Thân thế
Theo Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn thì tiên tổ của Nguyễn Cư Trinh ở huyện Thiên Lộc (Nghệ An), vốn họ Trịnh. Ông tổ là Trịnh Cam, làm đến chức Binh Bộ thượng thư nhà Lê. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê – ông Cam tránh vào Thuận Hóa, muốn chiêu tập những người trung nghĩa, khôi phục lại nhà Lê, nhưng việc chưa thành thì mất. Về sau, con cháu nhập tịch ở xã An Hòa (huyện Hương Trà) chiếm khoa mục rất nhiều. Ngạn ngữ thời đó có câu: “Học Đồng Di, thi An Hòa” là vậy. Bấy giờ, Nguyễn Kim xướng nghĩa, phò Lê diệt Mạc, dựng nên nhà Lê trung hưng, nhưng sau khi Nguyễn Kim mất thì quyền hành lọt vào tay con rể là Trịnh Kiểm. Kiểm sợ con trai Nguyễn Kim tranh giành quyền lực nên ra tay giết Nguyễn Uông. Em trai của Uông là Nguyễn Hoàng sợ quá, nhờ chị nói với anh rể cho mình vào trấn đất phương Nam. Nghĩ đó không phải là đất lành, lam chướng còn nặng nề nên Kiểm đồng ý. Từ năm 1558, Nguyễn Hoàng lúc này 34 tuổi lên đường vào Nam. Một mặt ra sức thu phục nhân tâm, một mặt Nguyễn Hoàng xây dựng giang san mới vững mạnh để sau này trả thù họ Trịnh. Từ năm 1627 đến năm 1672, Trịnh – Nguyễn bảy lần đánh nhau nhưng bất phân thắng bại. Cuối cùng phải tạm thời lấy sông Gianh phân biệt giới hạn Bắc – Nam. Dù làm chúa ở phương Nam, nhưng chúa Nguyễn vẫn giữ chức do vua Lê phong, mãi đến năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Chu mới sai người sang triều cống nhà Thanh để xin phong làm vua. Nhưng nhà Thanh không đồng ý vì còn có vua Lê. Nguyễn Phúc Chu lẳng lặng xưng Quốc chúa, đúc ấn Đại Việt quốc Nguyễn vĩnh trấn chi bảo. Đến năm 1744, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát mới xưng vương hiệu, định ra nghi thức triều đình… Dù không xưng vua, không đặt quốc hiệu nhưng người nước ngoài khi đến giao thiệp, làm ăn ở vùng đất của chúa Nguyễn đều gọi là Quảng Nam Quốc.
Trở lại với dòng họ Trịnh Cam thì bảy đời sau – dưới đời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu – cháu của Trịnh Cam là Đăng Đệ thi đậu sinh đồ, sau được bổ làm huấn đạo, rồi thăng tri huyện Minh Linh, nhờ có thành tích nên được cất nhắc vào việc Văn chức. Đệ học rộng, tính tình điềm đạm khi luận bàn việc chính sự thì có nhiều ý kiến xác đáng, rõ ràng, minh bạch nên chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) yêu mến, cho đổi sang họ Nguyễn. Con trai của Nguyễn Đăng Đệ là Nguyễn Đăng Cẩn và Nguyễn Cư Trinh đều là những người tài ba, lừng lẫy một thời.
Thân thế và cuộc đời
Nguyễn Cư Trinh, hiệu Đạm Am, sinh vào giờ Dần ngày 12/1 năm Bính Thân(1716) tại làng An Hòa. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã thông minh, học giỏi hơn người. Năm lên mười đã rành rẽ khuôn phép của thi ca, thường xướng họa thơ với ông anh họ là Nguyễn Đăng Thuận. Năm 1733, vừa tròn 18 xuân, ông thi đậu sinh đồ, bổ làm huấn đạo. Bảy năm sau ông thi đậu hương tiến rồi được chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765) bổ làm tri phủ Triệu Phong. Cũng giống như cha, về sau, Nguyễn Cư Trinh cũng được chuyển sang Văn chức. Ông hoạt bát, giỏi biện luận, mưu lược và cũng là người có khí khái, không luồn cúi ai, hễ thấy việc sai thì can ngăn. Ai ai cũng nể phục. Từ năm 1744, các từ lệnh đều do ông soạn thảo. Mùa xuân năm 1750, ông được thăng chức tuần phủ Quảng Ngãi.
