Tên gọi và vị trí địa lý
Văn Miếu – Quốc Tử Giám tọa lạc tại số 58 phố Quốc Tử Giám, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nằm giữa bốn con phố Nguyễn Thái Học, Văn Miếu, Quốc Tử Giám và Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, Hà Nội. Về tên gọi, Văn Miếu (文廟) là nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám (國子監) là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Lịch sử và nhân vật
Lịch sử hình thành
Văn Miếu được khởi dựng vào mùa thu tháng 10 năm 1070, niên hiệu Thần Vũ thứ hai đời vua Lý Thánh Tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.” [1] Như vậy, ngay từ khi thành lập, Văn Miếu vừa là nơi thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, vừa là nơi học tập của hoàng tử. Người học trò đầu tiên của trường chính là Thái tử Lý Càn Đức (sau lên ngôi là vua Lý Nhân Tông).
Đến năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ở ngay bên cạnh, được coi là trường đại học đầu tiên của nước ta. Ban đầu, trường chỉ dành cho con vua và con các bậc quyền quý. Đến năm 1253, vua Trần Thái Tông mở rộng thành Quốc Học viện, cho phép con cái thường dân có học lực xuất sắc được vào học, khẳng định vai trò giáo dục ngày càng nổi bật. Tại đây, các nho sĩ khắp nước được triệu về giảng dạy Tứ thư, Lục kinh. Nhiều trí thức nổi tiếng đã trưởng thành từ ngôi trường này, trong đó có Chu Văn An, vị Tư nghiệp mẫu mực, người được thờ tại Văn Miếu sau khi qua đời (1370).
Thời Lê sơ, Nho giáo đạt đến cực thịnh, năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ để ghi danh những người đỗ đạt từ khoa thi năm 1442 trở đi. Mỗi khoa dựng một bia trên lưng rùa, vừa để tôn vinh nhân tài, vừa khuyến khích việc học tập. Những đợt dựng bia tiếp nối qua nhiều thế kỷ, tạo nên hệ thống bia đá Tiến sĩ, một di sản vô giá được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới.
Đến năm 1762, vua Lê Hiển Tông cho tu sửa lại Quốc Tử Giám, biến nơi đây thành trung tâm đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.
Sang thời Nguyễn, Quốc Tử Giám được chuyển vào Huế, Văn Miếu Thăng Long chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, về sau đổi tên thành Văn Miếu Hà Nội. Năm 1805, Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây dựng thêm Khuê Văn Các bên Giếng Thiên Quang, trở thành biểu tượng đặc trưng của Văn Miếu.
Trải qua biến thiên lịch sử, Văn Miếu nhiều lần bị hư hại. Năm 1947, thực dân Pháp bắn phá, khiến khu Thái Học bị sập, chỉ còn nền đất, hai cột đá và bốn tấm bia nghiên đá. Đến nay, khu Thái Học đã được phục dựng trên diện tích 1.530 m² trong tổng thể 6.150 m², bao gồm Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống… tái hiện lại diện mạo của một trung tâm văn hóa – giáo dục hàng đầu Đại Việt xưa.
Nhân vật thờ tự
Văn Miếu từ khi xây dựng đã được quy định là nơi thờ Khổng Tử (551 – 479 TCN). Khổng Tử vốn xuất thân ở nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc), cả đời dạy học, soạn định kinh điển, đặt nền tảng cho Nho học. Ông được thờ chính tại Đại Thành điện, là trung tâm của Văn Miếu, biểu thị sự tôn vinh tuyệt đối của triều đình Đại Việt đối với Nho giáo.
Cùng với Khổng Tử, Văn Miếu còn phối thờ Chu Công Đán (khoảng thế kỷ XI TCN), vị hiền thần thời Tây Chu, người đã giúp Chu Thành Vương trị nước, đặt ra lễ nhạc, định chế chính trị và xã hội. Chu Công được coi là một trong những nhân vật có công bồi đắp nền tảng đạo Nho, bởi vậy được thờ ngay bên cạnh Khổng Tử.
Ngoài ra, còn có Tứ phối gồm:
- Nhan Tử (khoảng 505 – 481 TCN), tên thật là Nhan Hồi, học trò xuất sắc nhất và được Khổng Tử yêu mến, biểu tượng cho đức hạnh.
- Tăng Tử (505 – 435 TCN), tức Tăng Sâm, nổi tiếng hiếu thuận, truyền thừa đạo lý “hiếu” trong Nho học.
