Thân thế
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng là con thứ 3 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc. Trong tín ngưỡng thờ nhà Trần, Trần Quốc Tảng là giá thứ 2 (sau Giá Đức Ông Trần Hưng Đạo), Ngài ra tay sát quỷ trừ tà, ban dấu mặn, …Ngoài Đức Ông Cửa Suốt, Ngài còn được gọi là Đức Ông Đệ Tam, Đức Ông Đông Hải, …
Trong lịch sử nghìn năm dựng nước, tại những vùng biên cương của Tổ quốc, các vương triều nước ta, luôn cắt cử những vị tướng tài ra trấn giữ. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thắng lợi rực rỡ lần thứ hai (1285), vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn càng nhận rõ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của vùng biển đảo Đông Bắc. Đó cũng là lý do Trần Quốc Tảng, một vị tướng tài được cử ra trấn giữ vùng biên cương này.
Dũng tướng thời Trần
Tháng Chạp âm lịch năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284), quân Nguyên – Mông mở cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai với quy mô rất lớn. Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, đại quân do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy giao chiến với quân Nguyên tại vùng biên giới nhưng không giữ được thế chủ động, buộc phải rút về căn cứ chiến lược Vạn Kiếp để bảo toàn lực lượng.
Trước tình hình nguy cấp ấy, vua Trần Nhân Tông lập tức điều động lực lượng toàn quốc ứng chiến. Nhà vua sai ông cùng các vương hầu tôn thất gồm Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Minh Hiến vương Trần Quốc Uất và Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện đốc suất khoảng hai mươi vạn quân từ các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh và Long Nhãn kéo về hội quân tại Vạn Kiếp. Toàn bộ lực lượng này đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, tạo thành thế trận lớn nhằm đối đầu trực diện với quân Nguyên – Mông.
Sau hai lần kháng chiến thắng lợi, đến năm 1289, thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông tiến hành xét công – luận tội, ban thưởng cho các tướng lĩnh có công lao. Hưng Đạo vương được gia phong tước Đại vương, còn ông được phong Hưng Nhượng vương, giữ chức Tiết độ sứ, ghi nhận vai trò quan trọng của ông trong cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước.
Tuy nhiên, cuộc đời ông cũng gắn liền với một sự kiện gây nhiều tranh luận trong sử sách. Trong lúc đất nước lâm vào thế hiểm nghèo, ông từng bày tỏ ý kiến với cha đẻ là Trần Quốc Tuấn rằng nên nhân thời cơ cướp ngôi nhà Trần để cứu vãn tình thế. Lời nói này khiến Trần Quốc Tuấn vô cùng phẫn nộ, lập tức rút gươm định giết con để giữ trọn lòng trung với triều đình. May thay, Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn hay tin đã vội chạy tới, khóc lóc xin chịu tội thay, Trần Quốc Tuấn lúc ấy mới nguôi giận và tha cho ông. Sự việc này cho thấy một mặt tính cách thẳng thắn, quyết liệt của ông, mặt khác cũng phản ánh rõ bản lĩnh và đạo trung quân tuyệt đối của Hưng Đạo vương.
Đến năm 1297, dưới triều vua Trần Anh Tông, ông tiếp tục được triều đình tin cậy, cử đem quân đi đánh dẹp sách Sầm Tử, góp phần ổn định an ninh vùng biên viễn.
Trong thời gian làm quan, Hưng Nhượng vương nổi tiếng là người cương trực, không kiêng dè quyền thế. Ông đặc biệt căm ghét Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung. Mỗi khi gặp Khắc Chung, ông thường mắng thẳng: “Thằng này là điềm chẳng lành đối với nhà nước. Họ tên nó là Trần Khắc Chung, chẳng lẽ nhà Trần rồi mất về tay nó chăng?”
Trước những lời chỉ trích gay gắt ấy, Trần Khắc Chung thường phải sợ hãi mà né tránh. Qua đó có thể thấy Hưng Nhượng vương là người có chính kiến mạnh mẽ, dám công khai bày tỏ lo ngại trước những nhân vật mà ông cho là nguy hại đối với vận mệnh triều đình.
Hưng Nhượng vương mất vào tháng 3 âm lịch năm Hưng Long thứ 21 (1313). Một năm sau, năm 1314, triều đình truy tặng ông chức Thái úy, ghi nhận những đóng góp của ông đối với triều Trần, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông và sự nghiệp giữ gìn an ninh quốc gia.