Tại đây, đang nổ ra cuộc khởi nghĩa âm ỉ, dai dẳng của dân tộc ít người ở phía tây Quảng Ngãi – mà sử nhà Nguyễn gọi là “Thạch Bích man” hay “mọi Vách Đá”. Theo Vũ man tạp lục thì “núi này mọc nhọn lên năm ngọn, tục gọi là núi Răng Cưa, tựa như năm ngón tay nên cũng có tên là núi Ngũ Chỉ. Trên núi có nhiều cây chuối, quýt mọc tốt tươi”. Họ khởi nghĩa vì chính sách cai trị tắc trách của triều Nguyễn cũng như vì sự hà khắc, tham ô, nhũng nhiễu của bọn quan lại địa phương. Khi đến nơi, nhiệm vụ chính của Nguyễn Cư Trinh là phải bình định, an dân nơi này. Do địa thế hiểm trở, nước độc rừng sâu, đường đi cheo leo, gập ghềnh nên ai cũng ngại. Trong tác phẩm Sãi Vãi, Nguyễn Cư Trinh có miêu tả:
Tây phương không đường tới
Bắc lộ nẻo khó qua
Đường Nam phương thấy đó chẳng xa, thì những sợ nhiều quân Vách Đá
Tưởng thôi lạc phách, nhớ tới hồn kinh.
Lâu nay, khi quân nhà Nguyễn tiến đánh thì họ kéo quân ra nơi hiểm yếu để chống cự lại. Nếu không chống cự nổi thì họ lặng lẽ rút chạy không để lại vết tích. Khi quân nhà Nguyễn tiến vào thì từ trong núi sâu họ bất ngờ đánh tập hậu hoặc chận giữ nơi hiểm yếu bắn tên, phóng lao tới tấp! Cuộc chiến này cứ kéo dài mãi:
Nọ giết người như dế như trùn, nọ hại người như rắn như rít
Đến đâu là tảo tận, bắt đặng giết chết tươi
Đã vào làng cướp của hại người, lại xuống nội bắt trâu bắt ngựa.
Với Nguyễn Cư Trinh – vốn là nhà chính trị tài ba – nên ông không nôn nóng dùng võ lực để trấn áp. Trước hết, ông đi nắm tình hình thực tế trận địa và tìm hiểu nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa này, rồi viết thư phủ dụ họ ra hàng. Công việc này không có kết quả, bắt buộc ông phải tiến quân đánh, nhưng sĩ tốt lấy cớ đường sá xa xôi hiểm nghèo, khí hậu lam chướng để ngăn cản dự định của ông. Do đó, ông suy ngẫm viết tác phẩm Sãi Vãi để khuyến khích sĩ tốt tiến quân. “Đồng thời đề cao Nho giáo, châm biếm “tà đạo”, răn giới tầng lớp nho sĩ về đạo lý tu, tề, trị, bình trong hoàn cảnh chế độ phong kiến ở Đàng trong đã suy vi, mục nát. Đoạn nói về thất tình với thái độ thương ghét phân minh đối với chính – tà, đã ít nhiều vượt ra ngoài phạm vi đạo đức Nho gia, và có ảnh hưởng đến lòng thương, ghét của ông Quán trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu sau này”. Với tài cầm quân của ông, những người dân tộc thiểu số phải rút lui vào tận rừng sâu. Tuy nhiên, ông sợ khi rút quân thì họ lại tiếp tục dấy binh nên chiếm đóng sào huyệt, mở doanh trại, lập đồn điền, giả vờ làm kế ở lâu dài. Vì vậy, người Man hoảng sợ, kéo quân đến xin hàng. Nguyễn Cư Trinh an ủi, vỗ về rồi sau đó hạ lệnh lui quân.