- Tử Tư (483 – 402 TCN), cháu ngoại của Khổng Tử, người biên soạn sách Trung Dung, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá học thuyết.
- Mạnh Tử (372 – 289 TCN), triết gia lớn, người phát triển tư tưởng Khổng học, nhấn mạnh bản tính thiện của con người.
Bên cạnh đó, Văn Miếu còn có bàn thờ Thất thập nhị hiền, tức 72 học trò tiêu biểu của Khổng Tử, những người đã cùng thầy lập nên nền tảng tư tưởng Nho gia. Việc dựng tượng và phối thờ nhằm tôn vinh cả một dòng truyền thừa Nho học.
Đến thời Trần, Văn Miếu ghi dấu tên tuổi Chu Văn An (1292 – 1370). Ông quê ở Thanh Liệt (Thanh Trì, Hà Nội), là một nhà giáo, một nho sĩ kiệt xuất, nổi tiếng thanh liêm, chính trực. Ông từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, trực tiếp dạy dỗ các hoàng tử triều Trần. Khi thấy triều đình mục nát, ông dâng Thất trảm sớ xin chém bảy gian thần nhưng không được chấp nhận nên cáo quan về ở ẩn. Sau khi mất, Chu Văn An được triều đình và giới Nho học tôn vinh, thờ tại Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử, trở thành một trong số ít người Việt Nam được đặt thờ trong không gian thiêng này.
Ngoài ra, Văn Miếu còn thờ 3 vị ba vị vua triều có công lớn đối với sự nghiệp giáo dục và Nho học nước nhà, gồm:
- Lý Thánh Tông (1023 – 1072, trị vì 1054 – 1072): vị vua thứ ba của triều Lý. Ông nổi tiếng là bậc minh quân, mở rộng lãnh thổ, chăm lo chính sự và văn hóa. Năm 1070, ông cho xây dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, cùng hình tượng Thất thập nhị hiền, quy định lễ tế bốn mùa, biến nơi đây thành trung tâm thờ phụng Nho học. Công lao khai sáng ấy khiến ông được tôn thờ tại Văn Miếu.
- Lý Nhân Tông (1066 – 1127, trị vì 1072 – 1127): là con trai của Lý Thánh Tông với Ỷ Lan Nguyên phi, lên ngôi khi mới 7 tuổi. Ông chính là học trò đầu tiên của Văn Miếu (lúc còn là thái tử Càn Đức). Năm 1076, ông cho lập Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu, được xem như trường đại học đầu tiên của Việt Nam, ban đầu chỉ dành cho con vua và con quan, về sau mở rộng hơn. Với vai trò đặt nền tảng cho nền giáo dục chính thống, Lý Nhân Tông được phối thờ tại Văn Miếu.
- Lê Thánh Tông (1442 – 1497, trị vì 1460 – 1497): là vị vua anh minh của triều Hậu Lê, trị vì 37 năm, đưa quốc gia vào giai đoạn cực thịnh về chính trị, kinh tế và văn hóa. Ông đặc biệt đề cao Nho học, năm 1484 cho dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu, khắc tên những người thi đỗ từ khoa thi năm 1442 trở đi. Chủ trương này vừa tôn vinh hiền tài, vừa khuyến khích việc học, góp phần làm rạng rỡ nền khoa cử Đại Việt. Chính nhờ công lao chấn hưng Nho giáo, phát triển khoa cử và giáo dục, ông được thờ tại Văn Miếu.
Kiến trúc cảnh quan
Hồ Văn
Hồ Văn, còn được gọi là hồ Giám hay Minh Đường hồ, nằm phía trước cổng chính của Văn Miếu. Trong không gian tổng thể, đây chính là “tiểu minh đường” của quần thể kiến trúc, một yếu tố khăng khít với ý đồ bố cục ban đầu. Hồ rộng 12.297 m², giữa hồ nổi lên gò Kim Châu, trên gò xưa dựng Phán Thủy đường, nơi các nho sĩ kinh thành tụ hội bình văn, làm thơ. Hồ Văn từng được tu sửa vào năm Tự Đức thứ 16 (1863), dấu tích còn ghi lại trên bia đá đặt ở gò. Tới cuối thế kỷ XIX, trên gò còn có đình nhỏ gọi là Văn Hồ đình.
