Thông tin chung
Nắng reo vui trên vòm cây xanh râm mát. Trong khuôn viên của Thư viện Quốc gia dường như cách biệt với thế giới ồn ào ở bên ngoài, các cậu học trò đang ngồi trên thảm cỏ hoặc dựa lưng vào ghế đá để ôn bài vở. Không gian yên ả lạ thường. Đâu đó có tiếng chim reo giữa trời quang đãng. Khó có thể hình dung nơi này đầu thế kỷ XX là nơi từng giam cầm những người yêu nước. Từ năm 1886, bọn lính viễn chinh Pháp đã dựng lên Khám lớn Sài Gòn, chúng xây ròng rã bốn năm mới hoàn thành. Biết bao máu và nước mắt của người cách mạng đã đổ xuống mảnh đất này. Thế nhưng, tù ngục không giam cầm được ý chí bất khuất của những người con dũng cảm hy sinh cả tuổi thanh xuân vì Tổ quốc. Khát vọng của tự do vẫn vượt khỏi song sắt. Nơi ấy, trước lúc bước ra pháp trường, có một người nữ cộng sản đã hiên ngang nhắn nhủ các đồng chí:
Vững chí bền gan, ai hỡi ai,
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài.
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Con đường cách mạng vẫn chông gai.
Thân thế
Người nữ cộng sản ấy là chị Nguyễn Thị Minh Khai, tên thật là Nguyễn Thị Vịnh sinh ngày 1/11/1910 tại Vinh (Nghệ An). Ông cụ thân sinh của chị quê ở xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm (Hà Nội) làm việc ở ga xe lửa Vinh từ năm 1907, còn bà cụ quê ở xã Đức Tùng, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) buôn bán tần tảo. Thuở nhỏ, sau khi học hết lớp nhì, chị được chuyển sang học lớp nhất tại trường Cao Xuân Dục. Không những học giỏi mà trong các môn thể thao chị còn tỏ ra lanh lợi không thua kém gì các bạn trai. Bấy giờ, Trần Phú đang là giáo viên của trường tiểu học này, nhờ tiếp thu tư tưởng tiến bộ nên từ năm 1925, ông cùng một số giáo viên, trí thức yêu nước ở Vinh lập ra Hội Hưng Nam, sau đổi tên thành Việt Nam Cách mệnh Đảng. Chị Minh Khai cũng được giác ngộ gia nhập vào Đảng. Tinh thần yêu nước của thanh niên trong những tháng năm này như nước vỡ bờ, họ tích cực tham gia bãi khóa đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh.
Hoạt động cách mạng
Đầu năm 1929, được sự đồng ý của tổ chức, chị Minh Khai bí mật rời khỏi gia đình để đi hoạt động cách mạng. Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, chị được kết nạp vào Đảng và được phân công phụ trách công tác tuyên truyền, huấn luyện đảng viên ở khu vực Trường Thi, Bến Thủy. Rồi mùa hè năm 1930, chị được lệnh ra hoạt động ở Hải Phòng. Sau đó, chị được Đảng cử sang Hương Cảng (Trung Quốc), công tác ở văn phòng của Chi nhánh Bộ Đông phương của Quốc tế cộng sản. Thời gian này chị có bí danh là Cô Duy (phát âm theo tiếng Quảng Đông là Ả Vầy), Trần Thái Lan, Lý Huệ Phương và được lãnh tụ Lý Thụy (tức Nguyễn Ái Quốc) trực tiếp giáo dục về lý luận, chính trị, kinh nghiệm hoạt động cách mạng nhờ vậy chị tiến bộ rất nhanh. Sau đó, chị nhận nhiệm vụ liên lạc giữa thị ủy Hương Cảng – thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc – với các tổ chức cách mạng Việt Nam. Để có thể hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này, chị ra sức học thêm tiếng Anh, Pháp và Trung Quốc.