Chính sách của Nguyễn Cư Trinh hoàn toàn phù hợp với thời thế bấy giờ, có giữ yên phương Nam thì mới đủ sức chống lại sức tấn công của chúa Trịnh ở Đàng ngoài. Hơn thế nữa, chúa Nguyễn phải nhanh chóng cải tổ đường lối cai trị thì mới thu phục được nhân tâm. Suy nghĩ chín chắn như thế nên năm 1751, ông viết bản điều trần dâng lên chúa Nguyễn. Trong đó, ông trình bày quan điểm rất tiến bộ: “Dân là gốc nước, gốc không bền thì nước chẳng yên. Ngày bình thường không lấy ân nghĩa cấu kết lòng dân, thì khi hữu sự biết trông cậy vào đâu?
Tôi thầm nghĩ: Thói tệ hại chất chứa trong dân gian đã quá lâu ngày, nếu cứ giữ mãi như thế không kịp thay đổi thì ngay một ấp cũng đã khó thay huống gì một nước? Ngày nay có ba mối tệ hại là: nuôi lính, nuôi voi và nộp tiền án. Ngoài ra, còn nhiều điều tệ hại, nhủng nhiễu khác kể không xiết. Nay xin trình bày bốn điều tệ hại nữa như sau:
- Phủ huyện là chức quan lo trông coi nhân dân, thế mà gần đây các quan chẳng chịu làm việc, chỉ biết khám xét hỏi tra việc kiện tụng mà thôi. Đề nghị từ nay các thứ thuế về ruộng đất và sai dư, nhất thiết phải giao cho tri huyện thu biên rồi giao nộp cho quan tỉnh Quảng Nam để giảm bớt phiền nhiễu.
- Các quan phủ huyện xưa nay thường kiếm lợi ở những việc tra xét phạm nhân làm bổng lộc, thế nên của dân ngày càng hao, phong tục trong dân ngày càng bạc. Nay xin định cấp lương thường kỳ và căn cứ vào việc các quan thanh liêm hay tham nhũng, siêng năng hay biếng nhác để thăng thưởng hay phế truất.
- Dân lậu có hai hạng: có hạng trốn thuế rồi lêu lỏng, có hạng cùng cực rồi xiêu tán. Nếu nay không phân chia thứ hạng, hết thảy đều căn cứ vào sổ mà thu thuế, ắt họ hoảng sợ trốn chạy, lẩn lút nơi đồng sâu cỏ rậm, dân xã lại phải bồi thường chỗ thiếu sót đó thì làm sao chịu cho nổi? Đề nghị xét kỹ số dân lậu: kẻ nào có nghề làm ăn thì thu thuế như thường lệ, kẻ nào đói rách túng quẫn thì miễn thuế, tìm cách vỗ về nuôi dạy để cứu sống dân đen.
- Nên để cho dân an cư lạc nghiệp, không nên làm xáo động. Động thì dễ loạn, yên thì mới dễ trị. Nay các quan cứ sai người vào núi săn bắn, lùng gà bắt ngựa, chẳng theo đức ý bề trên, nhũng nhiễu dân lành, chúng là bọn người mượn uy quyền, đi đến đâu náo động đến đó khiến người người kêu ca oán trách. Đề nghị từ nay, hễ phân công ai làm việc gì thì phải có công văn đóng dấu trình quan địa phương kiểm tra. Kẻ nào nhũng nhiễu dân thì phải kịp thời trừng trị, được thế thì lòng dân mới yên”.
