ở Hàn Quốc trở về thăm đền Đô lần thứ hai cùng đoàn đại biểu Hội Hữu nghị văn hóa Hàn – Việt
Lễ hội
“Lễ hội đền Đô được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 3 Âm lịch. Ngày 15 là đại lễ kỷ niệm Lý Thái Tổ đăng quang (15 tháng 3 năm Canh Tuất – 1010)” [3]
Chép về lễ hội đền Đô, tác giả cuốn sách Lễ hội Việt Nam – Vũ Thuỵ An cho biết: “Đám rước với hàng vạn người tham gia từ chùa Kim Đài đến đền Đô (khoảng 3km). Đi đầu đám rước gồm có một đoàn tướng võ, cởi trần, đóng khố, tay cầm chuỳ đồng và hàng trăm quân sĩ đi theo. Tiếp đến là 100 người khiêng kiệu mặc áo đỏ, mũ đen. Đi đầu là kiệu của Thánh Mẫu có 18 nữ tướng theo sau rồi đến kiệu Bát Đế, mỗi kiệu một con ngựa và có 16 nam tướng mặc áo đỏ. Sau cùng đoàn rước là các vị mặc sắc phục lễ hội, hương lão và dân làng dự hội, cờ lọng che rợp đồng nội, tiếng trống vang trời.”[4]
Tuy nhiên, có thông tin rằng lễ hội có sự hiện diện của kiệu rước vị vua cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng: “Phần lễ khai hội là phần rất quan trọng, lễ bắt đầu của sự may mắn cho cả cộng đồng, cho nên mọi hành vi, lời ăn, tiếng nói đều được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Trong nghi thức tế lễ có lễ “Túc Yết” – đây là nghi thức rước Lý Thánh Mẫu Minh Đức Hoàng Thái hậu Phạm Thị, người đã có công sinh thành ra Lý Thái Tổ. Nghi thức này còn được hiểu là lễ báo hiếu, lễ rước Thánh Mẫu về dự đại lễ của con. Lễ rước được tổ chức từ 13h30 ngày 13/3 (Âm lịch), từ đền Đô đến đình nơi thờ Thành Hoàng và Lục tổ, những vị đứng đầu sáu dòng họ có công lập làng vào thế kỷ XV, qua chùa Kim Đài, chùa thờ Pháp sư Định Không, ông tổ thứ sáu của Phật giáo, rồi đến chùa Cổ Pháp làm lễ tưởng niệm Lý Thánh Mẫu ở đây. Lễ rước Lý Bát Đế của lễ hội được rước sang chùa Cổ Pháp sau một ngày, chiều 14/3 để đêm 14 tụng kinh nhà Phật và chuẩn bị mọi nghi thức để sáng 15 rước linh bài về đền Đô. Lễ rước trong lễ hội đền Đô được miêu tả “Tám cỗ kiệu trang hoàng lộng lẫy được rước từ đền Đô lên chùa Cổ Pháp để nghe Tăng Ni tụng kinh, rồi lại rước về chỗ. Kiệu của Lý Chiêu Hoàng không được rước, phải khiêng ra đặt ở trước điện thờ để bà nghênh đón kiệu của tám vua”. Trong lễ hội đền Đô có hoạt động múa rồng, đây là hoạt động mang tính đặc trưng tiêu biểu của lễ hội, thể hiện hùng khí Thăng Long – biểu trưng của sự thăng tiến, niềm mơ ước của cư dân trồng lúa nước. Tiếp theo là nghi thức Đại tế. Tế lễ là một loạt các động tác và hành vi nhằm biểu hiện sự tôn kính tưởng nhớ đến công lao to lớn của các vị Vua Lý. Trong không khí linh thiêng, đám tế thay mặt cho dân làng cầu mong sự che chở và ban niềm tin cho họ để họ có một sức mạnh phi thường, vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Lễ hội đền Đô xưa kia thường được rước đủ tám kiệu, nhưng vì tốn nhiều công sức, tiền bạc, nên ngày nay chỉ tổ chức rước hai kiệu có ý nghĩa tượng trưng.” [5]
Bên cạnh phần lễ, phần hội của lễ hội đền Đô vô cùng phong phú với nhiều hoạt động như: đấu vật, chơi cờ người, hát quan họ, hội thơ, chơi đu, thả chim bồ câu, chơi chọi gà, thi nấu cơm niêu đất,… Đấu vật là một trò chơi thượng võ trong lễ hội. Tương truyền các triều đại nhà Lý rất khuyến khích trò này, vì thế trong các cuộc thi võ và tuyển chọn võ tướng cho triều đình đều có môn vật. Đấu vật có thể coi là một hoạt động bằng sức lực là chủ yếu, tuy nhiên trong đó còn hàm chứa cả sự khéo léo tinh khôn. Đây cũng là một hình thức thi tài dành cho nam giới. Hội đấu vật ở hội đền Đô hội tụ được nhiều đô vật ở các tỉnh phía Bắc. Các đô vật gặp nhau với những trận đấu hăng say, quyết liệt, nhưng không thô bạo, mà rất uyển chuyển, kể cả khi “vào miếng”, “đấu miếng” và “phá miếng”. Hội thi vật thường làm không khí của hội thêm tưng bừng. Bởi, không những các keo vật hay, mà còn có tiếng chiêng, trống, sự cổ vũ nhiệt tình của người xem.
Xếp hạng
Đền Đô được Chính phủ công nhận là di tích lịch sử – văn hóa theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 25/1/1991. Năm 2014, nơi đây cùng với các khu lăng mộ của các vua nhà Lý đã được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt.
Chú thích
[1] GS Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), Đền miếu Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 2007, tr. 144.
[2] GS Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), Đền miếu Việt Nam, Sđd, tr. 147.
[3] Ban Quản lý di tích lịch sử văn hoá đền Đô, Bảng thông tin Di tích đền Đô.
[4] Vũ Thuỵ An, Lễ hội Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 2015, tr. 115.
[5] Lễ hội đền Đô, Cổng thông tin điện tử thành phố Từ Sơn, 29/11/2016.
Tham khảo
- Vũ Thuỵ An (2015), Lễ hội Việt Nam, Nxb Thanh Niên
- Ban Quản lý di tích lịch sử văn hoá đền Đô, Bảng thông tin Di tích đền Đô.
- Văn Đức, “Di tích lịch sử Đền Đô – Ngôi Đền của các bậc Đế vương nhà Lý”, Đài phát thanh và truyền hình Bắc Ninh, 14/2/2022.
- GS Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), 2007, Đền miếu Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Lễ hội đền Đô, Cổng thông tin điện tử thành phố Từ Sơn, 29/11/2016.