Hồ Minh Đường không chỉ là cảnh quan ngoại vi mà còn mang tính biểu tượng: nước trong gương hồ phản chiếu toàn bộ khu chính, tạo cảm giác nhân đôi không gian, đem lại vẻ thanh tịnh, mát dịu ngay từ lúc đặt chân vào. Các văn bia khắc thế kỷ XIX – XX cũng cho biết hồ cùng dải đất phía Tây Văn Miếu vốn là một bộ phận không tách rời của quần thể, về sau do biến đổi hành chính mới bị lệ thuộc Hà Đông một thời gian.
Văn Miếu môn và Tứ trụ – Nghi môn
Qua hồ Văn là nghi môn với bốn trụ gạch gọi là “tứ trụ”, trên chạm nghê và phượng, hai bên có bia Hạ Mã. Đây là ranh giới tôn nghiêm: bất cứ ai, dù công hầu khanh tướng cũng phải xuống ngựa, xuống kiệu từ bia này mới được đi bộ vào. Sau tứ trụ là Văn Miếu môn – cổng tam quan ba gian, cửa giữa hai tầng, trên đề ba chữ Hán 文廟門. Tam quan có đôi rồng đá, câu đối chữ Hán ca ngợi đạo học và công lao đào tạo sĩ phu. Đặc biệt, năm 1918 vua Khải Định từng ghé thăm và đề thơ ca ngợi Văn Miếu, cho khắc bia dựng ngay tại đây.
Đại Trung môn và khu thứ hai
Qua Văn Miếu môn, tiến vào không gian thứ nhất là khu Nhập đạo, sẽ gặp Đại Trung môn – cổng ba gian, mái lợp ngói mũi hài, chính giữa treo biển “Đại Trung môn”. Bên tả có Thành Đức môn, bên hữu có Đạt Tài môn, tượng trưng cho đức và tài của kẻ sĩ. Không gian này được ngăn cách bởi tường gạch, có hai hồ chữ nhật và nhiều cây cổ thụ, tạo nên cảnh quan tĩnh mịch, trầm mặc. Đây là lớp chuyển tiếp quan trọng trước khi bước vào khu trung tâm.
Khuê Văn Các và giếng Thiên Quang
Qua Đại Trung môn là Khuê Văn Các, gác vuông tám mái, dựng năm 1805 dưới thời Nguyễn Văn Thành. Bốn trụ gạch vuông đỡ tầng gác gỗ sơn son thếp vàng, bốn mặt có cửa tròn tỏa tia sáng, tượng trưng cho sao Khuê. Dưới gác là giếng Thiên Quang hình vuông, tượng trưng cho đất, còn cửa tròn gác tượng trưng cho trời. Hai yếu tố này gắn kết thành biểu tượng giao hòa của trời – đất, nơi hội tụ tinh hoa văn hiến. Từ Khuê Văn Các tỏa ra hai cổng nhỏ: Bi Văn môn bên tả và Súc Văn môn bên hữu, ý nghĩa ca ngợi văn chương tinh mỹ, phong phú.
Vườn bia Tiến sĩ
Hai bên giếng Thiên Quang là hai vườn bia dựng 82 tấm bia Tiến sĩ, đặt trên lưng rùa đá, khắc tên những người đỗ Tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến khoa Kỷ Hợi (1779). Đây là di tích có giá trị bậc nhất, không chỉ ghi nhận hiền tài mà còn phản ánh lịch sử khoa cử Việt Nam gần 350 năm. Ban đầu theo lệ phải có 117 bia, nhưng hiện chỉ còn 82. Các nhà bia che mưa nắng cho bia dựng lần cuối vào năm Tự Đức thứ 16 (1863). Những tấm bia này đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới.
Đại Thành môn và khu điện thờ
Qua vườn bia là Đại Thành môn – cổng ba gian, mái ngói, treo hoành phi “Đại Thành môn”. Bên cạnh hai cửa nhỏ Kim Thành và Ngọc Chấn. Không gian này chính là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối và Thất thập nhị hiền. Điện Đại Thành uy nghi nằm giữa, hai bên là Đông Vu và Tây Vu để thờ các bậc tiên hiền. Phía sau còn có điện Canh Phục là nơi túc yết, cùng nhà kho tế khí, bếp, nhà Minh Luân… Bố cục đăng đối, vừa là không gian thờ tự vừa là nơi giảng dạy, thể hiện đầy đủ tính chất “văn miếu” và “quốc tử giám” hợp nhất.
Khu Thái Học
Sau khu điện thờ là khu Thái Học là nơi xưa kia đặt nhà Thái học, giảng đường, nhà học sinh tam xá, kho Bí thư chứa ván khắc in sách. Dù dấu tích nguyên thủy đã mất do binh hỏa và biến thiên lịch sử, các sách cổ như Đại Việt sử ký toàn thư hay Kiến văn tiểu lục còn ghi chép khá rõ về quy mô. Hiện nay, khu Thái Học được xây dựng lại (1999) để làm nơi tưởng niệm các danh nhân văn hóa, giới thiệu truyền thống hiếu học, đồng thời là không gian hội thảo, triển lãm.
Vườn Giám
Ngoài khu nội tự, quần thể còn có vườn Giám là khoảng đất xanh phía sau, tạo nên cảnh quan thoáng đãng. Đây từng là nơi nghỉ ngơi của học trò, cũng là phần liên kết không gian của tổng thể. Vườn Giám cùng hồ Văn và khu nội tự hợp thành ba bộ phận chính, sắp xếp theo trục Bắc – Nam đăng đối, mô phỏng bố cục Văn Miếu Khúc Phụ (Trung Quốc) nhưng giản lược hơn, mang đậm tính chất nghệ thuật truyền thống Việt Nam từ thế kỷ XVII – XIX.
Hiện vật
- Hệ thống bia Tiến sĩ
Hiện còn 82 tấm bia Tiến sĩ dựng trên lưng rùa đá, ghi danh những người đỗ Tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến khoa Kỷ Hợi (1779). Đây là bộ sưu tập bia Tiến sĩ duy nhất ở Việt Nam, được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới – Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương (2010). Mỗi bia đều có bài văn bia do các danh thần soạn, nội dung không chỉ ghi tên tuổi mà còn nêu ý nghĩa khoa cử, khuyên răn sĩ tử.
- Tượng thờ và bài vị
Trong điện Đại Thành hiện còn tượng thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử) và bài vị của Thất thập nhị hiền. Tượng được tạo tác vào nhiều giai đoạn, phần lớn bằng gỗ sơn son thếp vàng, phong cách chạm khắc truyền thống.
Hai dãy Đông Vu – Tây Vu còn đặt các bài vị thờ các bậc tiên hiền Việt Nam (như Chu Văn An).
- Chuông và khánh đá
Tại Văn Miếu còn lưu giữ chuông đồng đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801), treo ở gác chuông phía trước điện Đại Thành. Ngoài ra còn có một số khánh đá (loại nhạc cụ gõ dùng trong lễ tế) được dùng trong nghi thức tế lễ cổ.
- Đồ tế khí
Bao gồm đỉnh đồng, hạc đồng, lư hương, bát hương, chân nến bằng đồng, gỗ sơn son thếp vàng, được đặt trong khu thờ tự. Các hiện vật này có niên đại từ thời Lê – Nguyễn, phần lớn được tu bổ hoặc thay mới trong các đợt trùng tu.
- Sách, tư liệu và hiện vật khoa cử
Hiện còn một số bản sách cổ, đặc biệt là ván khắc in sách giáo khoa Nho học (như Tứ thư, Ngũ kinh). Tuy nhiên phần lớn ván in gốc của Bí thư các (nhà in trong Quốc Tử Giám xưa) đã thất lạc.
Bảo tàng nhỏ trong khu Thái Học ngày nay còn trưng bày: Mô hình bàn học, bút nghiên, nghiên mực, giấy bút của sĩ tử. Tài liệu, hình ảnh về các khoa thi, quy chế học tập. Tranh vẽ, bản đồ tái hiện cảnh học tập, thi cử thời xưa.
Xếp hạng
- Ngày 28 tháng 4 năm 1962, Bộ văn hoá đã xếp hạng Văn Miếu – Quốc Tử Giám là khu di tích lịch sử cấp Nhà nước.
- Ngày 9 tháng 3 năm 2010, UNESCO đã chính thức công nhận 82 tấm bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, là Di sản tư liệu thế giới.
- Năm 2012, Khuê Văn Các chính thức được chọn làm biểu tượng của thủ đô Hà Nội nhằm tôn vinh giá trị lịch sử của Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Chú thích
[1] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, tr. 108.
Tài liệu tham khảo
- Vũ Tam Lang (1991), Kiến trúc cổ Việt Nam, Nxb Xây dựng.
- Lê Quý Đôn (1962), Kiến văn tiểu lục, Nxb Sử học.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Nguyễn Quang Lộc, Phạm Thuý Hằng (2009), “Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Thăng Long – Hà Nội”, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám.