Tờ sớ nầy biểu hiện tính ngay thẳng, cương nghị của một ông quan vận dụng biện pháp khoan dân, vì dân, nhưng rất tiếc là khi dâng lên, chúa Nguyễn Phúc Khoát không nghe theo. Và dĩ nhiên việc cải cách không thực hiện được. Do đó, với chính sách cai trị hà khắc của các quan lại địa phương, sau này người Man còn liên tục nổi dậy chống phá, vua tôi nhà Nguyễn phải tốn biết bao công sức, xương máu mới bình định được. Vì sự lơ là của chúa Nguyễn đối với tờ sớ tâm huyết của mình, Nguyễn Cư Trinh chán nản xin từ chức. Trước tình thế này, chúa Nguyễn triệu ông về kinh và giao làm ký lục dinh Bố chính. Nhận nhiệm sở mới, ông bắt tay vào việc xây dựng đồn binh nghiêm ngặt. Bấy giờ, Lê Duy Mật khởi binh đánh chúa Trịnh rồi xây thành đắp lũy ở Trấn Ninh (Quảng Bình) để tính kế lâu dài. Trịnh Doanh viết thư cho chúa Nguyễn, xin mượn đường đi đánh Lê Duy Mật. Nhưng Nguyễn Cư Trinh cương quyết không đồng ý, vì biết đâu đây chỉ là cái cớ để để họ Trịnh xâm nhập vào nội địa phương Nam.
Những năm tháng này chiến tranh, loạn lạc xẩy ra liên miên. Tình hình biên giới ở Xiêm, Chân Lạp cũng có nhiều biến động. Mới nhận nhiệm sở mới được chín tháng, Nguyễn Cư Trinh lại bị triệu về để giao nhiệm vụ cai quản vùng đất mới – tương đương từ Phú Khánh đến Vĩnh Long ngày nay. Tháng 11/1753 ở Chân Lạp, Nặc Nguyên sau khi đem quân Xiêm về đánh bại Nặc Ông Tha để chiếm ngôi, rồi uy hiếp dân Côn Man – người Chăm ở Chân Lạp, đồng thời chuẩn bị cất quân đánh chúa Nguyễn. Được tin này, chúa Nguyễn Phúc Khoát cử đội cai Thiện Chính làm thống suất, Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu đi đánh Nặc Nguyên. Cuộc ra quân này đã giải phóng cho hàng vạn dân Côn Man. Mùa xuân năm sau, trong khi Thiện Chính đang trên theo đường rút về Mỹ Tho, người Côn Man lại bị Nặc Nguyên chận đánh. Nguyễn Cư Trinh tức tốc đem quân đến cứu và đưa họ về núi Bà Đen (Tây Ninh). Sau việc này, ông viết thư về phủ chúa Nguyễn cho rằng Thiện Chính tắc trách bỏ dân mới quy phục. Do đó, Thiện Chính bị giáng chức và cho Trương Phúc Du lên thay. Nguyễn Cư Trinh cùng Trương Phúc Du dùng người Côn Man làm hướng đạo, đánh sang tận Nam Vang. Nặc Nguyên chạy sang Hà Tiên cầu cứu Mạc Thiên Tích điều đình với chúa Nguyễn: xin dâng đất hai phủ Tâm Bôn (tức Tân An) và Soi Rạp (tức Gò Công) bù vào việc bỏ triều cống trong ba năm trước để cầu hòa. Chúa Nguyễn không chịu. Nguyễn Cư Trinh đã kịp thời viết sớ phân tích lợi hại:
“Từ xưa việc dụng binh chẳng qua để diệt bọn đầu đảng, mở mang đất đai. Nay Nặc Nguyên biết hối lỗi, nộp đất xưng thần, nếu cứ đánh đuổi đến đường cùng tất chúng phải ẩn náu chống cự. Như nếu muốn mở mang bờ cõi thì phải giữ lấy hai phủ mà chúng dâng nộp – để củng cố mặt sau của hai dinh Phiên Trấn – Tân Biên. Nếu bỏ gần mà cầu xa, e rằng tình thế cách trở, binh dân chẳng liền nhau, lấy được tuy dễ nhưng giữ được thật khó. Xưa kia mở đất Gia Định thì phải mở đất Hưng Phúc (Biên Hòa) trước tiên, đến đất Lộc Dã (Đồng Nai) để cho quân đông đúc rồi mới lấy đất Sài Côn (Sài Gòn). Đó là kế tằm ăn dâu. Nay đất cũ từ Hưng Phúc đến Sài Côn chỉ hai ngày đường, dân cư còn chưa yên ổn, lính giữ cũng chưa đủ thay, huống chi từ Sài Côn đến Tân Bôn những sáu ngày đường, địa thế rộng rãi. Dân số đến vạn người, quân chính quy phòng giữ cũng còn chưa đủ. Thần xem người Côn Man giỏi đánh bộ, người Chân Lạp còn e sợ. Nếu như cho họ đất ấy rồi khiến họ chống giữ lấy, ấy là lấy người Man chống người Man, kế ấy là đắc sách. Vậy xin cho Chân Lạp được chuộc tội, giữ lấy đất hai phủ ấy rồi giao cho tôi xem xét hình thế, đắp lũy đóng quân, vạch rõ địa giới, cho thuộc vào châu Định Viễn để thu lấy toàn cõi” (Đại Nam Thực lục tiền biên).