Năm 1931, chị bị bọn mật thám Anh ở Hương Cảng bắt giam rồi chuyển giao cho chính quyền Quảng Châu. Dù bị tra tấn tàn nhẫn, nhưng trước sau như một, chị chỉ trả lời hai chữ “không biết”! Không thể kết án được nhưng chúng vẫn giam chị suốt mấy năm liền ở nhà tù Quảng Châu, mãi đến năm 1933, nhờ sự vận động của Hội Quốc tế Cứu tế đỏ chị mới được thả tự do. Ra khỏi tù chị được cử đến Thượng Hải, công tác ở Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài. Đây cũng chính là tháng năm mà chị và anh Lê Hồng Phong yêu nhau. Trong buổi lễ thành hôn, cả hai người đều hứa sẽ yêu nhau đến răng long tóc bạc và nguyện suốt đời hy sinh cho lý tưởng cao đẹp. Cuối năm 1934, chị cùng chồng và Hoàng Văn Nọn được cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội lần thứ bảy của Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva, chị lấy bí danh là Phan Lan. Khi đến nơi, trong khi chờ Đại hội khai mạc, chị được vào học tại trường Đại học Phương Đông. Đến ngày 16/8/1935, lần đầu tiên trên diễn đàn quốc tế, có một người phụ nữ Việt Nam mới 24 xuân dõng dạc đọc tham luận về vấn đề phụ nữ Đông Dương. Có thể ghi nhận đây là một sự kiện làm nổi bật về tính cách và vai trò của chị Minh Khai. Chị phát biểu về sự thay đổi của người phụ nữ, không còn ru rú trong buồng the mà đã biết dấn thân ra xã hội để đòi quyền lợi của chính mình và dân tộc mình: “Tôi cần phải nói rằng ở Đông Dương chúng tôi, đặc biệt trong thời kỳ cao trào cách mạng, phụ nữ đã tham gia đáng kể vào công cuộc đấu tranh cách mạng, họ tham dự các cuộc biểu tình và lãnh đạo mộtsố các cuộc ấy, đã diễn thuyết trong các cuộc mít-tinh. Cần phải nhấn mạnh thêm là nhiều lần phụ nữ đã dũng cảm đi đầu trong các cuộc biểu tình và buộc binh lính phải thoái lui, phải đồng tình.
Phụ nữ Đông Dương tích cực tham gia phong trào Xô-viết năm 1930-1931. Họ lui tới một số đơn vị quân đội, vận động binh lính ở đó. Trong Đảng của chúng tôi đã có nhiều nữ đảng viên. Thời gian gần đây, tính tích cực của phụ nữ đang phát triển. Họ tham gia các cuộc bãi công của thợ thuyền và đấu tranh của dân cày. Nữ công nhân và nữ dân nghèo thành thị đang say sưa đấu tranh”. Tại diễn đàn này, chị cũng mạnh dạn đề cập đến công tác phụ nữ mà không phải bất cứ nam giới nào trong Đảng cũng nhìn thấy: “Thưa các đồng chí, tôi muốn nói rằng công tác phụ nữ chẳng những ở nước chúng tôi còn đặt ra nhẹ, mà rõ ràng là ngay cả hàng loạt các Đảng Cộng sản khác cũng vậy. Như chúng ta thấy, qua những vấn đề quan trọng được thảo luận ở Đại hội này, rất ít phụ nữ phát biểu ý kiến. Vâng, đúng như vậy, ngay số đại biểu nữ trong Đại hội VII của chúng ta cũng rất hạn chế. Cái đó nóilên cái gì? Nó chứng tỏ công tác phụ nữ trong nữ công nhân, nữ nông dân, phụ nữ thất nghiệp và nội trợ đặt ra trong lĩnh vực đấu tranh cho Mặt trận Thống nhất chưa được đúng”. Sau Đại hội, chị vẫn tiếp tục ở lại học trường Đại học Phương Đông. Từ tháng 3.1936, vợ chồng chị nhận nhiệm vụ trở về Thượng Hải, nhưng không được mang theo bất cứ tài liệu nào của Quốc tế Cộng sản, vậy là học phải học thuộc lòng. Để qua mắt mạng lưới mật thám dày đặc, cả hai đóng giả đôi vợ chồng thuộc thành phần địa chủ Trung Quốc, đi du lịch từ châu Âu trở về. Sau khi hoàn thànhnhiệm vụ, chị được phân công về công tác ở Sài Gòn và cùng hoạt động với chồng. Anh Lê Hồng Phong lúc ấy là đại diện của Quốc tế cộng sản ở bên cạnh Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Anh đóng vai Hoa kiều dạy học ở Chợ Lớn, còn chị được bổ sung vào Xứ ủy Nam Kỳ và phụ trách Bí thư thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.
Trên địa bàn mới, chị cùng các đồng chí của mình lãnh đạo phong trào nơi đây phát triển mạnh. Lúc chị ở Xóm Chiếu, Chợ Lớn thì các cơ sở Đảng nơi này gọi chị là chị Hoa Kiều, lúc chị hoạt động ở Bà Điểm thì mọi người gọi là cô Năm Bắc. Tại đây, chị đặc biệt chú ý đến phong trào phụ nữ. Ngày 3/8/1938, Ủy ban Phụ nữ ái hữu Sài Gòn – Chợ Lớn đã ra lời kêu gọi phụ nữ các giới lao động: “Chị em chúng ta mau đứng lên hưởng ứng với anh em nam giới, kêu gọi nhau đoàn kết lại, sáng lập các hội tương tế ái hữu”. Có thể thấy đây là quan điểm của chị Minh Khai trong vấn đề giải phóng phụ nữ. Trong thời gian này chị cộng tác khá chặt chẽ với tờ Dân Chúng của Trung ương Đảng. Ban đầu, tờ báo này in bằng tiếng Pháp Le Peuple (Dân Chúng) do Dương Bạch Mai làm chủ nhiệm, số đầu tiên ra ngày 24/9/1937, rồi mãi đến ngày 22/7/1938 mới có thêm tờ Dân Chúng bằng tiếng Việt, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập. Thời gian này trên báo Đọc có in bài Đàn bà con gái nước Nam của một người ký tên Nữ sĩ Tuyết Dung. Ngay lập tức trên báo Dân Chúng từ số 16 đến 19 (ra từ ngày 14/9 đến 18/9/1938), với bút danh Nguyễn Thị Kim Anh, chị đã viết bài bút chiến nhằm tranh luận với quan điểm bình đẳng phụ nữ chỉ là luận điệu phỉnh phờ của nam giới, nên “Chị em chạy xô vào cả việc thể dục, việc chính trị, việc viết báo, lại còn tổ chức công này việc khác, diễn thuyết vấn đề nọ kia, nhẽ tất nhiên chốn buồng the, nơi bếp núc thiếu hẳn tay tề gia nội trợ”. Còn theo chị Minh Khai “Nam nữ xưa kia đã bình đẳng và sau này sẽ bình đẳng. Lúc chưa được bình đẳng thì phải đấu tranh đòi, đó là bước tiến hóa của lịch sử chứ không phải do ai phỉnh phờ cả và trong công cuộc giải phóng phụ nữ không phải là việc riêng lẻ của nữ giới mà phải biết tranh thủ sự đồng tình của mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả nam giới. Trong đời sống vợ chồng là tuyệt đối bình đẳng, nhưng muốn bình đẳng thì người vợ không nên ăn bám vào đàn ông” và “Hiện thời chưa ai, mà cũng không ai chủ trương đánh đổ chế độ gia đình, không ai chủ trương đàn ông và đàn bà xung đột nhau, trái lại còn chủ trương bình đẳng đối với nhau, vợ khuyên chồng, chồng nhắc vợ ra gánh vác xã hội, lo lắng chuyện đời, để mưu cho dân tộc được vẻ vang, được bình đẳng xã hội, được tiến bộ, được hòa bình, được tự do”. Cũng trên báo Dân chúng số 35 (ra ngày 7/12/1938) chị đã viết bài Vấn đề phụ nữ giải phóng khá sâu sắc. Chị cho rằng: “Trong gia đình thì phạm vi “tứ đức tam tòng”, trật tự “nam tôn nữ ty” đã giam hãm chị em vào trong luân lý ích kỷ, bất công, trói buộc chị em vào những phận sự bếp núc, nồi cơm, trách mắm, bị đối đãi bất bình đẳng, ít khi được học hành mà luôn luôn bị hành hạ, chưởi mắng, đánh đập chẳng khác gì kiếp nô lệ. Con gái lớn là món hàng cho cha mẹ gả bán, đổi chác bằng tiền bạc, bắt ép “đặt đâu ngồi đấy” chớ không có quyền lựa chọn bạn trăm năm theo ý riêng, theo tiếng gọi ái tình. Sự thừa hưởng gia tài và sự để tang chế đối với chị em lại càng chênh lệch, khinh thường. Ngoài xã hội, chị em trí thức không được bổ dụng vào các ngành hành chánh như đàn ông, dù chị em có tài cán ngang với họ… Bằng trí não hay bằng tay chân, chị em từng bán sức lao động, lao thân nhưng những đồng tiền lương, tiền công ít ỏi thua kém đàn ông, trong khi công việc của chị em vẫn nặng nề, khó khăn như đàn ông, mà chị em vẫn làm trọn như họ”. Rõ ràng, chị đã phân tích đúng tình cảnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Trước tình cảnh này, có một số phụ nữ tìm đường giải phóng số phận của mình, nhưng chị lưu ý rằng sự giải phóng không phải ở chỗ: “Chẳng hạn, có những chị em nông nổi vì hoàn cảnh gia đình áp bức, hành hạ, bó buộc nên tưởng rằng giải phóng là thoát ly gia đình, trốn đi với một sự nhận định hồ đồ về tự do.
Chẳng hạn, có những chị em không chịu gia đình ép uổng về tình duyên, bất phục bỏ đi với một trái tim non nớt, bồng bột tình yêu… Nhưng dưới cái chế độ tư bản làm chị em còn bị rẻ rúng, bỏ rơi thì những chị em không chức nghiệp đã đành là không thể tự lực được, mà đến cả những chị em có nghề nghiệp trong tay cũng nhiều phengặp lắm trở lực đau đớn ê chề. Không sở làm, không nơi dung túng, biết bao chị em đành chịu thất nghiệp, bán thân trong sạch trong chốn giang hồ, làm món đồ chơi bán rao cho bọn trưởng giả đùa đẩy thỏa thích làm kế sinh nhai. Muốn đi làm tự nuôi sống thì công việc không có – chế độ không cho dùng đàn bà trong mọi việc – muốn trở về với gia đình thì cha mẹ, anh em vì quá tiêm nhiễm đạo đức trưởng giả phong kiến, dã man, giả dối, lại nghiêm khắc quá, hủ lậu quá, không thừa nhận chị em nữa. Tình thế bối rối, hoàn cảnh xấu xa đã cố ý đẩy chị em vào vòng trụy lạc. Người nào chịu không kham nổi những tủi nhục khinh khi của dư luận, đành phải kết liễu đời sống bằng cách tự tử. Chẳng hạn một số chị em hiểu lầm giải phóng ra phóng đãng, tưởng bình đẳng, tự do là lãng mạn, xô bồ nhau a dua những mốt này mốt khác, miệt mài trong những cuộc truy hoan ô uế, triền miên trong những những sòng bạc, chất chứa đầy những xấu xa vật chất và nhục dục, mà quên lãng cả trách nhiệm trong gia đình và xã hội”.
Vậy phải làm gì để giải phóng phụ nữ?
Trong bài báo này, chị Minh Khai khẳng định nữ giới phải: “Chen vai thích cách với các bạn trai, chị em phải liên hiệp với họ, cùng tranh đấu trong hàng ngũ của họ để cải tạo cái chế độ xã hội, để tiêu diệt giai cấp, để thủ tiêu áp bức, các mâu thuẫn hiện tại, để kiến thiết cõi đời hoàn toàn bình đẳng, tự do và hạnh phúc”. Có thể nói, lợi dụng diễn đàn công khai trên báo Dân chúng của Đảng, chị Minh Khai đã trực tiếp tuyên truyền cho quan điểm của Đảng về vấn đề phụ nữ lúc bấy giờ. Trong khi chị đang hoạt động sôi nổi thì chị lại nhận được tin chồng bị sa vào tay giặc, anh bị bắt vì sử dụng căn cước giả. Tin này làm chị vô cùng đau đớn, bấy giờ chị đang mang thai. Mùa xuân năm 1939, chị sinh cháu gái đầu lòng, do bà mụ Trinh đỡ đẻ cẩn thận nên mẹ tròn con vuông và chị đặt tên là Hồng Minh. Trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, không thể đem con theo chị đành phải gửi nhờ chị Du ở làng An Nhơn nuôi hộ. Chỉ một tháng sau khi sinh, chị đã trở về Bà Điểm tiếp tục lao vào công tác. Tình hình chính trị trong và ngoài nước đang có nhiều biến động dữ dội.
Ngày 1.9.1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai đã chính thức nổ ra khi phát-xít Đức xua quân tiến công Ba Lan. Thời cơ này cho phép Đảng Cộng sản Đông Dương nhận định “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”. Giữa lúc ấy, Xứ ủy Nam Kỳ nhận định tình hình và chủ trương khởi nghĩa. Bọn mật thám Pháp đã đánh hơi được kế hoạch này nên ra sức khủng bố, đàn áp dã man. Hầu hết cán bộ cốt cán của Đảng tại Nam Kỳ như Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Lê Hồng Phong… rồi Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến… đều sa vào tay giặc. Ngày 30/7/1940 sau khi dự họp Xứ ủy, chị Minh Khai không quay về cơ quan ở Ngã Sáu nữa vì chị Miến làm liên lạc cho biết là nơi ấy lính kín đang vây, chị đi thẳng về điạ điểm mới ở Bình Đông thì không ngờ nơi ấy cũng đã lộ, vừa đặt chân vào thì chị bị giặc Pháp bắt. Chúng đưa chị về Khám Lớn Sài Gòn và tra tấn khủng khiếp. Chị đã dùng máu của mình viết trên tường xà lim bài thơ nêu cao phẩm chất của người cộng sản:
Đã chen vai chung gánh việc đời,
Phong trần đâu nữa để xem chơi.
Hình ngục chính cho mình lưu dưỡng,
Tù ngục là nơi nghỉ thảnh thơi.
Càng đánh càng tra càng kiên quyết,
Dù kìm, dù kẹp chẳng thay lời.
Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ,
Triệt để thi hành chết mới thôi.
Theo tài liệu mới công bố trên báo Đại đoàn kết (số ra ngày 29/1/2000) thì trong thư viết ngày 5/11/1940 gửi về quê nhà an ủi cha mẹ, chị cho biết: “Chắc em Thái con đã về đến nhà thưa thầy đẻ rõ nỗi oan khổ của con. Con bị 5 năm tù, 20 năm biệt xứ và 11.000 đồng phạt, 20 năm mất quyền công dân, quyền gia đình. Chắc thầy đẻ cũng rõ đứa con của thầy đẻ không làm gì nên tội, nay bị buộc nặng nề quá sức. Con đã kêu oan lên tòa nhà án. Con chắc nỗi oan của con ngày minh tỏ, lượng trên thấu rõ rồi sẽ giải oan. Con sẽ có ngày được thong thả, được gặp mặt mẹ cha. Phiên tòa xử, em Thái con vào xem mới là phiên đầu xử một vụ, nghe nói con còn phải đem ra xử nhiều phiên nữa. Xin thầy đẻ vững tâm, con vốn là kẻ vô tội thì không lẽ người ngay thẳng chính đính mà bị oan mãi hay sao…”. Khi giặc Pháp biết chị là vợ của Lê Hồng Phong, chúng dẫn anh vào nhận mặt, nhưng trước sau chị chỉ nghiến răng trả lời:
– Tôi không biết người này!
Còn nỗi đau nào hơn khi được nhìn thấy người chồng yêu quý, ngoài mặt lạnh như đồng nhưng trong lòng chị ai hiểu thấu? Trong lúc này, từ ngày 6 đến ngày 9/11/1940, Hội nghị Trung ương Đảng họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) đã thảo luận và quyết định hai vấn đề cấp thiết trước mắt là tiếp tục phát triển ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và sau khi nghe Phan Đăng Lưu báo cáo về tình hình miền Nam, đề nghị khởi nghĩa, Hội nghị đã chỉ thị cho Xứ ủy Nam Kỳ phải hoãn lại vì điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi cho thắng lợi. Hội nghị bế mạc, Phan Đăng Lưu lên đường vào Nam, vừa đến Sài Gòn, chưa gặp Xứ ủy để truyền đạt nghị quyết của Trung ương thì không may anh bị bắt – lúc 19 giờ ngày 22/11/1940.
Cuối đời và hy sinh
Thế là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn nổ ra vào ngay đêm 22 rạng 23/11/1940 theo quyết định của Ủy ban khởi nghĩa Xứ ủy.
Chính quyền thực dân cay cú đàn áp khốc liệt những người tù cộng sản và đưa ra tòa xét xử. Trước sau chị vẫn khẳng định:
– Những điều các ông buộc tội tôi là vô lý! Đất nước này của chúng tôi. Chúng tôi cứu nước thì buộc tội, còn kẻ cướp nước thì vô tội sao?
Dù không thể buộc chị vào tội lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, nhưng chúng vẫn tuyên chị án tử hình! Trong phiên tòa này, chị Quang Thái – em ruột chị Minh Khai được tham dự. Chị nói với em gái:
– Em đừng khóc! Chị dù mất, nhưng rất vui sướng vì đã làm tròn nhiệm vụ. Em hãy giúp chị, chừng nào Hồng Minh khôn lớn, đi học được, thì em đưa cháu về nuôi và dạy bảo cháu nên người. Nhờ em dạy bảo cho cháu để sau này cháu tiếp tục sự nghiệp của cha mẹ cháu. Chị gửi lời vĩnh biệt anh Lê Hồng Phong, người chồng yêu quý của chị đã bị đày đi Côn Đảo, cám ơn các đồng chí đã nuôi nấng, che chở cho Hồng Minh.
Trở về khám, trong lòng ngổn ngang biết bao tâm sự, dù vậy chị vẫn dũng cảm đối diện với bản án để sống. Chị đã tước bộ quần áo tù khâu thành hai chiếc bao gối gửi cho cha mẹ làm kỷ niệm. Ngày 29/5/1940, chị viết thư gửi cho gia đình: “Cha mẹ hỡi! Phận con không may đã đành, con muốn giấu không cho thầy mẹ biết, nhưng giấu sao được, báo đăng… Con chỉ xin thầy đẻ đừng tủi nhục đau khổ rằng con bị kết án xử tử là phạm gì sát nhân, độc ác, xấu xa dữ tợn vậy? Không! Con không phải vậy đâu! Cha mẹ ơi! Con không phải là đứa con bất hiếu, tình thế xui nên khiến con 10 năm cách biệt mẹ cha, nhưng con khi nào cũng là một kẻ trong sạch chính đáng, không bao giờ làm sự gì bất nhất hung dữ, đầy một tấm lòng nhân ái minh chính, mà ngờ đâu nay còn lâm vào cảnh này mang tới tử tội một cách rất đau khổ oan ức, cúi xin cha mẹ suy xét kỹ càng mà tha tội bất hiếu cho con, xin coi con như hòn máu đã rơi mà thôi, đừng thảm thương thái quá”. Nếu người cộng sản trẻ tuổi Lý Tự Trọng trong những ngày nằm chờ ngày ra pháp trường đã tranh thủ học thuộc Truyện Kiều thì chị Minh Khai cũng có thái độ bình thản như thế. Chị vẫn tiếp tục thảo luận, học tập chính trị với các bạn tù. Sáng ngày 28/8/1941, chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số đồng chí của mình đã bị giặc xử bắn tại Hóc Môn. Chị ngã vào lòng của Tổ quốc khi vừa 31 xuân và trở nên bất tử. Sau này, trong bài nói chuyện nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1966) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định gương hy sinh anh dũng của chị Minh Khai “Luôn sáng ngời để cho phụ nữ ta học tập”. Hiện nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh có con đường và trường học mang tên Nguyễn Thị Minh Khai. Và từ năm 1990, tên của chị cũng được Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh đặt tên cho Chương trình học bổng dành cho các em học sinh nghèo hiếu học.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.