Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576)

Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Tổ tiên của Nguyễn Cảnh Hoan vốn sinh sống tại phường Thiên Lý, huyện Đông Triều, thuộc vùng Quảng Ninh ngày nay. Vào cuối thời kỳ nhà Hồ, do tình hình chiến loạn và biến động xã hội, gia tộc đã rời quê cũ di cư vào Nghệ An và định cư tại làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương. Từ nguồn gốc này, dòng họ còn được gọi là họ Nguyễn Cảnh Thiên Lý, nhằm ghi nhớ nơi phát tích ban đầu của tổ tiên.

Theo gia phả, ông thuộc đời thứ sáu của dòng họ, là hậu duệ của những nhân vật nổi bật trong thời kỳ Hậu Trần, tiêu biểu như các anh hùng Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị.

Thân phụ của ông là Phúc Khánh Quận công Nguyễn Cảnh Huy, người quê tại làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Thân mẫu xuất thân từ họ Thái ở xã Hòa Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An.

Trung thần nhà Lê

Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung sau nhiều năm nắm quyền trong triều đình nhà Lê đã ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi, lập nên vương triều Mạc. Không chấp nhận thần phục, cựu thần nhà Lê là An Thành hầu Nguyễn Kim chạy lên Sầm Châu chiêu mộ hào kiệt, tôn Lê Duy Ninh lên ngôi, tức Lê Trang Tông (1533–1548), mở đầu thời kỳ Trung Hưng nhà Lê.

Trong bối cảnh Thanh – Nghệ loạn lạc, trộm cướp nổi lên khắp nơi, cha con Nguyễn Cảnh Huy và Nguyễn Cảnh Hoan đã lập đồn trại, chiêu mộ quân sĩ tại thôn Chiêu Quả (Thanh Chương), dẹp các toán sơn tặc và dần ổn định địa phương. Năm 1536, cha con ông đem quân theo Lê Trang Tông ở Sầm Châu và được trọng dụng. Nguyễn Cảnh Huy được phong Bình Dương hầu, còn Nguyễn Cảnh Hoan được phong Dương Đường hầu, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Kim.

Sau khi Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc năm 1545, quyền lực rơi vào tay Trịnh Kiểm. Nguyễn Cảnh Hoan tiếp tục phò tá và trở thành tướng quan trọng. Năm 1547, khi tướng Mạc Nguyễn Kính đem quân tấn công, Nguyễn Cảnh Hoan phục kích đánh bại quân Mạc trên đường rút lui và được phong Đề đốc, Tấn Quận công. Nhờ nhiều chiến công chống quân Mạc, đến năm 1553 ông được phong Thái Bảo và được giao quản lý, thu thuế hai huyện Nam Đường và Chân Phúc (Nghệ An).

Năm 1555, khi quân Mạc tấn công Thanh Hóa, Nguyễn Cảnh Hoan lập công lớn, bắt sống tướng địch. Sau khi Trịnh Kiểm qua đời năm 1570, nội bộ họ Trịnh xảy ra tranh chấp, nhưng Nguyễn Cảnh Hoan vẫn theo phò Trịnh Tùng, cùng các tướng rút về Yên Trường để củng cố lực lượng. Nhân lúc này, quân Mạc kéo vào xâm lấn, song quân Lê tổ chức phản công, chia quân nhiều hướng đánh chiếm lại các vùng đã mất, buộc quân Mạc phải rút về phía bắc.

Từ năm 1571 đến 1572, quân Mạc nhiều lần tiến đánh Nghệ An. Nguyễn Cảnh Hoan cùng các tướng như Lại Thế Khanh và Phan Công Tích nhiều lần đem quân cứu viện, giao chiến với các tướng Mạc như Mạc Kính ĐiểnNguyễn Quyện, buộc quân Mạc phải rút lui.

Năm 1573, khi Lê Duy Đàm lên ngôi, Nguyễn Cảnh Hoan được chuyển sang ban văn, giữ các chức Hiệp mưu công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Binh bộ Thượng thư, Thái phó, kiêm Hành tướng sự, cho thấy vị thế và uy tín lớn của ông trong triều.

Năm 1575, tướng Mạc Nguyễn Quyện đem đại quân đánh Hoan Châu. Nguyễn Cảnh Hoan cùng các tướng tổ chức phòng thủ, lập doanh trại và đắp lũy từ vùng Nam Đàn đến Đô Lương để chống giữ. Hai bên giao chiến nhiều trận ác liệt tại vùng Thanh Chương. Sau khi quân Mạc rút theo đường sông Lam ra biển, Nguyễn Cảnh Hoan đặt phục binh tại Rú Nguộc, đánh tan quân Mạc, giết chết Kỳ Quận Công nhà mạc, buộc Nguyễn Quyện phải dẫn tàn quân tháo chạy ra biển về bắc. Trận này quân Lê giành được thắng lợi lớn.

Bị nội phản

Năm 1576, nhà Mạc huy động các tướng giỏi và đại binh đánh Thanh – Nghệ. Khiêm Vương Kính Điển đánh vùng sông Chu huyện Thụy Nguyên, Mạc Ngọc Liễn đánh vùng sông Mã thuộc Yên Định, Nguyễn Quyện tiến theo đường biển đánh phá Nghệ An, trăm họ rúng động.

Trịnh Tùng cho người đưa chỉ vào triệu Cảnh Hoan về bàn bạc kế hoạch chống giữ. Thuộc tướng của Cảnh Hoan là Lâm quận công làm phản, đầu hàng Nguyễn Quyện và tiết lộ tin tức. Nguyễn Quyện đem quân trở ra Ngọc Sơn, Thanh Hóa đóng đồn từ Cầu Quán đến Mạo Lạp, lại cho quân mai phục hai bên đón đường.

Trên đường ra Yên Trường, Cảnh Hoan và quân túc vệ rơi vào mai phục của Nguyễn Quyện tại Bông Đồn, Độc Hiệu. Đánh nhau hơn một ngày, Cảnh Hoan đem quân theo ít, chống không được đại binh nhà Mạc nên yếu thế dần. Nguyễn Quyện thấy vậy bảo tướng sĩ rằng: “Trịnh Mô thua chạy, tướng lệnh vô phèng, ta nhất định bắt được y”.

Rồi đốc quân đuổi theo và bắt được Cảnh Hoan đem về Thăng Long.

Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi rằng:Từ đấy, oai thanh của Nguyễn Quyện ngày một lừng lẫy, trở thành viên danh tướng của họ Mạc. Các tướng hùng, tôi giỏi cả miền Giang Đông đều cho là không bằng Nguyễn Quyện

Trịnh Tùng phái người ra bắc tìm cách đem vàng chuộc ông nhưng không được. Nhà Mạc biết Hoan là tướng giỏi bèn cho các đại thần, đặc biệt là Nguyễn Quyện tới tìm cách lôi kéo nhưng ông cự tuyệt.

Tháng 9 năm 1576, Cảnh Hoan bị giết tại Thăng Long.

Đối đáp với Nguyễn Quyện

Bị giam tại Thăng Long, nhà Mạc thấy ông là tướng giỏi, rộng rãi mà cương nghị, muốn tìm cách lôi kéo mua chuộc, cử các đại thần văn võ tới thăm viếng dụ dỗ nhưng bị ông cự tuyệt. Nguyễn Quyện đến gặp ông và nói rằng:

Ta nghe ở thôn quê có câu sấm truyền rằng:

Mô là cây của Mạc, nếu không được Mạc dùng, ắt hẳn sẽ thành tro dưới mồ thôi(Mô giả, Mộc mạc dã; bất bi Mạc dụng, tất thành hưu mô chi mộ)”. Ý giả sấm truyền cũng muốn nhắc nhở Tấn quận công đấy thôi, thế mà Tấn quận công lại một mực không tỉnh ngộ.”

Cảnh Hoan đáp rằng:

Bình sinh khi qua chơi nhà ông, ta thấy thân sinh của ông bảo ông tuy thông minh nhưng lười học, nên mới đặt tên cho ông là Quyện, nhốt ông trong thư phòng, có câu răn rằng: “Quyện là người của sách, vì quay lưng lại sách, quả nhiên bị cái nhục cầm tù”(Quyện giả, quyển nhân giã; hữu vi ư quyển, quả thụ khuyên tù chí nhục)”. Sao ông không suy nghĩ về điều đó. Người đọc sách không thể làm trái với sách. Sách có nói: “Tôi ngay không thờ hai chúa”, ông sao làm trái lời đó?”1

Nguyễn Quyện nói:

Đại trượng phu không thờ hai vua, thế là trung. Quyện này nếu về với chủ cũ sẽ thất trung.”2

Nguyễn Quyện nói xong phẩy áo mà đi. Sau cuộc viếng thăm này, biết không thể thu phục được Cảnh Hoan nên nhà Mạc đem ông giết đi. Là địch thủ nhiều năm trên chiến trường Hoan Châu, tiếc ông là người cương liệt trung nghĩa, Nguyễn Quyện đã cho người khâm liệm và xin Vua Mạc cho người đưa thi hài về Hoan Châu và có nói về ông rằng:

Trung nghĩa, cương liệt đời hiếm hoi, sau này ắt sẽ thành thần lớn” 3

Trước khi chết Nguyễn Cảnh Hoan viết hai bài thơ tuyệt mệnh rằng:

Nhân trung bẩm cương nghị
Thế thượng đốc trung trinh
Thiên địa quang chính khí
Nhật nguyệt chiếu lâm tình
Lăng lăng thanh bất hủ
Lẫm lẫm tử do sinh
Sát phạt chư ma quỷ
Tróc phược chúng tà tinh
Túng hữu chân tâm đảo
Lai lâm tự luật linh

Lại viết thêm:

Thế thụ thao kiềm
Đàn đăng tướng súy
Kiên trì kình tiết thanh
Lưu thử đan tâm tử
Thân thượng tri Lê Trịnh triều
Diện khẳng tâm trung nghĩa quỷ
Nhan Đường,Văn Tống liên tiền hiền
Liệt nhật thu sương thùy hậu thế

Thờ tự

Triều đình nhà Lê truy phong ông là Tấn quốc công, và phong là Hùng Nghị Khuông Tế Trạch Dân Đại Vương, xếp vào trung đẳng thần, cúng tế và hương hỏa hàng năm. Ban thêm đất vùng Ngọc Sơn, Nông Sơn, Hồ Sơn thuộc vùng Nam Đường làm thái ấp. Về sau con cháu nhiều người làm tướng có nhiều công tích, ngoài hai huyện Nam Đường, Chân Phúc, được cấp thêm hai huyện Thanh Miện và Phù Dung làm bổng lộc.

Sắc chỉ triều đình nhà Lê lập đền thờ chính của ông ở thôn Chân Ngọc, xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương.

Năm 1602, đền thờ ông được xây dựng quy mô ở xã Tràng Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Năm 1787 được trùng tu, Năm 1895 xây thêm trung điện và nhà bia. Định kì mười năm tổ chức lễ chay một lần, là lễ hội lớn của vùng Nghệ An. Năm 1991, đền thờ được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Vùng Nghệ An có nhiều đền thờ ông, ngoài nơi thờ tự chính ở Tràng Sơn còn có đền Phú Thọ ở xã Lưu Sơn huyện Đô Lương, đền Hữu ở xã Thanh Yên, phủ thờ ở xã Thanh Văn huyện Thanh Chương, đền thờ tại Hồ Nón, huyện Nam Đàn…

Phần mộ của ông hiện nay thuộc Rú Cấm xã Tràng Sơn huyện Đô Lương.

Hậu duệ

Ông có 20 người con (trong đó có 10 trai và 08 gái + 2 con trai nuôi)

  1. Nguyễn Cảnh Hải – Thụy Trung Hầu
  2. Nguyễn Cảnh Kiên – Thư Quận Công
  3. Nguyễn Cảnh Bố
  4. Nguyễn Cảnh Thuận
  5. Nguyễn Cảnh Núi
  6. Nguyễn Cảnh Điền
  7. Nguyễn Cảnh Sơ – Hào Quận Công
  8. Nguyễn Cảnh Đoan
  9. Nguyễn Cảnh Yên
  10. Nguyễn Cảnh Biền
  11. Ngọc Nhật
  12. Ngọc Sử
  13. Ngọc Ủ
  14. Ngọc Tây
  15. Ngọc Bống
  16. Ngọc Mơ
  17. Ngọc Dương
  18. Ngọc Sâm
  19. Nguyễn Cảnh Tráng (con nuôi)
  20. Nguyễn Cảnh Phủ (con nuôi)

Anh em và con cháu ông tiếp tục sự nghiệp trung hưng nhà Lê đều làm tướng, nhiều đời quý thịnh, 18 người được phong quận công, 72 người tước hầu có tiếng là Trung Cần Nhân Nghĩa như Thái bảo Tả Tư không Thư quận công Nguyễn Cảnh Kiên, Thiếu phó Đô Úy Tả Tư mã Thắng quận công Nguyễn Cảnh Hà, Tả đô đốc Phó tướng Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế, …

Chú thích 

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, tr. 487

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Nguyen Canh Hoan (1521–1576)

Background

The ancestors of Nguyen Canh Hoan originally lived in Thien Ly ward, Dong Trieu district, in the region corresponding to present-day Quang Ninh. Toward the end of the Ho dynasty, due to warfare and social upheaval, the family left their old homeland and migrated to Nghe An, settling in Ngoc Son village, Thanh Chuong district. Because of this origin, the lineage is also known as the Nguyen Canh Thien Ly clan, commemorating the place where their ancestors first arose.

According to the genealogy, he belonged to the sixth generation of the lineage and was a descendant of notable figures from the Later Tran period, especially the heroes Nguyen Canh Chan and Nguyen Canh Di.

His father was Phuc Khanh Quan cong Nguyen Canh Huy, a native of Ngoc Son village, Thanh Chuong district, Nghe An province. His mother came from the Thai clan of Hoa Son commune, Do Luong district, Nghe An.

Loyal Official of the Le Dynasty

In June 1527, Mac Dang Dung, after many years controlling power in the Le court, forced Emperor Le Cung Hoang to abdicate and established the Mac dynasty. Refusing to submit, the former Le loyalist An Thanh hau Nguyen Kim fled to Sam Chau, recruited talented men, and enthroned Le Duy Ninh as emperor, known as Le Trang Tong (1533–1548), marking the beginning of the Le Restoration period.

At that time Thanh – Nghe was in chaos, with bandits rising everywhere. Nguyen Canh Huy and his son Nguyen Canh Hoan established fortified camps, recruited troops at Chieu Qua hamlet (Thanh Chuong), suppressed bandit groups, and gradually restored order in the area. In 1536 they brought their troops to join Le Trang Tong in Sam Chau and were highly valued. Nguyen Canh Huy was granted the title Binh Duong hau, while Nguyen Canh Hoan was granted the title Duong Duong hau, both serving under the command of Nguyen Kim.

After Nguyen Kim was poisoned by the Mac general Duong Chap Nhat in 1545, power fell into the hands of Trinh Kiem. Nguyen Canh Hoan continued to serve and became an important general. In 1547, when the Mac general Nguyen Kinh launched an attack, Nguyen Canh Hoan ambushed and defeated the Mac forces during their retreat and was granted the title De doc and Tan Quan cong. Thanks to many victories against the Mac forces, in 1553 he was granted the title Thai Bao and was assigned to administer and collect taxes in Nam Duong and Chan Phuc districts (Nghe An).

In 1555, when Mac forces attacked Thanh Hoa, Nguyen Canh Hoan achieved great merit by capturing an enemy general alive. After the death of Trinh Kiem in 1570, internal conflict broke out within the Trinh family, but Nguyen Canh Hoan continued to support Trinh Tung and, together with other generals, withdrew to Yen Truong to consolidate their forces. Taking advantage of this situation, the Mac army invaded, but the Le forces organized a counterattack, dividing troops into multiple directions to retake lost territories, forcing the Mac army to retreat north.

From 1571 to 1572, Mac forces repeatedly attacked Nghe An. Nguyen Canh Hoan, together with generals such as Lai The Khanh and Phan Cong Tich, repeatedly led troops to reinforce the area and fought Mac generals such as Mac Kinh Dien and Nguyen Quyen, forcing the Mac army to withdraw.

In 1573, when Le Duy Dam ascended the throne, Nguyen Canh Hoan was transferred to the civil administration and held the positions of Hiep muu cong than, Dac tien Kim tu Vinh loc dai phu, Minister of War (Binh bo Thuong thu), Thai pho, and concurrently Acting Commander (Hanh tuong su), demonstrating his great prestige and position in the court.

In 1575, the Mac general Nguyen Quyen led a large army to attack Hoan Chau. Nguyen Canh Hoan and other generals organized defenses, established military camps, and built fortifications from Nam Dan to Do Luong. Fierce battles took place in the Thanh Chuong region. After the Mac army withdrew along the Lam River toward the sea, Nguyen Canh Hoan set up an ambush at Ru Nguoc and defeated them, killing a Mac commander holding the title Ky Quan Cong and forcing Nguyen Quyen to flee with the remnants of his army by sea back to the north. The Le forces achieved a major victory in this battle.

Betrayed from Within

In 1576, the Mac dynasty mobilized its best generals and a large army to attack the Thanh – Nghe region. Khiem Vuong Kinh Dien attacked the Chu River area in Thuy Nguyen district, Mac Ngoc Lien attacked the Ma River region in Yen Dinh, and Nguyen Quyen advanced by sea to attack Nghe An, causing widespread panic among the people.

Trinh Tung sent an order summoning Nguyen Canh Hoan to return and discuss defense strategies. However, one of his subordinate commanders, Lam Quan cong, betrayed him, surrendered to Nguyen Quyen, and revealed confidential information. Nguyen Quyen then led his army back to Ngoc Son, set up camps from Cau Quan to Mao Lap in Thanh Hoa, and placed ambushes along the route.

On the road to Yen Truong, Nguyen Canh Hoan and his guard troops fell into an ambush by Nguyen Quyen at Bong Don and Doc Hieu. The battle lasted more than a day. Because Nguyen Canh Hoan had only a small force, he gradually became overwhelmed by the large Mac army. Seeing this, Nguyen Quyen told his soldiers:

“Trinh Mo has fled in defeat, the enemy army is in disorder without command drums. We will certainly capture him.”

He then urged his troops forward, pursued Nguyen Canh Hoan, captured him, and brought him to Thang Long.

Dai Viet Su ky Toan thu recorded that from that time the reputation of Nguyen Quyen grew increasingly prominent, and he became a famous general of the Mac dynasty. The brave generals and talented men throughout the Giang Dong region all considered themselves inferior to Nguyen Quyen.

Trinh Tung sent people north to try to ransom Nguyen Canh Hoan with gold but failed. The Mac court, knowing Hoan was a talented general, ordered high officials—especially Nguyen Quyen—to persuade him to surrender, but he refused.

In the ninth lunar month of 1576, Nguyen Canh Hoan was executed in Thang Long.

Exchange with Nguyen Quyen

While imprisoned in Thang Long, the Mac court recognized that he was a capable, generous yet resolute general and attempted to persuade him to change sides. Many civil and military officials visited to persuade him, but he refused. Nguyen Quyen came to see him and said:

“I have heard that among the villagers there is a prophecy: ‘Mo is the tree of Mac; if it is not used by Mac, it will only become ashes beneath the grave.’ Perhaps this prophecy is meant to remind Tan Quan cong, yet you remain unwilling to awaken.”

Nguyen Canh Hoan replied:

“In the past when I visited your house, I heard your father say that although you were intelligent you were lazy in study, so he named you Quyen and confined you in the study room, with this admonition: ‘Quyen belongs to the scrolls of books; because he turned his back on the books, he suffered the humiliation of imprisonment.’ Why do you not reflect on that? A man who reads books cannot act against them. The books say: ‘A loyal minister does not serve two masters.’ Why do you act contrary to that?”

Nguyen Quyen replied:

“A great man does not serve two kings; that is loyalty. If I were to return to my former lord, I would be disloyal.”

After saying this, Nguyen Quyen flicked his sleeve and left. After this visit, realizing that Nguyen Canh Hoan could not be persuaded, the Mac court executed him. Having long been his opponent on the battlefield of Hoan Chau and admiring his loyalty and integrity, Nguyen Quyen arranged for his burial and requested the Mac king to allow his body to be returned to Hoan Chau. He commented about him:

“Such loyalty and integrity are rare in the world; in the future he will surely become a great spirit.”

Before his death, Nguyen Canh Hoan wrote two farewell poems:

Among men I was born with resolute spirit,

In this world I uphold loyal integrity.

Heaven and earth illuminate the righteous energy,

Sun and moon shine upon my steadfast heart.

My pure name shall remain immortal,

Though I die, my spirit still lives.

Slaying demons and ghosts,

Binding all evil stars.

Even if true hearts overturn the world,

The spirits themselves will judge with justice.

He also wrote another:

All my life I held military command,

Leading the army and guiding the generals.

Firmly preserving upright integrity,

Leaving this red loyal heart in death.

My body belongs to the Le–Trinh court,

My heart refuses the ghosts of false loyalty.

Following the worthy sages of Yan Tang and Wen Song,

Like fierce sun and autumn frost to instruct later generations.

Worship and Commemoration

The Le court posthumously granted him the title Tan Quoc cong and honored him as Hung Nghi Khuong Te Trach Dan Dai Vuong, ranking him among the middle-ranking deities and ordering annual sacrifices in his honor. Additional land in Ngoc Son, Nong Son, and Ho Son in the Nam Duong region was granted as his fief. Later, many of his descendants became generals with distinguished achievements. Besides Nam Duong and Chan Phuc districts, the family was also granted Thanh Mien and Phu Dung districts as stipends.

A royal decree of the Le court established his principal temple in Chan Ngoc hamlet, Dong Van commune, Thanh Chuong district.

In 1602, a large temple dedicated to him was built in Trang Son commune, Do Luong district, Nghe An. It was restored in 1787, and in 1895 a central sanctuary and a stele house were added. A major vegetarian festival is held once every ten years, becoming an important regional festival of Nghe An. In 1991 the temple was recognized as a National Historical and Cultural Relic.

Many temples dedicated to him exist throughout Nghe An. Besides the main temple in Trang Son, there are also Phu Tho temple in Luu Son commune (Do Luong district), Huu temple in Thanh Yen commune, a worship palace in Thanh Van commune (Thanh Chuong district), and a temple at Ho Non in Nam Dan district.

His tomb is currently located at Ru Cam in Trang Son commune, Do Luong district.

Descendants

He had 20 children (10 sons, 8 daughters, and 2 adopted sons):

  1. Nguyen Canh Hai – Thuy Trung hau
  2. Nguyen Canh Kien – Thu Quan cong
  3. Nguyen Canh Bo
  4. Nguyen Canh Thuan
  5. Nguyen Canh Nui
  6. Nguyen Canh Dien
  7. Nguyen Canh So – Hao Quan cong
  8. Nguyen Canh Doan
  9. Nguyen Canh Yen
  10. Nguyen Canh Bien
  11. Ngoc Nhat
  12. Ngoc Su
  13. Ngoc U
  14. Ngoc Tay
  15. Ngoc Bong
  16. Ngoc Mo
  17. Ngoc Duong
  18. Ngoc Sam
  19. Nguyen Canh Trang (adopted son)
  20. Nguyen Canh Phu (adopted son)

His brothers and descendants continued the cause of the Le Restoration and all served as generals. The lineage prospered for many generations, with 18 individuals granted the title Quan cong and 72 granted the title hau. They were known for loyalty and righteousness, including figures such as Thai bao Ta Tu khong Thu Quan cong Nguyen Canh Kien, Thieu pho Do uy Ta Tu ma Thang Quan cong Nguyen Canh Ha, and Ta do doc Pho tuong Lieu Quan cong Nguyen Canh Que.

References

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Nguyễn Canh Hoan (1521-1576)

Origines familiales

Les ancêtres de Nguyễn Canh Hoan vivaient à l’origine dans le quartier Thien Ly, district Dong Trieu, dans la région correspondant aujourd’hui à Quang Ninh. À la fin de la dynastie Ho, en raison des guerres et des bouleversements sociaux, la famille quitta sa terre natale et migra vers Nghe An, où elle s’établit au village Ngoc Son, district Thanh Chuong. À partir de cette origine, la lignée fut également appelée Nguyen Canh Thien Ly, afin de conserver la mémoire du lieu d’origine de ses ancêtres.

Selon la généalogie familiale, il appartenait à la sixième génération du clan et descendait de personnages éminents de la période des Hau Tran, notamment les héros Nguyen Canh Chan et Nguyen Canh Di.

Son père était Phuc Khanh Quan cong Nguyen Canh Huy, originaire du village Ngoc Son, district Thanh Chuong, province Nghe An. Sa mère appartenait au clan Thai du village Hoa Son, district Do Luong, dans la même province.

Loyaliste de la dynastie Le

En juin 1527, Mac Dang Dung, après avoir longtemps détenu le pouvoir au sein de la cour des Le, contraignit l’empereur Le Cung Hoang à abdiquer et fonda la dynastie Mac. Refusant de se soumettre, l’ancien dignitaire des Le, An Thanh hau Nguyen Kim, se réfugia à Sam Chau, où il rassembla des hommes valeureux et proclama Le Duy Ninh empereur, sous le nom de Le Trang Tong (1533-1548), ouvrant ainsi la période de la Restauration des Le.

Dans un contexte troublé dans les régions Thanh – Nghe, où les bandits sévissaient partout, Nguyen Canh Huy et son fils Nguyen Canh Hoan établirent des camps militaires, recrutèrent des soldats au village Chieu Qua (Thanh Chuong), réprimèrent les bandes de brigands des montagnes et rétablirent progressivement l’ordre local.

En 1536, père et fils conduisirent leurs troupes pour rejoindre Le Trang Tong à Sam Chau et furent rapidement employés à des fonctions importantes. Nguyen Canh Huy reçut le titre de Binh Duong hau, tandis que Nguyen Canh Hoan fut nommé Duong Duong hau, sous le commandement de Nguyen Kim.

Après l’empoisonnement de Nguyen Kim en 1545 par le général transfuge de la dynastie Mac Duong Chap Nhat, le pouvoir passa aux mains de Trinh Kiem. Nguyen Canh Hoan continua de servir fidèlement et devint un général important. En 1547, lorsque le général Mac Nguyen Kinh lança une offensive, il tendit une embuscade à l’armée ennemie lors de sa retraite et remporta une victoire. Il fut alors promu De doc et reçut le titre de Tan Quan cong.

Grâce à de nombreux exploits militaires contre les Mac, il fut nommé en 1553 Thai Bao et chargé d’administrer et de percevoir les taxes dans les districts Nam Duong et Chan Phuc (Nghe An).

En 1555, lorsque les troupes Mac attaquèrent Thanh Hoa, il remporta une victoire importante et captura vivant un général ennemi. Après la mort de Trinh Kiem en 1570, des luttes internes éclatèrent au sein de la famille Trinh, mais Nguyen Canh Hoan continua de soutenir Trinh Tung et se replia avec les troupes vers Yen Truong afin de consolider leurs forces. Profitant de cette situation, les troupes Mac lancèrent une invasion, mais les forces des Le organisèrent une contre-offensive, reprirent les territoires perdus et contraignirent l’armée Mac à se retirer vers le nord.

Entre 1571 et 1572, les troupes Mac lancèrent à plusieurs reprises des offensives contre Nghe An. Nguyen Canh Hoan, avec des généraux tels que Lai The Khanh et Phan Cong Tich, conduisit plusieurs expéditions de secours et affronta les généraux Mac Mac Kinh Dien et Nguyen Quyen, les obligeant finalement à battre en retraite.

En 1573, lorsque Le Duy Dam monta sur le trône, Nguyen Canh Hoan fut transféré dans le corps civil et reçut les charges de Hiep muu cong than, Dac tien Kim tu Vinh loc dai phu, Binh bo Thuong thu, Thai pho, et Hanh tuong su, ce qui témoignait de son prestige et de sa haute position à la cour.

En 1575, le général Mac Nguyen Quyen conduisit une grande armée pour attaquer Hoan Chau. Nguyen Canh Hoan organisa la défense avec plusieurs généraux, établit des camps militaires et fit construire des fortifications depuis Nam Dan jusqu’à Do Luong. Les deux camps livrèrent de violents combats dans la région de Thanh Chuong.

Lorsque les troupes Mac se retirèrent par le fleuve Lam vers la mer, Nguyen Canh Hoan tendit une embuscade à Ru Nguoc, anéantit les troupes ennemies et tua le Ky Quan Cong de la dynastie Mac, contraignant Nguyen Quyen à fuir vers la mer avec les restes de son armée. Cette bataille fut une grande victoire pour les forces des Le.

Trahi de l’intérieur

En 1576, la dynastie Mac mobilisa ses meilleurs généraux et une grande armée pour attaquer les régions Thanh – Nghe. Khiem Vuong Kinh Dien attaqua la région du fleuve Chu dans le district Thuy Nguyen, Mac Ngoc Lien attaqua la région du fleuve Ma dans Yen Dinh, tandis que Nguyen Quyen avança par la voie maritime pour attaquer Nghe An, provoquant une grande panique parmi la population.

Trinh Tung envoya un message pour convoquer Canh Hoan afin de discuter de la stratégie de défense. Cependant, un subordonné de Canh Hoan, le Lam Quan cong, se rebella, se rendit à Nguyen Quyen et lui révéla les informations militaires.

Nguyen Quyen conduisit alors ses troupes vers Ngoc Son et établit des positions fortifiées depuis Cau Quan jusqu’à Mao Lap, tout en disposant des embuscades de part et d’autre des routes.

Sur le chemin vers Yen Truong, Canh Hoan et sa garde personnelle tombèrent dans une embuscade tendue par Nguyen Quyen à Bong Don, Doc Hieu. Le combat dura plus d’une journée. Disposant de peu de troupes face à une grande armée Mac, Canh Hoan fut progressivement submergé.

Voyant cela, Nguyen Quyen déclara à ses soldats :

« Trinh Mo s’est enfui, les ordres de commandement sont désorganisés ; nous capturerons certainement cet homme. »

Il lança alors ses troupes à la poursuite et captura Canh Hoan, qu’il ramena à Thang Long.

Le Dai Viet Su ky Toan thu rapporte :

« Dès lors, la renommée et l’autorité de Nguyen Quyen devinrent de plus en plus éclatantes, et il devint un célèbre général de la dynastie Mac. Les généraux valeureux et les ministres talentueux de toute la région de Giang Dong considéraient qu’aucun ne pouvait l’égaler. »

Trinh Tung envoya des hommes au nord pour tenter de racheter Canh Hoan avec de l’or, mais sans succès. La dynastie Mac, sachant qu’il était un grand général, dépêcha plusieurs hauts dignitaires, notamment Nguyen Quyen, afin de le persuader de se rallier, mais il refusa fermement.

En septembre 1576, Canh Hoan fut exécuté à Thang Long.

Dialogue avec Nguyen Quyen

Emprisonné à Thang Long, la dynastie Mac, reconnaissant ses talents et sa droiture, tenta de le convaincre de changer de camp. Plusieurs hauts dignitaires vinrent lui rendre visite pour le persuader, mais il les repoussa.

Nguyen Quyen vint le voir et lui dit :

« J’ai entendu qu’à la campagne circule une prophétie : “Mo est l’arbre des Mac ; s’il n’est pas utilisé par les Mac, il finira en cendres sous la tombe.”
Ce présage semble également vous avertir, Tan Quan cong, et pourtant vous refusez toujours de vous éveiller. »

Canh Hoan répondit :

« Lorsque je rendais visite à votre maison autrefois, j’ai entendu votre père dire que vous étiez intelligent mais paresseux dans vos études. C’est pourquoi il vous donna le nom Quyen, vous enferma dans la salle d’étude et prononça cette admonestation : “Quyen est l’homme des livres ; mais parce qu’il a tourné le dos aux livres, il subira l’humiliation de la captivité.”

Pourquoi ne méditez-vous pas cela ? Un homme qui lit les livres ne doit pas agir contre leurs enseignements. Les livres disent : “Un ministre loyal ne sert pas deux souverains.”
Pourquoi allez-vous à l’encontre de ces paroles ? »

Nguyen Quyen répondit :

« Un grand homme ne sert pas deux rois : voilà la loyauté. Si moi, Quyen, retournais vers mon ancien maître, je serais infidèle. »

Après ces paroles, Nguyen Quyen secoua ses manches et partit. Comprenant qu’il ne pourrait jamais rallier Canh Hoan, la dynastie Mac le fit exécuter.

Ayant été son adversaire pendant de nombreuses années sur les champs de bataille de Hoan Chau, Nguyen Quyen, admirant sa loyauté et sa droiture, fit préparer ses funérailles et demanda au roi Mac d’autoriser le retour de sa dépouille à Hoan Chau. Il déclara à son sujet :

« Une loyauté et une droiture d’une telle fermeté sont rares dans ce monde ; il deviendra certainement un grand esprit après sa mort. »

Avant de mourir, Nguyen Canh Hoan écrivit deux poèmes d’adieu :

Nhân trung bẩm cương nghị

Thế thượng đốc trung trinh

Thiên địa quang chính khí

Nhật nguyệt chiếu lâm tình

Lăng lăng thanh bất hủ

Lẫm lẫm tử do sinh

Sát phạt chư ma quỷ

Tróc phược chúng tà tin

Túng hữu chân tâm đảo

Lai lâm tự luật linh

et encore :

Thế thụ thao kiềm

Đàn đăng tướng súy

Kiên trì kình tiết thanh

Lưu thử đan tâm tử

Thân thượng tri Le Trinh trieu

Diện khẳng tâm trung nghia quy

Nhan Duong, Van Tong lien tien hien

Liet nhat thu suong thuy hau the

Culte et commémoration

La cour des Le lui décerna à titre posthume le titre de Tan Quoc cong et l’honora du titre divin Hung Nghi Khuong Te Trach Dan Dai Vuong, le classant parmi les divinités de rang moyen, avec des sacrifices et des offrandes annuels.

Des terres supplémentaires situées dans les régions Ngoc Son, Nong Son, Ho Son dans le district Nam Duong lui furent accordées comme domaine héréditaire. Par la suite, plusieurs de ses descendants devinrent des généraux méritants ; en plus des districts Nam Duong et Chan Phuc, ils reçurent encore Thanh Mien et Phu Dung comme revenus féodaux.

Un édit royal de la dynastie Le ordonna l’établissement de son temple principal au village Chan Ngoc, commune Dong Van, district Thanh Chuong.

En 1602, un grand temple fut construit en son honneur dans la commune Trang Son, district Do Luong, province Nghe An. Il fut restauré en 1787, puis un pavillon central et une maison de stèle furent ajoutés en 1895. Tous les dix ans, une grande cérémonie religieuse y est organisée, constituant une fête importante de la région de Nghe An.

En 1991, ce temple fut reconnu comme monument historique et culturel national.

Dans la région de Nghe An, plusieurs temples lui sont dédiés : outre le sanctuaire principal de Trang Son, on trouve le temple Phu Tho dans la commune Luu Son (district Do Luong), le temple Huu dans la commune Thanh Yen, un sanctuaire dans la commune Thanh Van (district Thanh Chuong), ainsi qu’un temple à Ho Non dans le district Nam Dan.

Sa tombe se trouve aujourd’hui à Ru Cam, commune Trang Son, district Do Luong.

Descendance

Il eut vingt enfants (dont dix fils, huit filles et deux fils adoptifs) :

  1. Nguyen Canh Hai – Thuy Trung Hau
  2. Nguyen Canh Kien – Thu Quan Cong
  3. Nguyen Canh Bo
  4. Nguyen Canh Thuan
  5. Nguyen Canh Nui
  6. Nguyen Canh Dien
  7. Nguyen Canh So – Hao Quan Cong
  8. Nguyen Canh Doan
  9. Nguyen Canh Yen
  10. Nguyen Canh Bien
  11. Ngoc Nhat
  12. Ngoc Su
  13. Ngoc U
  14. Ngoc Tay
  15. Ngoc Bong
  16. Ngoc Mo
  17. Ngoc Duong
  18. Ngoc Sam
  19. Nguyen Canh Trang (fils adoptif)
  20. Nguyen Canh Phu (fils adoptif)

Ses frères, ses enfants et ses descendants poursuivirent l’œuvre de la restauration des Le, tous devenant des généraux. La lignée connut une grande prospérité pendant plusieurs générations : dix-huit membres reçurent le titre de quan cong, soixante-douze celui de hau, et ils étaient réputés pour leur loyauté et leur sens de la justice, tels que Thai bao Ta Tu khong Thu Quan cong Nguyen Canh Kien, Thieu pho Do Uy Ta Tu ma Thang Quan cong Nguyen Canh Ha, Ta do doc Pho tuong Lieu Quan cong Nguyen Canh Que, etc.

Bibliographie

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Trung

阮景歡(Nguyen Canh Hoan,1521–1576)

身世

阮景歡(Nguyen Canh Hoan)的祖先原居於天里坊,東潮縣,今屬廣寧一帶。胡朝末年,由於戰亂與社會動盪,其家族離開故土南遷至乂安,定居於清章縣玉山村。由於此一來源,家族亦被稱為阮景天里氏,以紀念祖先最初的發祥之地。

據族譜記載,他為該族第六世後裔,出自後陳時期的名門世家,其祖先中有著名人物,如英雄阮景真(Nguyen Canh Chan)與阮景異(Nguyen Canh Di)。

其父為福慶郡公阮景輝(Nguyen Canh Huy),籍貫乂安省清章縣玉山村。其母出身於乂安都良縣和山社的蔡氏。

黎朝忠臣

1527年六月,莫登庸(Mac Dang Dung)在黎朝朝廷中掌權多年後,迫使黎恭皇(Le Cung Hoang)禪位,自立為帝,建立莫朝。黎朝舊臣安城侯阮金(Nguyen Kim)不肯臣服,逃至三州招募豪傑,擁立黎維寧(Le Duy Ninh)即位,是為黎莊宗(Le Trang Tong,1533–1548),揭開黎朝中興時期的序幕。

當時清化、乂安一帶動亂頻仍,盜匪四起。阮景輝(Nguyen Canh Huy)父子與阮景歡(Nguyen Canh Hoan)於清章招果村建立營寨,招募士卒,平定山賊,逐漸安定地方。1536年,父子率軍投奔三州的黎莊宗(Le Trang Tong),並受到重用。阮景輝被封為平陽侯,阮景歡被封為陽堂侯,隸屬於阮金(Nguyen Kim)麾下。

1545年,阮金(Nguyen Kim)被莫朝降將楊執一(Duong Chap Nhat)毒害身亡,權力落入鄭檢(Trinh Kiem)之手。阮景歡繼續輔佐,成為重要將領。1547年,莫將阮敬(Nguyen Kinh)率軍進攻時,阮景歡設伏於其退路,大敗莫軍,因功被封為提督、晉郡公。

憑藉多次對抗莫軍的戰功,至1553年他被封為太保,並被授權管理與徵收乂安南堂、真福兩縣的稅賦。

1555年莫軍進攻清化時,阮景歡立下大功,生擒敵將。1570年鄭檢(Trinh Kiem)去世後,鄭氏內部發生爭權,但阮景歡仍追隨鄭松(Trinh Tung),與諸將退至安長整頓軍力。莫軍乘機南侵,但黎軍隨即反擊,分兵多路收復失地,迫使莫軍退回北方。

1571年至1572年間,莫軍多次進攻乂安。阮景歡與賴世卿(Lai The Khanh)、潘公績(Phan Cong Tich)等將多次率軍救援,與莫敬典(Mac Kinh Dien)、阮卷(Nguyen Quyen)等莫將交戰,使莫軍被迫撤退。

1573年黎維曇(Le Duy Dam)即位後,阮景歡轉入文班,歷任協謀功臣、特進金紫榮祿大夫、兵部尚書、太傅,兼行將相事,顯示其在朝廷中的崇高地位與威望。

1575年莫將阮卷(Nguyen Quyen)率大軍進攻歡州。阮景歡與諸將構築防禦,自南壇至都良築營壘以守。雙方在清章一帶激戰多次。莫軍沿藍江退往海上時,阮景歡於汝國山設伏,大破莫軍,斬殺莫朝岐郡公,迫使阮卷率殘軍逃海北撤。此戰黎軍大獲全勝。

遭內部叛變

1576年莫朝動員名將與大軍進攻清化、乂安。謙王莫敬典(Mac Kinh Dien)攻壽源縣朱江一帶,莫玉璉(Mac Ngoc Lien)攻安定縣馬江流域,阮卷(Nguyen Quyen)由海道進攻乂安,百姓震動。

鄭松(Trinh Tung)派人送敕召阮景歡回營商議防禦。然而其部將林郡公叛變,投降阮卷並洩露軍情。阮卷遂率軍進至玉山,並在清化從館橋至茂臘設營,又命兵於兩側設伏。

阮景歡在前往安長途中,與宿衛軍於邦屯、獨效一帶遭阮卷伏擊。戰鬥持續一日多,由於兵少難敵莫朝大軍,漸處劣勢。阮卷見狀對士兵說:

「鄭謨已敗走,軍令不整,我必能擒此人。」

遂督軍追擊,終於擒獲阮景歡並押解至昇龍。

《大越史記全書》記載:自此以後,阮卷聲威日盛,成為莫朝名將。江東一帶的勇將良臣皆認為無人能與阮卷相比。

鄭松(Trinh Tung)曾派人北上以金贖回阮景歡,但未成功。莫朝知其為名將,遂派諸大臣尤其是阮卷前往勸降,但他堅決拒絕。

1576年九月,阮景歡於昇龍被處死。

與阮卷的對答

阮景歡被囚於昇龍時,莫朝見其為將才卓越,為人寬厚而剛毅,欲招降之,屢派文武大臣勸說,但皆遭拒。阮卷前來勸降說:

「我聽鄉間有句讖語說:『謨者,莫之木也;若不為莫所用,終將成為墓下之灰。』(Mo gia, Moc Mac da; bat bi Mac dung, tat thanh huu mo chi mo)這讖語其實正是在提醒晉郡公,然而晉郡公卻始終不肯醒悟。」

阮景歡答道:

「我昔日往你家作客時,見你父親說你雖聰慧卻懶於學習,因此給你取名為卷,將你關在書房中,並說:『卷者,卷中之人也;既違於卷,果受囚辱。』(Quyen gia, quyen nhan da; huu vi u quyen, qua thu khuyen tu chi nhuc)你何不反思此語?讀書人不可違背書中之道。書中說:『忠臣不事二主。』你又怎能違背此言?」

阮卷答道:

「大丈夫不事二君,是為忠。若我回到舊主之處,便是不忠。」

說罷拂袖而去。

此後莫朝知無法收降阮景歡,遂將其處死。阮卷雖與他多年為敵,仍敬其剛烈忠義,為其殮葬並請求莫帝允許將遺體送回歡州,並說:

「忠義剛烈,世所罕見,日後必為大靈之神。」

絕命詩

臨刑前,阮景歡作兩首絕命詩:

其一:

人生稟剛毅

世上篤忠貞

天地光正氣

日月照臨情

凜凜名不朽

肅肅死猶生

誅伐諸魔鬼

縛捕眾邪精

縱有真心禱

來臨自律靈

其二:

世受韜鉗

壇登將帥

堅持勁節清

留此丹心死

身上知黎鄭朝

面肯心中義鬼

顏唐文宋連前賢

烈日秋霜垂後世

祭祀

黎朝追封其為晉國公,並加封為雄毅匡濟澤民大王,列為中等神,每年享受國家祭祀與香火。朝廷又賜予南堂地區玉山、農山、湖山等地為太邑。其後子孫多為將領建功立業,除南堂、真福兩縣外,又加封清沔與扶容兩縣為俸祿。

黎朝敕令在清章縣同文社真玉村建立其正祠。

1602年在乂安都良縣長山社建立規模宏大的祠廟。1787年重修,1895年增建中殿與碑亭。每十年舉行一次大齋祭,為乂安地區重要盛會。1991年,該祠被認定為國家歷史文化遺跡。

乂安多地建有其祠廟,除長山主祠外,尚有都良縣留山社富壽祠、清章縣清安社右祠、清文章縣府祠、南壇縣胡嫩祠等。

其墓今在都良縣長山社汝禁山。

後裔

阮景歡共有二十子女(其中十子、八女及二養子):

  1. 阮景海(Nguyen Canh Hai)—瑞忠侯
  2. 阮景堅(Nguyen Canh Kien)—書郡公
  3. 阮景布(Nguyen Canh Bo)
  4. 阮景順(Nguyen Canh Thuan)
  5. 阮景嶺(Nguyen Canh Nui)
  6. 阮景田(Nguyen Canh Dien)
  7. 阮景初(Nguyen Canh So)—豪郡公
  8. 阮景端(Nguyen Canh Doan)
  9. 阮景安(Nguyen Canh Yen)
  10. 阮景鞭(Nguyen Canh Bien)
  11. 玉日(Ngoc Nhat)
  12. 玉史(Ngoc Su)
  13. 玉宇(Ngoc U)
  14. 玉西(Ngoc Tay)
  15. 玉奉(Ngoc Bong)
  16. 玉夢(Ngoc Mo)
  17. 玉陽(Ngoc Duong)
  18. 玉森(Ngoc Sam)
  19. 阮景壯(Nguyen Canh Trang,養子)
  20. 阮景府(Nguyen Canh Phu,養子)

其兄弟子孫繼續參與黎朝中興事業,多為將領,世代顯貴。其中十八人封郡公,七十二人封侯,皆以忠勤仁義著稱,如太保左司空書郡公阮景堅(Nguyen Canh Kien)、少傅都尉左司馬勝郡公阮景河(Nguyen Canh Ha)、左都督副將僚郡公阮景桂(Nguyen Canh Que)等。

參考資料

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (14)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)