Lần này, Nguyễn Phúc Khoát sáng suốt nghe theo lời tâu của ông. Nhờ vậy, đất phương Nam được mở rộng thêm mà không đổ xương máu. Suốt mười năm ở vùng đất mới, ông đã làm hết sức mình để bảo vệ cuộc sống nhân dân. Nơi này có nhiều ngã sông, bọn trộm cướp thường lợi dụng tụ tập chỗ vắng, rình thuyền buồm qua lại để cướp bóc. Ông hạ lệnh, từ đây bất cứ thuyền lớn nhỏ đều phải khắc tên họ, quê quán chủ thuyền và quan sở tại làm sổ thuyền để tiện tra xét. Nhờ vậy, bọn trộm cướp không còn lộng hành nữa. Bên cạnh đó, ông còn đặt ra luật lệ giao thông đường thủy để tránh gây ra tai nạn, cho đắp đường vét kênh rạch v.v… Việc làm này khiến di dân rất mến phục. Đây cũng là thời gian mà ông cùng với Tổng binh Hà Tiên là Mạc Thiên Tích xướng họa thơ văn – để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Nói như nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục thì “văn mạch một phương, dằng dặt không dứt, thực đáng khen lắm”.
Năm 1765, Nguyễn Phúc Thuần lên nối ngôi triệu ông về kinh, thăng Lại bộ kiêm Tào vận sứ. Lúc nầy, quyền thần Trương Phúc Loan cậy mình có công lập chúa nên chuyên quyền hống hách – mà người đời căm ghét gọi là “Trương Tần Cối”! Ai ai cũng khiếp sợ uy quyền của Loan và y thường triệu các quan đến nhà riêng để bàn chuyện quốc gia đại sự. Chỉ có Nguyễn Cư Trinh thẳng thắn, nghiêm mặt mắng: “Bàn chuyện gì tất phải ở chốn công triều, đó là định lệ. Nay sao Phúc Loan dám vô lễ như thế, muốn cướp quyền ư? Làm loạn thiên hạ về sau ắt là người này!”. Sự tiên đoán của Nguyễn Cư Trinh hoàn toàn chính xác. Chính Trương Phúc Loan là kẻ gian thần đã tạo ra một trong những nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa long trời lở đất của anh em nhà Tây Sơn. Rất tiếc, Nguyễn Phúc Thuần bấy giờ mới 12 tuổi nên không thể xoay chuyển được tình thế trước lời cảnh báo này. Chính vì sự chuyên quyền này mà dân Đàng Trong phải gánh chịu biết bao tai ương tàn khốc, thuế má nặng nề, người chết đói đầy đường… Và sau này khi nhà Tây Sơn xướng nghĩa thì lập tức nhân dân đồng tình ủng hộ và đây cũng là cơ hội mà chúa Trịnh xua quân vào đánh quân chúa Nguyễn! Tiếc rằng, trong lúc tình thế rối ren, mọi quyền hành đều tập trung vào tay Trương Phúc Loan thì Nguyễn Cư Trinh mất. Ông qua đời vào giờ Tý ngày 27/5 năm Đinh Hợi (1767).