Trấn giữ biên viễn
Các bộ chính sử quan trọng như Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều không ghi chép nhiều về hành trạng cụ thể của ông. Do đó, hiện nay không có đủ căn cứ xác thực để khẳng định chắc chắn rằng ông từng trực tiếp sinh sống hay chỉ huy quân đội tại khu vực tương ứng với tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
Thông tin cho rằng ông từng trấn giữ vùng đất này chủ yếu xuất hiện trong một số thư tịch muộn. Đáng chú ý là sách Trần triều hiển thánh Chính kinh tập biên, do đền Ngọc Sơn (Hà Nội) khắc in năm 1900, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2382. Trong sách có chép rằng: “Quốc Tuấn công cho rằng con trai tính ưa cương dũng ấy (tức Trần Quốc Tảng), không theo đúng đạo làm con, bèn nổi giận lôi đình, đày ra cửa bể Suất ti tuần thuộc phủ Hải Ninh, lộ An Bang.”
Theo ghi chép này, việc Trần Quốc Tảng bị đày ra vùng cửa biển thuộc phủ Hải Ninh, lộ An Bang (khu vực Đông Bắc, tương ứng với một phần Quảng Ninh ngày nay) có thể là nguồn gốc của quan niệm cho rằng ông từng trấn giữ khu vực này. Tuy nhiên, tính xác thực của thông tin trên cần được xem xét một cách thận trọng.
Nhiều khả năng, cách hiểu này chịu ảnh hưởng từ Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744–1818), trong đó tác giả cho rằng Hưng Ninh vương chính là Trần Quốc Tảng. Cách đồng nhất này lại mâu thuẫn rõ ràng với tư liệu sớm và đáng tin cậy hơn là An Nam chí lược do Lê Tắc biên soạn năm 1335. Trong tác phẩm này, Lê Tắc ghi rất rõ rằng Hưng Ninh vương Trần Tung là anh họ của Thế tử (tức vua Trần Thánh Tông) và đã mất vào năm 1290.
Nguyên văn An Nam chí lược chép: “Qua tháng hai, Thế tử khiến anh họ là Hưng Ninh vương Trần Tung nhiều lần tới xin đầu hàng, có ý làm cho quân ta mệt mỏi rồi ban đêm cho quân cảm tử tới quấy rối các đồn… Đến năm Canh Dần, niên hiệu Chí Nguyên (1290), Thế tử mất, con là Trần Nhật Tôn kế lập.”
Đối chiếu với phả hệ nhà Trần cho thấy Trần Quốc Tảng là người cùng thế hệ với Trần Nhân Tông, giữ vai vế anh họ của vua, và vì vậy phải gọi Trần Thánh Tông bằng chú. Do đó, xét về quan hệ huyết thống, Trần Quốc Tảng không thể là Hưng Ninh vương như cách hiểu trong một số thư tịch đời sau.
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc gán cho Trần Quốc Tảng danh hiệu Hưng Ninh vương, cũng như việc cho rằng ông từng trấn giữ khu vực Hải Ninh – An Bang, chủ yếu xuất phát từ sự nhầm lẫn trong các tài liệu muộn, không phù hợp với chính sử và các nguồn tư liệu gần thời Trần. Vì vậy, những thông tin này cần được nhìn nhận như giả thuyết học thuật, chứ chưa thể coi là kết luận xác đáng về hành trạng lịch sử của ông.
Thờ tự
Ông được thờ tại một số nơi như Đền Cửa Ông (phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, Quảng Ninh), miếu thờ tại đình Tả, xã Trác Châu (nay là thôn Trác Châu, xã An Thượng, thành phố Hải Dương), Văn Miếu (hay còn gọi là Văn Chỉ Linh Khê) thuộc thôn Linh Khê, xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, đình Phúc Xá A, xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Giàng.
Trần Quốc Tảng cũng được thờ ở di tích chùa Đẩu Long, phường Tân Thành, thành phố Hoa Lư, Ninh Bình tương truyền ông từng có thực ấp ở đây.
Tên ông được đặt cho nhiều đường phố tại các thành phố trên khắp Việt Nam như Hạ Long (từ đường Trần Hưng Đạo đến phố Vạn Xuân), Cẩm Phả (từ đường Lý Thường Kiệt đến đường Hoàng Quốc Việt), Móng Cái, Bắc Ninh, Nam Định, Long Xuyên, …
Gia đình
Phu nhân: Bảo Huệ quốc mẫu, không rõ xuất thân.
Hậu duệ:
Văn Huệ vương Trần Quang Triều, lấy Thượng Trân công chúa Trần Thị Thục Tư, con gái Trần Nhân Tông.
Văn Đức Phu nhân,bà là nguyên phối và được lập làm Hoàng thái tử phi của Trần Anh Tông khi còn ở tiềm để. Sau khi Anh Tông lên ngôi thì bị phế khi chưa làm Hoàng hậu.Không rõ nguyên nhân và cuộc sống sau này.
Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu Trần Thị Phùng.Chị gái bị phế thì được sắc phong làm Thánh Bà Phu nhân.[8] Năm Hưng Long thứ 17 (1309) được sách lập làm Hoàng hậu của Trần Anh Tông.
Uy Huệ vương Trần Nguyên Đức, có con gái là Nguyên Huy Quận chúa
Tài liệu tham khảo
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Văn Siêu (2004),Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Hung Nhuong Vuong Tran Quoc Tang (1252–1313)
Background
Hung Nhuong Vuong Tran Quoc Tang was the third son of Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan, the great national hero. In the religious worship of the Tran dynasty, Tran Quoc Tang is regarded as the second spiritual incarnation (after Duc Ong Tran Hung Dao). He is believed to subdue demons and evil spirits and to bestow sacred blessings. In addition to the title Duc Ong Cua Suot, he is also known as Duc Ong De Tam and Duc Ong Dong Hai.
Throughout a thousand years of national history, Vietnamese dynasties consistently appointed capable generals to guard frontier regions. After the resounding victory in the second resistance war against the Yuan–Mongol invaders (1285), King Tran Nhan Tong and Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan became increasingly aware of the exceptional strategic importance of the northeastern maritime and island region. For this reason, Tran Quoc Tang, a talented general, was assigned to defend this frontier area.
A valiant general of the Tran period
In the twelfth lunar month of the sixth year of Thieu Bao (1284), the Yuan–Mongol forces launched their second large-scale invasion of Dai Viet. In the early phase of the resistance, the main army under the command of Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan engaged the Yuan forces along the border but failed to maintain the initiative and was forced to withdraw to the strategic base of Van Kiep to preserve its strength.
Facing this critical situation, King Tran Nhan Tong immediately mobilized forces nationwide. He ordered Tran Quoc Tang, together with royal princes including Hung Vu Vuong Tran Quoc Nghien, Minh Hien Vuong Tran Quoc Uat, and Hung Tri Vuong Tran Quoc Hien, to lead approximately two hundred thousand troops from the regions of Bang Ha, Na Sam, Tra Huong, Yen Sinh, and Long Nhan to assemble at Van Kiep. All these forces were placed under the unified command of Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan, forming a major strategic formation to confront the Yuan–Mongol army directly.
After two victorious resistance wars, in 1289 the retired emperor Tran Thanh Tong and King Tran Nhan Tong conducted a review of merits and faults and rewarded meritorious generals. Hung Dao Vuong was elevated to the title Dai Vuong, while Tran Quoc Tang was granted the title Hung Nhuong Vuong and appointed Tiet do su, recognizing his important role in the defense of the country.
However, his life was also associated with a controversial incident recorded in historical sources. At a moment when the country faced grave danger, he once expressed to his father, Tran Quoc Tuan, the opinion that the time should be seized to usurp the Tran throne in order to save the situation. This statement enraged Tran Quoc Tuan, who immediately drew his sword with the intent to kill his son in order to preserve absolute loyalty to the dynasty. Fortunately, Hung Vu Vuong Tran Quoc Nghien, upon hearing of the incident, rushed in and tearfully begged to take the blame in his stead. Only then did Tran Quoc Tuan calm down and spare Tran Quoc Tang. This episode reveals, on one hand, Tran Quoc Tang’s frank and resolute character, and on the other hand, the unwavering loyalty and moral integrity of Hung Dao Vuong.
In 1297, under the reign of King Tran Anh Tong, Tran Quoc Tang continued to enjoy the court’s trust and was sent to lead troops to suppress unrest in Sam Tu, contributing to the stabilization of frontier security.
During his official career, Hung Nhuong Vuong was known for his uprightness and fearlessness toward power. He particularly despised Tran Khac Chung, who held the position of Nhap noi hanh khien thuong thu ta boc xa. Whenever he encountered Tran Khac Chung, he would openly rebuke him, saying:
“This man is an ill omen for the state. His name is Tran Khac Chung—could it be that the Tran dynasty will one day fall into his hands?”
Confronted with such harsh criticism, Tran Khac Chung often became fearful and avoided him. This demonstrates that Hung Nhuong Vuong was a man of strong convictions, unafraid to voice public concern about figures he considered harmful to the fate of the dynasty.
Hung Nhuong Vuong died in the third lunar month of the twenty-first year of Hung Long (1313). One year later, in 1314, the court posthumously conferred upon him the rank of Thai uy, acknowledging his contributions to the Tran dynasty, especially in the resistance against the Yuan–Mongols and in safeguarding national security.
Guarding the frontiers
Major official histories such as Dai Viet su ky toan thu and Kham dinh Viet su thong giam cuong muc record little detail about Tran Quoc Tang’s specific activities. As a result, there is insufficient firm evidence to conclusively assert that he personally resided in or directly commanded troops in the area corresponding to present-day Quang Ninh province.
Claims that he guarded this region mainly appear in later texts. Notably, the work Tran trieu hien thanh Chinh kinh tap bien, engraved in 1900 by Ngoc Son Temple in Ha Noi and now preserved at the Institute of Han-Nom Studies (catalogue A.2382), records: “Duke Quoc Tuan believed that his son, with his fondness for forceful bravery (namely Tran Quoc Tang), did not properly follow the way of filial conduct, and in a thunderous rage exiled him to the coastal gate of Suat ti tuan under Hai Ninh prefecture, An Bang circuit.”
According to this account, the exile of Tran Quoc Tang to a coastal area of Hai Ninh prefecture, An Bang circuit (the northeastern region, corresponding in part to present-day Quang Ninh), may be the origin of the belief that he once guarded this area. However, the reliability of this information requires cautious evaluation.
It is likely that this interpretation was influenced by Hoang Viet van tuyen by Bui Huy Bich (1744–1818), in which the author identified Hung Ninh Vuong as Tran Quoc Tang. This identification, however, clearly contradicts earlier and more reliable sources such as An Nam chi luoc, compiled by Le Tac in 1335. In that work, Le Tac clearly states that Hung Ninh Vuong Tran Tung was a cousin of the Crown Prince (later King Tran Thanh Tong) and died in 1290.
An Nam chi luoc records: “In the second month, the Crown Prince repeatedly sent his cousin Hung Ninh Vuong Tran Tung to request surrender, intending to exhaust our troops and then at night send death-defying soldiers to harass the camps… In the year Canh Dan, the Zhi Yuan era (1290), the Crown Prince died, and his son Tran Nhat Ton succeeded him.”
Comparison with the Tran dynasty genealogy shows that Tran Quoc Tang belonged to the same generation as Tran Nhan Tong, holding the status of a cousin of the king, and thus would have addressed Tran Thanh Tong as an uncle. Therefore, in terms of blood relations, Tran Quoc Tang could not have been Hung Ninh Vuong, as suggested by some later texts.
From these analyses, it can be seen that attributing the title Hung Ninh Vuong to Tran Quoc Tang, as well as the claim that he once guarded the Hai Ninh–An Bang region, largely stems from confusion in later sources and does not accord with official histories or near-contemporary records. Consequently, such information should be regarded as academic hypotheses rather than definitive conclusions about his historical activities.
Worship
Tran Quoc Tang is worshiped at several sites, including Cua Ong Temple (Cua Ong ward, Cam Pha city, Quang Ninh), a shrine at Ta Communal House in Trac Chau commune (now Trac Chau hamlet, An Thuong commune, Hai Duong city), the Temple of Literature (also known as Van Chi Linh Khe) in Linh Khe hamlet, Thanh Quang commune, Nam Sach district, and Phuc Xa A Communal House in Cam Phuc commune, Cam Giang district.
He is also worshiped at Dau Long Pagoda in Tan Thanh ward, Hoa Lu city, Ninh Binh, where he is said to have once held a fief.
His name has been given to many streets in cities across Vietnam, such as Ha Long (from Tran Hung Dao Street to Van Xuan Street), Cam Pha (from Ly Thuong Kiet Street to Hoang Quoc Viet Street), Mong Cai, Bac Ninh, Nam Dinh, Long Xuyen, and others.
Family
Consort: Bao Hue Quoc Mau, of unknown origin.
Descendants:
- Van Hue Vuong Tran Quang Trieu, who married Thuong Tran Princess Tran Thi Thuc Tu, daughter of Tran Nhan Tong.
- Van Duc Phu Nhan, the primary consort, who was appointed Crown Princess of Tran Anh Tong while he was still heir apparent; after Anh Tong ascended the throne, she was deposed before becoming Empress. The reasons and her later life remain unclear.
- Bao Tu Thuan Thanh Empress Tran Thi Phung. After her elder sister was deposed, she was conferred the title Thanh Ba Phu Nhan. In the seventeenth year of Hung Long (1309), she was formally installed as Empress of Tran Anh Tong.
- Uy Hue Vuong Tran Nguyen Duc, who had a daughter titled Nguyen Huy Quan chua.
References
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Văn Siêu (2004),Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Hung Nhuong vuong Tran Quoc Tang (1252–1313)
Origines
Hung Nhuong vuong Tran Quoc Tang etait le troisieme fils de Hung Dao vuong Tran Quoc Tuan, heros national. Dans le culte populaire de la dynastie Tran, Tran Quoc Tang occupe le rang de « gia » secondaire (apres Gia Duc Ong Tran Hung Dao). Il est honore comme une divinite protectrice, reputee pour chasser les esprits malfaisants, ecarter les forces malignes et accorder des faveurs spirituelles. En dehors de l’appellation Duc Ong Cua Suot, il est egalement connu sous les noms de Duc Ong De Tam, Duc Ong Dong Hai, etc.
Dans l’histoire millenaire de la fondation et de la defense du pays, aux regions frontalieres et aux confins du territoire, les dynasties vietnamiennes ont toujours confie la garde de ces zones a des generaux talentueux. Apres la brillante victoire lors de la deuxieme guerre de resistance contre les envahisseurs Nguyen–Mongols (1285), le roi Tran Nhan Tong et Hung Dao vuong Tran Quoc Tuan prirent encore davantage conscience de l’importance strategique particuliere de la region maritime et insulaire du Nord-Est. C’est pour cette raison que Tran Quoc Tang, general de valeur, fut charge de la defense de cette zone frontaliere.
Vaillant general de l’epoque Tran
Au douzieme mois lunaire de la sixieme annee de l’ere Thieu Bao (1284), les armees Nguyen–Mongoles lancerent une deuxieme invasion du Dai Viet a tres grande echelle. Durant la phase initiale de la resistance, l’armee principale commandee par Hung Dao vuong Tran Quoc Tuan affronta l’ennemi dans les regions frontieres, mais ne parvint pas a conserver l’initiative et dut se replier vers la base strategique de Van Kiep afin de preserver ses forces.
Face a cette situation critique, le roi Tran Nhan Tong mobilisa immediatement les forces de l’ensemble du pays. Il ordonna a Tran Quoc Tang, accompagne des princes et membres de la famille imperiale, notamment Hung Vu vuong Tran Quoc Nghien, Minh Hien vuong Tran Quoc Uat et Hung Tri vuong Tran Quoc Hien, de conduire environ deux cent mille soldats en provenance des regions de Bang Ha, Na Sam, Tra Huong, Yen Sinh et Long Nhan pour rejoindre Van Kiep. L’ensemble de ces troupes fut place sous le commandement unifie de Hung Dao vuong Tran Quoc Tuan, formant un dispositif militaire majeur pour affronter directement les forces Nguyen–Mongoles.
Apres les deux resistances victorieuses, en 1289, l’ex-empereur Tran Thanh Tong et le roi Tran Nhan Tong procederent a l’evaluation des merites et des fautes, et accorderent recompenses et titres aux generaux ayant rendu des services eminents. Hung Dao vuong fut eleve au rang de Dai vuong, tandis que Tran Quoc Tang fut nomme Hung Nhuong vuong et investi de la charge de Tiet do su, reconnaissant ainsi son role important dans la defense du pays.
Cependant, sa vie fut aussi marquee par un episode controverse dans les annales historiques. A un moment ou le pays etait en grand peril, il exprima a son pere, Tran Quoc Tuan, l’opinion qu’il conviendrait de profiter de la situation pour s’emparer du trone de la dynastie Tran afin de sauver la situation. Ces paroles provoquerent la colere extreme de Tran Quoc Tuan, qui tira son epee avec l’intention de tuer son fils pour demeurer fidele a la dynastie. Heureusement, Hung Vu vuong Tran Quoc Nghien, mis au courant, accourut en pleurant et supplia d’etre puni a sa place ; Tran Quoc Tuan se calma alors et lui accorda la vie. Cet episode revele d’une part le caractere direct et resolu de Tran Quoc Tang, et d’autre part la loyaute absolue de Hung Dao vuong envers la cour.
En 1297, sous le regne du roi Tran Anh Tong, il continua a beneficier de la confiance de la cour, qui l’envoya conduire des troupes pour reprimer les troubles a Sam Tu, contribuant a la stabilisation de la securite aux frontieres.
Dans l’exercice de ses fonctions, Hung Nhuong vuong etait celebre pour sa droiture et son absence de complaisance envers le pouvoir. Il nourrissait une hostilite particuliere a l’egard de Nhap noi hanh khien thuong thu ta boc xa Tran Khac Chung. Chaque fois qu’il le rencontrait, il le reprimandait ouvertement en disant : « Cet homme est un mauvais presage pour l’Etat. Son nom est Tran Khac Chung ; serait-ce donc par lui que la maison Tran viendrait a perir ? »
Face a ces critiques severes, Tran Khac Chung etait souvent contraint de s’eloigner par crainte. Cela montre que Hung Nhuong vuong etait un homme de convictions fortes, osant exprimer publiquement ses inquietudes a propos de ceux qu’il jugeait nuisibles au destin de la dynastie.
Hung Nhuong vuong mourut au troisieme mois lunaire de la vingt et unieme annee de l’ere Hung Long (1313). L’annee suivante, en 1314, la cour lui confera a titre posthume le rang de Thai uy, en reconnaissance de ses contributions a la dynastie Tran, en particulier lors des guerres contre les Nguyen–Mongols et dans la preservation de la securite nationale.
Defense des regions frontieres
Les principales chroniques officielles, telles que le Dai Viet su ky toan thu et le Kham dinh Viet su thong giam cuong muc, ne donnent que peu d’informations detaillees sur ses activites concretes. Il n’existe donc pas de preuves suffisamment solides pour affirmer avec certitude qu’il ait vecu durablement ou commande directement des troupes dans la region correspondant a l’actuelle province de Quang Ninh.
Les informations selon lesquelles il aurait garde cette region apparaissent surtout dans certains ouvrages tardifs. Il convient de signaler en particulier le Tran trieu hien thanh Chinh kinh tap bien, grave par le temple Ngoc Son (Hanoi) en 1900 et conserve a l’Institut de recherche Han Nom sous la cote A.2382. Cet ouvrage rapporte que : « Quoc Tuan cong, considerant que son fils, au temperament trop rude et belliqueux (c’est-a-dire Tran Quoc Tang), ne suivait pas correctement la voie de la pieté filiale, entra dans une colere foudroyante et l’exila vers la porte maritime de Suat Ti tuan, relevant de la prefecture de Hai Ninh, circuit de An Bang. »
Selon ce recit, l’exil de Tran Quoc Tang vers la region maritime de la prefecture de Hai Ninh, circuit de An Bang (zone du Nord-Est correspondant en partie a l’actuelle Quang Ninh), pourrait etre a l’origine de la croyance selon laquelle il aurait garde cette region. Toutefois, la fiabilite de cette information doit etre examinee avec prudence.
Il est tres probable que cette interpretation ait ete influencee par le Hoang Viet van tuyen de Bui Huy Bich (1744–1818), dans lequel l’auteur identifie Hung Ninh vuong a Tran Quoc Tang. Cette assimilation contredit cependant clairement une source plus ancienne et plus fiable, l’An Nam chi luoc, compilee par Le Tac en 1335. Dans cet ouvrage, Le Tac precise explicitement que Hung Ninh vuong Tran Tung etait un cousin du Prince heritier (c’est-a-dire le futur roi Tran Thanh Tong) et qu’il mourut en 1290.
Le texte original de l’An Nam chi luoc rapporte :
« Apres le deuxieme mois, le Prince heritier envoya a plusieurs reprises son cousin Hung Ninh vuong Tran Tung pour demander la reddition, dans l’intention d’epuiser nos troupes, puis, de nuit, il envoya des soldats suicides harceler les camps… En l’annee Canh Dan de l’ere Chi Nguyen (1290), le Prince heritier mourut, et son fils Tran Nhat Ton lui succeda. »
La confrontation de ces donnees avec la genealogie de la dynastie Tran montre que Tran Quoc Tang appartenait a la meme generation que Tran Nhan Tong, et occupait donc le rang de cousin de l’empereur, devant appeler Tran Thanh Tong « oncle ». Par consequent, du point de vue des liens de parente, Tran Quoc Tang ne pouvait etre Hung Ninh vuong, contrairement a certaines interpretations tardives.
De ces analyses, il ressort que l’attribution a Tran Quoc Tang du titre de Hung Ninh vuong, ainsi que l’affirmation selon laquelle il aurait garde la region de Hai Ninh – An Bang, proviennent principalement de confusions dans des sources tardives, incompatibles avec les chroniques officielles et les documents contemporains de l’epoque Tran. Ces informations doivent donc etre considerees comme des hypotheses historiographiques, et non comme des conclusions etablies sur son parcours historique.
Culte
Tran Quoc Tang est honore dans plusieurs lieux, notamment au temple Cua Ong (quartier Cua Ong, ville de Cam Pha, province de Quang Ninh), dans un sanctuaire situe a la maison communale Ta, commune de Trac Chau (aujourd’hui hameau de Trac Chau, commune de An Thuong, ville de Hai Duong), au Van Mieu (egalement appele Van Chi Linh Khe) du hameau de Linh Khe, commune de Thanh Quang, district de Nam Sach, ainsi qu’a la maison communale Phuc Xa A, commune de Cam Phuc, district de Cam Giang.
Il est egalement honore au site de la pagode Dau Long, quartier Tan Thanh, ville de Hoa Lu, province de Ninh Binh, ou la tradition rapporte qu’il possedait autrefois un fief.
Son nom a ete donne a de nombreuses rues dans diverses villes du Vietnam, telles que Ha Long, Cam Pha, Mong Cai, Bac Ninh, Nam Dinh, Long Xuyen, et bien d’autres.
Famille
Epouse : Bao Hue quoc mau, d’origine inconnue.
Descendance :
Van Hue vuong Tran Quang Trieu, epoux de la princesse Thuong Tran Tran Thi Thuc Tu, fille du roi Tran Nhan Tong.
Van Duc phu nhan, premiere epouse, nommee princesse heritiere de Tran Anh Tong lorsqu’il etait encore prince ; elle fut deposee apres son accession au trone, avant d’etre couronnee imperatrice. Les causes et sa vie ulterieure demeurent inconnues.
Bao Tu Thuan Thanh hoang hau Tran Thi Phung : apres la destitution de sa sœur ainee, elle fut elevee au rang de Thanh Ba phu nhan ; en la dix-septieme annee de l’ere Hung Long (1309), elle fut officiellement investie imperatrice de Tran Anh Tong.
Uy Hue vuong Tran Nguyen Duc, dont la fille porta le titre de Nguyen Huy quan chua.
References bibliographiques
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Văn Siêu (2004),Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
興讓王陳國瓚(1252-1313)
身世
興讓王陳國瓚是民族英雄興道王陳國峻(Tran Quoc Tuan)之第三子。在陳朝的民間信仰體系中,陳國瓚被奉為第二聖駕(僅次於德翁陳興道),被視為能誅鬼除邪、賜鹽符的神祇之一。除「德翁門帥」之外,民間亦尊稱其為「德翁第三」、「東海德翁」等。
在越南千年建國史中,於國家邊疆要地,歷代王朝一向派遣名將鎮守。第二次抗擊元—蒙古軍並取得輝煌勝利(1285)後,陳仁宗(Tran Nhan Tong)皇帝與興道王陳國峻更加清醒地認識到東北海島地區的特殊戰略地位。正因如此,陳國瓚這位能將被派往鎮守該邊疆要地。
陳代猛將
紹寶六年(1284)臘月,元—蒙古軍以極大規模發動對大越的第二次侵略。抗戰初期,由興道王陳國峻統率的大軍在邊境地區與元軍交戰,未能掌握主動權,被迫撤回萬劫(Van Kiep)戰略基地以保存實力。
形勢危急之下,陳仁宗皇帝立即動員全國兵力迎戰,命陳國瓚與宗室諸王,包括興武王陳國顯(Tran Quoc Nghien)、明憲王陳國鬱(Tran Quoc Uat)與興智王陳國現(Tran Quoc Hien),督率約二十萬軍隊,自榜河、那森、茶香、安生與龍眼等地會師萬劫。全部兵力統歸興道王陳國峻節制,形成直面元—蒙古軍的大規模戰陣。
兩次抗戰勝利後,至1289年,上皇陳聖宗(Tran Thanh Tong)與皇帝陳仁宗論功行賞。興道王加封為大王,而陳國瓚受封興讓王,授節度使職,表彰其在保家衛國戰爭中的重要貢獻。
然而,其一生亦與一件在史書中頗具爭議的事件相連。國家危亡之際,他曾向父親陳國峻進言,主張乘機奪取陳氏皇位以挽救局勢。此言使陳國峻勃然大怒,當即拔劍欲誅其子,以守對朝廷之忠。幸得興武王陳國顯聞訊趕至,哭求代罪,陳國峻方息怒而赦之。此事一方面顯示陳國瓚性情直率、果決,另一方面亦鮮明體現興道王對君臣大義的絕對忠誠。
1297年,在陳英宗(Tran Anh Tong)朝,陳國瓚繼續受朝廷倚重,被派率軍討伐三子冊地區,為穩定邊疆治安作出貢獻。
仕途期間,興讓王以剛直不阿、無懼權勢著稱,尤為憎惡入內行遣尚書左僕射陳克終(Tran Khac Chung)。每逢相見,常當面斥責曰:
「此人乃國家之不祥也。其名為陳克終,莫非陳氏終將亡於其手乎?」
面對如此嚴厲的指責,陳克終往往畏懼而避之。由此可見,興讓王政見鮮明,敢於公開表達對其認為危害朝運之人物的憂慮。
興隆二十一年(1313)農曆三月,興讓王去世。翌年(1314),朝廷追贈其為太尉,以表彰其對陳朝,尤其是在抗擊元—蒙古與維護國家安全方面的卓著功績。
鎮守邊陲
《大越史記全書》《欽定越史通鑑綱目》等重要正史對其具體行狀記載不多,故目前尚無確鑿證據能斷定其曾直接居住或統兵於今廣寧省一帶。
其曾鎮守該地的說法,主要見於若干晚出文獻。其中尤以《陳朝顯聖正經集編》為代表,該書由河內玉山祠於1900年刻印,今藏於漢喃研究院,編號A.2382。書中載曰:「國峻公以其子性好剛勇(即陳國瓚),不循子道,怒若雷霆,遂流放於海門率司巡,屬海寧府,安邦路。」
依此記載,陳國瓚被流放至海寧府安邦路(今越南東北部,約當今日廣寧省一帶)的海口地區,或為後世認為其曾鎮守該地之由來。然而,上述資料之真實性仍需審慎考辨。
此一理解,很可能受裴輝璧(Bui Huy Bich,1744–1818)《皇越文選》影響,書中將興寧王等同於陳國瓚。然此說明顯與較早且更可靠的史料《安南志略》(1335)相矛盾。該書明確記載,興寧王陳松(Tran Tung)為太子(即陳聖宗)之堂兄,卒於1290年。
《安南志略》原文云:「過二月,太子使其堂兄興寧王陳松數來乞降,意在使我軍疲憊,夜則遣敢死之士擾諸營……至庚寅年,至元(1290),太子卒,其子陳日尊嗣立。」
對照陳氏族譜可知,陳國瓚與陳仁宗同輩,為皇帝之堂兄,按輩分須稱陳聖宗為叔父。故就血緣關係而言,陳國瓚不可能是興寧王,與後世部分文獻之說法不符。
綜上所述,將陳國瓚附會為興寧王,或認為其曾鎮守海寧—安邦一帶,主要源於晚出文獻的混淆,與正史及近時陳代史料不相符合。相關說法宜視為學術假說,尚不足以作為其歷史行狀的定論。
祀祠
陳國瓚今受祀於多處,如廣寧省錦普市門翁祠、卓州社左亭祠(今屬海陽市安上社卓州村)、靈溪文廟(又稱靈溪文祠,屬南策縣清光社)、錦福社福舍A亭等。
此外,寧平省華閭市新城坊斗龍寺亦祀奉陳國瓚,傳稱其曾於此地有實封邑。
其名被用於全國多地街道命名,如下龍市、錦普市、芒街市、北寧市、南定市、龍川市等。
家族
夫人:保惠國母,出身不詳。
後裔:
- 文惠王陳光朝(Tran Quang Trieu),娶上珍公主陳氏淑姿(Tran Thi Thuc Tu),為陳仁宗之女。
- 文德夫人,為元配,於陳英宗在潛邸時被立為皇太子妃,英宗即位後尚未立為皇后即遭廢黜,原因及其後生平不詳。
- 保慈順聖皇后陳氏馮(Tran Thi Phung),原因姊被廢,先受封為聖婆夫人;興隆十七年(1309)被冊立為陳英宗皇后。
- 威惠王陳元德(Tran Nguyen Duc),其女為元輝郡主。
參考
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Văn Siêu (2004),Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.