Di sản
Không những là người giỏi về chính trị, quân sự Nguyễn Cư Trinh còn là một tác gia văn học lừng danh của thế kỷ XVIII. Qua tác phẩm như Sãi Vãi, Quảng Ngãi thập nhị cảnh, Hà Tiên thập vịnh và một số thơ chữ Hán của Nguyễn Cư Trinh còn để lại, ta thấy: “Trước hết là những cứ liệu giúp ta hiểu một cách đầy đủ về cuộc đời hoạt động cũng như những đóng góp của ông cho đất nước. Thứ đến là cơ sở để ta có nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và hoài bão của một nho sĩ sống giữa buổi hoàng hôn của chế độ phong kiến, nhưng vẫn tinvào chính mình, tin vào sức mạnh của dân tộc”. “Nguyễn Cư Trinh là người cuối cùng trong tầng lớp nho sĩ ở Đàng Trong còn hy vọng tìm thấy trong công việc xây dựng chế độ phong kiến ở địa vực chúa Nguyễn, lý tưởng cố hữu của trí thức yêu nước. Toàn bộ sự nghiệp văn học của ông gắn với tâm sự và chí khí kinh bang tế thế, gắn với cuộc đời hoạt động của ông. Những tác phẩm viết trong hàng chục năm giữ trọng trách ở miền cực Nam, thể hiện tinh thần hăng hái tiến lên phía trước, độ lượng rộng rãi của người lãnh đạo và yêu cầu nghiêm khắc đối với bản thân để đạt đến sự nghiệp lớn” và “là một danh nhân nổi tiếng của vùng đất Bình Trị Thiên, là người kế thừa một cách xứng đáng hào khí của những trí thức yêu nước thời Trần, thời Lý, đồng thời có những đóng góp to lớn cho quá trình phát triển lịch sử văn hóa của dân tộc, đáng kể nhất là công sức của ông trong việc xây dựng và bảo vệ bờ cõi phía cực Nam của Tổ quốc và những trước tác bất hủ của ông”. Thiết nghĩ, những quan niệm của Nguyễn Cư Trinh trong Sãi vãi như: “Có tu đức thì thiên hạ mới trị yên, có tu nhân thì cơ đồ mới củng cố” và:
Thờ vua hết ngay, thờ cha hết thảo.
Một lời nói phải nhân, phải đạo ấy là tu ngôn; một việc làm chẳng hại, chẳng tham ấy là tu hạnh!
Lấy nhân mà tu tánh, lấy đức mà tu thân.
Tu minh đức để mà tân dân, tu tề gia để mà trị quốc.
Ấy là trang hiền đức, tu cho phải đạo tu.
Ngoài thì khoan dũ ôn nhu, trong thì tu hòa bình trung chính.
Tu cung, tu tính; tu tín, tu hành.
Đã phải đạo tu hành, lại thêm nền phước chỉ.
Hoặc những câu trong bản sớ của ông dâng chúa Nguyễn như: “Dân là gốc nước…” thì đến nay vẫn còn khiến chúng ta suy nghĩ, chưa hẳn đã lỗi thời. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà Đại Nam liệt truyện của sử nhà Nguyễn ghi nhận ông như bậc khai quốc công thần và “là người có tài thao lược, khéo quyết đoán. Những việc ông tâu bày, phần nhiều là lời trung, bàn phải. Khi coi việc quân ở cõi Nam, giữ yên biên thùy, công huân danh vọng rõ ràng”. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng An Hòa, vẫn được nhiều người đến viếng thăm, nhang khói. Mộ của ông được táng tại núi An Nông (huyện Phú Lộc – Thừa Thiên Huế).
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ.