Quốc Thái Mẫu Trịnh Thị Ngọc Lung (1612- 1706)

Quốc Thái Mẫu Trịnh Thị Ngọc Lung (1612- 1706)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Theo Hậu Đức cung bi ký, bà Ngọc Lung xuất thân trong một gia đình quyền quý. Cha bà là Trịnh Vĩnh Phúc, tước Thái tể Quảng quận công, quê ở làng Sài Sơn, huyện Vĩnh Phúc. Mẹ bà họ Nguyễn, là con gái của Nguyễn Mậu Nghị, Thái tể Quỳnh Quốc công, người huyện Lôi Dương. Sau này, bà được tuyển vào phủ chúa và trở thành chính phi của Trịnh Tạc.

Tuy không sinh được con ruột, bà Ngọc Lung lại hết lòng chăm sóc và nuôi dạy con trưởng của chúa là Trịnh Căn, coi như con mình, chu toàn từ sinh hoạt đến học hành.

Sự nghiệp

Khi vua Lê Thần Tông băng hà, hoàng tử thứ là Duy Cối mới hai tuổi. Chúa Trịnh Tạc liền giao đứa trẻ ấy cho bà Ngọc Lung nuôi dưỡng và dạy dỗ trong phủ. Dù không phải con ruột, bà vẫn hết lòng nhận trách nhiệm được ký thác, tận tâm nuôi nấng, dạy bảo Duy Cối theo đạo lý chính thống. Hằng ngày, bà cho nghe bàn việc triều chính để sớm hiểu đạo trị nước. Nhờ vậy, đến năm 11 tuổi, Duy Cối đã nổi tiếng thông minh, hiền lành, hiếu thảo, đức hạnh sớm hình thành, đủ tư chất kế nghiệp lớn, đáp ứng kỳ vọng của triều đình và thần dân.

Ngày 19 tháng Bính Dần, chúa Trịnh Tạc đích thân dẫn Tiết chế phủ cùng các đại thần văn võ làm lễ tôn lập Duy Cối lên ngôi hoàng đế, tức Lê Gia Tông. Năm sau đổi niên hiệu là Dương Đức nguyên niên (1672), đồng thời tôn chính phi Trịnh Thị Ngọc Lung làm Quốc Thái mẫu.

Với địa vị Quốc Thái mẫu và là chính phi của Trịnh Tạc, bà Ngọc Lung đã cùng chồng phò tá nhà Lê, góp phần khôi phục cơ nghiệp, chỉnh đốn chính sự trong nước, chống giữ ngoại thù bên ngoài. Công lao đối với xã tắc được sử sách ca ngợi là to lớn, danh tiếng và đức hạnh vang khắp trong dân gian.

Khi vua Lê Gia Tông qua đời, bà Ngọc Lung đã đích thân đến viếng, cử hành đầy đủ lễ nghi, cúi lạy và khóc thương thống thiết. Cảnh tượng ấy khiến các quan văn võ có mặt đều xúc động, nhiều người không cầm được nước mắt.

Lăng tẩm

Khi trở thành Quốc Thái mẫu, Ngọc Lung có nguyện vọng là được làm sinh từ tại Thịnh Mỹ xã và được Nhà Chúa chấp thuận.

Đầu xuân năm Bính Dần (1685), Nhà Chúa đặc cách phân nhiệm một bộ phận xây dựng sinh từ cho Trịnh Thị Ngọc Lung do Chúa Trịnh cắt cử. Như vậy, Lăng được xây dựng 21 năm trước khi Quốc Thái mẫu qua đời.

Do biến thiên của lịch sử, Lăng Quốc Thái mẫu Trịnh Thị Ngọc Lung không còn kiến trúc như xưa. Hiện tại toàn bộ khu vực lăng được phân bố trên một mặt bằng với diện tích 4.600m2 bao gồm khu vực cổng lăng và chính lăng. Toàn bộ khu vực lăng được làm bằng đá mà những hiện vật còn lại đến ngày nay cho chúng ta biết được kiến trúc lăng (sinh từ) là điều cần thiết.

Tấm bia Hậu Đức cung bi ký do Đông các đại học sỹ Bồi tụng sử bộ Tả thị lang Nguyễn Viết Thứ soạn dưới thời vua Lê Hy Tông – Chính Hòa năm thứ 7 (1683) nói về thời gian xây dựng Lăng cùng thân thế, sự nghiệp, công đức của Trịnh Thị Ngọc Lung là một tài liệu hết sức quý giá, có giá trị to lớn về mặt lịch sử.

Bia có hình dáng vuông cạnh cả bốn mặt, trên có mái che hình chóp, đỉnh có núm dáng kiệu long ngai. Toàn bộ bia được tạo tác trong một khối đá nguyên, mặt bia khắc nét chữ sắc, trán bia được chạm khắc hình lưỡng long chầu nguyệt, diềm bia được chạm lá cúc cách điệu. Tất cả được đặt trên một bệ bia cũng hình vuông được đặt dật cấp từ thấp lên cao. Hậu Đức cung bi ký là một tấm bia không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà còn có giá trị trong việc nghiên cứu mỹ thuật điêu khắc đá Việt Nam thế kỷ XVII.

Ngoài tấm bia Hậu Đức cung bi ký còn có:

Hai Chó đá ngồi ở tư thế ngồi xổm, miệng mím, cổ được chạm nổi vòng đeo nhạc.

Hai Nghê đá ở tư thế ngồi xổm, miệng hé vừa phải, trên mình nghê được chạm hoa văn hình mây xoắn, sóng nước và mây lửa.

Sập đá: hình vuông, cấu trúc theo kiểu chân quỳ, dạ cá. Mặt sập được chạm hình lục giác liền nhau, bốn mặt được vo tròn cạnh. Đế sập tứ diện được chạm nổi hình rồng cuộn tròn trong mây lửa và lá cúc cách điệu.

Hương án: Được tạo tác trên một khối đá xanh có dáng hình trụ, ở trên 4 mặt của hương án được chạm khắc dây đặc nhiều kiểu hoa văn khác nhau như: rồng, chim, mây lửa, lá đề đường triện, chuyển tải nhiều nội dung về triết lý cuộc sống: nhân, sinh, vũ trụ.

Thành bậc cổng lăng: Là hình hai con sóc (sấu) được chạm nổi trên thành bậc trên tư thế đang lao chạy về phía nhau bất chợt như thu chân lại, ghìm mình lại. Thân sấu đuôi dài, mồm, má, răng, mắt, mũi, bờm ngực, dáng khỏe, than phủ kín hoa tròn cánh xòe, văn dấu hỏi, đuôi to lượn sóng, cổ đeo nhạc.

Hai miếu thờ: Mẫu nghi thiên hạ Liễu Hạnh và Thánh mẫu nhân đầu, đây là 2 miếu thờ có lẽ được đời sau dựng thêm. Mặt trước miếu được chạm khắc khá công phu theo văn hình lá đề biến thể ở cạnh. Phía trên cùng là Rồng chầu mặt nguyệt, hai bên cửa được chạm nổi hình hạc đứng trên lưng rùa. Phía dưới cùng chân miếu là mặt hổ phù. Toàn bộ 2 miếu được đặt trên bệ xây gạch và vôi vữa, dật hai cấp. Ngoài ra còn có một số cột đá, móng đá nằm rải rác trong khu lăng mộ cũng được chạm khắc hoa văn khá tinh xảo và sinh động.

Hiện nay Lăng Quốc Thái mẫu Trịnh Thị Ngọc Lung không còn giữ được diện mạo ban đầu, nhưng những gì còn lại trong khu Lăng cùng với nhân vật lịch sử, lăng Quốc Thái mẫu đã được sử sách ghi chép là một “cung từ” nổi tiếng bề thế, trang nghiêm. Những hiện vật bằng đá còn giữ được qua nhiều thế hệ đến nay mà nghệ thuật tạo hình của các thế kỷ sau không thể sánh kịp.

Lăng Quốc Thái mẫu Trịnh Thị Ngọc Lung thuộc thôn Thịnh Mỹ, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân (Thanh Hoá) đã được công nhận là di tích cấp tỉnh từ năm 1999. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, UBND, Phòng Văn hoá huyện Thọ Xuân đã ký kết bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích lịch sử văn hoá trên, với tổng diện tích “bất khả xâm phạm” là 4.600m2.

Bia Hậu Đức cung bi/Huệ điền trục phận/Nghi văn sự lệ

Bia dựng năm Chính Hòa thứ 7 (1686) nội dung ghi chép về sử bà Chính phi của Hoằng tổ Dương vương (Trịnh Tạc) là Trịnh Thị Ngọc Lung người hương Sóc Sơn, con gái của Quảng Quận công, người có công nuôi dưỡng vua Lê Gia Tông. Hai xã Thịnh Mỹ và Hải Mao xin lập sinh từ thờ bà, đặt tên là cung Hậu Đức, được bà ban cho 20 mẫu ruộng và tiền để lập sinh từ. Bia ghi rõ quy cách cúng giỗ và bài văn khấn. Có ghi vị trí, diện tích các thửa ruộng cúng.

Bia do ngài Nguyễn Viết Thứ là Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1664); chức vị: Lại bộ Tả Thị lang; tước Mai Sơn Nam và  ngài  Đặng Trinh là Thư toán khoa Nhâm Thìn làm đến Thị nội Thư tả, Tự thừa soạn.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Quoc Thai Mau Trinh Thi Ngoc Lung (1612–1706)

Background

According to the Hau Duc cung bi ky, Ngoc Lung was born into an eminent aristocratic family. Her father was Trinh Vinh Phuc, titled Thai Te Quang Quan Cong, a native of Sai Son village, Vinh Phuc district. Her mother, of the Nguyen clan, was the daughter of Nguyen Mau Nghi, Thai Te Quynh Quoc Cong, from Loi Duong district. Later, Ngoc Lung was selected to enter the lord’s palace and became the principal consort of Trinh Tac.

Although she bore no biological children, Ngoc Lung devoted herself wholeheartedly to caring for and educating the lord’s eldest son, Trinh Can, treating him as her own and attending meticulously to both his daily life and studies.

Career

When Le Than Tong passed away, his second prince, Duy Coi, was only two years old. Lord Trinh Tac entrusted the child to Ngoc Lung to be raised and educated within the palace. Though not her biological son, she fully accepted the responsibility placed upon her, nurturing and instructing Duy Coi according to orthodox moral principles. She allowed him to listen daily to discussions of court affairs so that he might early understand the principles of governance. As a result, by the age of eleven, Duy Coi was already renowned for his intelligence, gentleness, filial piety, and moral character, possessing the qualities required to assume great responsibility and fulfilling the expectations of the court and the people.

On the 19th day of the Bing Dan month, Lord Trinh Tac personally led the Tiet Che Phu together with civil and military officials to conduct the ceremony enthroning Duy Coi as emperor, namely Le Gia Tong. The following year, the era name was changed to Duong Duc (first year, 1672), and the principal consort Trinh Thi Ngoc Lung was honored with the title Quoc Thai Mau.

As Quoc Thai Mau and principal consort of Trinh Tac, Ngoc Lung joined her husband in supporting the Le dynasty, contributing to the restoration of the realm, the rectification of domestic governance, and the defense against external threats. Her services to the state were praised by historical records as immense, and her reputation and virtue were widely celebrated among the populace.

When Emperor Le Gia Tong passed away, Ngoc Lung personally came to pay her respects, performing all prescribed rites, bowing and weeping in profound mourning. The scene deeply moved the assembled civil and military officials, many of whom were unable to restrain their tears.

Mausoleum

After becoming Quoc Thai Mau, Ngoc Lung expressed her wish to establish a sinh tu (living shrine) at Thinh My commune, which was approved by the lord. In the early spring of the Bing Dan year (1685), the lord specially assigned personnel to construct this sinh tu for Trinh Thi Ngoc Lung. Thus, the mausoleum was built twenty-one years before her death.

Owing to the vicissitudes of history, the mausoleum of Quoc Thai Mau Trinh Thi Ngoc Lung no longer retains its original architectural form. Today, the entire site occupies an area of 4,600 square meters, comprising the gate area and the main tomb. The complex is constructed entirely of stone, and the surviving artifacts allow us to reconstruct the essential features of the original sinh tu architecture.

The Hau Duc cung bi ky stele, composed by Nguyen Viet Thu—Dong Cac Grand Academician, concurrently Vice Minister of the Ministry of Personnel—during the reign of Le Hy Tong, in the 7th year of Chinh Hoa (1683), records the construction of the mausoleum as well as the lineage, career, and merits of Trinh Thi Ngoc Lung. It is an extremely precious document of great historical value.

The stele is square in shape on all four sides, topped with a pyramidal canopy crowned by a knob shaped like a palanquin throne. Carved from a single block of stone, its inscription is sharply executed; the pediment is adorned with a pair of dragons flanking the moon, while the borders are decorated with stylized chrysanthemum leaves. The stele stands upon a square base arranged in ascending tiers. Beyond its historical importance, the Hau Duc cung bi ky is also of great value for the study of Vietnamese stone sculpture of the seventeenth century.

Other stone artifacts include:

  • Two stone dogs seated in a crouching posture, mouths closed, with collars carved in relief;
  • Two stone nghe seated in a crouching posture, mouths slightly open, their bodies carved with swirling cloud, wave, and flame motifs;
  • A square stone platform (sap da) with kneeling-leg structure, its surface carved with interconnected hexagonal patterns and its sides rounded; the base is decorated in relief with coiling dragons amid flame clouds and stylized chrysanthemum leaves;
  • A stone incense altar carved from a single block of green stone in cylindrical form, its four sides decorated with continuous bands of motifs such as dragons, birds, flame clouds, and geometric leaf patterns, conveying philosophical themes of humanity, life, and the cosmos;
  • The stepped walls of the mausoleum gate carved with two sau (mythical crocodiles) rushing toward one another, bodies powerful and dynamic, adorned with circular floral motifs and wave-like tails, each wearing a carved collar.

There are also two shrines dedicated to Lieu Hanh, the Mau Nghi Thien Ha, and to the Thanh Mau Nhan Dau. These shrines were likely added in later periods. Their facades are elaborately carved with transformed bodhi-leaf motifs; above are dragons flanking the moon, while on either side of the doors are reliefs of cranes standing on turtles. The bases feature ho phu (tiger-face) motifs. Additional stone columns and foundations scattered throughout the site are likewise finely and vividly carved.

Although the mausoleum no longer preserves its original appearance, the remaining artifacts, together with historical records, attest that the mausoleum of Quoc Thai Mau was once a renowned and imposing cung tu, solemn and majestic. The surviving stone sculptures, preserved across generations, display an artistic quality unmatched by later centuries.

The mausoleum of Quoc Thai Mau Trinh Thi Ngoc Lung, located in Thinh My hamlet, Tho Dien commune, Tho Xuan district (Thanh Hoa), was recognized as a provincial-level historical monument in 1999. The Provincial Museum, the People’s Committee, and the Department of Culture of Tho Xuan district have delineated and agreed upon a protected zone of 4,600 square meters designated as inviolable.

The Hau Duc Cung Stele

Erected in the 7th year of Chinh Hoa (1686), the stele records the history of the principal consort of Hoang To Duong Vuong (Trinh Tac), namely Trinh Thi Ngoc Lung of Soc Son hamlet, daughter of Quang Quan Cong, who rendered distinguished service in raising Emperor Le Gia Tong. The two communes of Thinh My and Hai Mao petitioned to establish a sinh tu in her honor, named Hau Duc Cung; she granted twenty mau of farmland and funds for its establishment. The stele details the regulations for sacrificial rites, the ritual text, and specifies the locations and areas of the donated fields.

The stele was composed by Nguyen Viet Thu, Doctor of the Bing Thin examination (1664), serving as Left Vice Minister of the Ministry of Personnel, titled Mai Son Nam, together with Dang Trinh, of the Thu Toan examination (Nham Thin), who rose to the post of Palace Secretary and Tu Thua.

References

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Pháp

Quoc Thai Mau Trinh Thi Ngoc Lung (1612–1706)

Origines

Selon l’inscription Hau Duc cung bi ky, Trinh Thi Ngoc Lung était issue d’une famille aristocratique de haut rang.
Son père, Trinh Vinh Phuc, portait le titre de Thai te Quang quan cong, originaire du village de Sai Son, district de Vinh Phuc. Sa mère, de la famille Nguyen, était la fille de Nguyen Mau Nghi, Thai te Quynh Quoc cong, originaire du district de Loi Duong.
Par la suite, Trinh Thi Ngoc Lung fut sélectionnée pour entrer au palais seigneurial et devint l’épouse principale (chinh phi) de Trinh Tac.

Bien qu’elle n’ait pas eu d’enfant biologique, elle se consacra entièrement à l’éducation et à l’entretien du fils aîné du seigneur, Trinh Can, qu’elle considérait comme son propre enfant, veillant avec soin aussi bien à sa vie quotidienne qu’à ses études.

Action et mérite

À la mort du roi Le Than Tong, le prince cadet Duy Coi n’avait que deux ans. Le seigneur Trinh Tac confia alors l’enfant à Trinh Thi Ngoc Lung afin qu’elle l’élève et l’instruise au sein du palais.
Bien qu’il ne fût pas son fils, elle accepta pleinement cette responsabilité, l’élevant avec dévouement et l’instruisant selon les principes orthodoxes du gouvernement et de la morale confucéenne. Chaque jour, elle lui permettait d’entendre les discussions sur les affaires de l’État afin qu’il comprît précocement les fondements de l’art de gouverner.

Grâce à cette éducation attentive, à l’âge de onze ans, Duy Coi était déjà réputé pour son intelligence, sa douceur, sa piété filiale et sa vertu précoce, possédant toutes les qualités requises pour assumer de grandes responsabilités, à la hauteur des attentes de la cour et du peuple.

Le 19e jour du mois Binh Dan, le seigneur Trinh Tac conduisit personnellement la cérémonie solennelle, accompagné des hauts dignitaires civils et militaires, pour introniser Duy Coi sur le trône impérial, sous le nom de Le Gia Tong.
L’année suivante, l’ère fut renommée Duong Duc (première année, 1672), et Trinh Thi Ngoc Lung reçut le titre de Quoc Thai Mau.

En tant que Quoc Thai Mau et épouse principale de Trinh Tac, elle contribua activement, aux côtés de son époux, à soutenir la dynastie Le, à restaurer l’ordre politique, à réformer l’administration intérieure et à défendre le pays contre les menaces extérieures. Les chroniques louent unanimement l’importance de ses mérites envers l’État ; sa réputation et sa vertu étaient largement reconnues parmi le peuple.

Lorsque l’empereur Le Gia Tong décéda, Trinh Thi Ngoc Lung se rendit personnellement aux funérailles, observa l’ensemble des rites prescrits, s’inclina profondément et versa des larmes de deuil sincères. Cette scène émouvante toucha profondément les mandarins civils et militaires présents, dont beaucoup ne purent retenir leurs larmes.

Le mausolée

Après avoir été honorée du titre de Quoc Thai Mau, Trinh Thi Ngoc Lung exprima le souhait de faire édifier un sinh tu (temple funéraire de son vivant) dans la commune de Thinh My, demande qui fut acceptée par la maison seigneuriale.

Au début du printemps de l’année Binh Dan (1685), le seigneur ordonna spécialement l’affectation d’une équipe chargée de la construction du sinh tu de Trinh Thi Ngoc Lung. Ainsi, le mausolée fut édifié vingt et un ans avant son décès.

En raison des bouleversements de l’histoire, le mausolée de la Quoc Thai Mau Trinh Thi Ngoc Lung n’a pas conservé son architecture originelle. Aujourd’hui, l’ensemble du site couvre une superficie plane de 4 600 m², comprenant la porte du mausolée et la tombe principale. L’ensemble est réalisé en pierre ; les vestiges conservés permettent néanmoins de reconstituer l’importance et la nécessité de l’architecture funéraire (sinh tu) d’origine.

La stèle Hau Duc cung bi ky, rédigée par le grand lettré de l’Académie de l’Est, vice-ministre de la Justice Nguyen Viet Thu, sous le règne du roi Le Hy Tong, en la 7e année Chinh Hoa (1683), constitue une source documentaire d’une valeur exceptionnelle. Elle relate la période de construction du mausolée, ainsi que l’origine, la carrière, les mérites et les bienfaits de Trinh Thi Ngoc Lung, offrant un apport considérable à l’histoire.

La stèle est de forme carrée sur ses quatre faces, surmontée d’un toit pyramidal dont le sommet est orné d’un bouton évoquant un palanquin impérial. Elle est taillée dans un seul bloc de pierre ; l’inscription est finement gravée, le fronton décoré de deux dragons faisant face à la lune, et les bordures ornées de feuilles de chrysanthème stylisées. L’ensemble repose sur un socle carré à degrés superposés.
Au-delà de sa valeur historique, la stèle Hau Duc cung bi ky est également une œuvre majeure pour l’étude de l’art de la sculpture sur pierre vietnamienne du XVIIe siècle.

Outre cette stèle, le site comprend :

  • deux chiens de pierre assis sur leurs pattes arrière, la bouche fermée, le cou orné d’un collier sculpté ;
  • deux nghe de pierre, également accroupis, à la bouche légèrement entrouverte, décorés de motifs de nuages spiralés, de vagues et de flammes ;
  • un lit de pierre de plan carré, aux pieds en forme de genoux fléchis, la surface sculptée de motifs hexagonaux continus, et le socle orné de dragons enroulés dans des nuées enflammées et de feuilles de chrysanthème stylisées ;
  • un autel à encens, taillé dans un bloc de pierre bleue de forme cylindrique, dont les quatre faces sont sculptées de dragons, d’oiseaux, de nuages de feu et de feuilles en méandres, exprimant des concepts philosophiques liés à l’humanité, à la vie et à l’univers ;
  • les marches du portail du mausolée, décorées de deux sau (crocodiles mythiques) sculptés en relief, figurés dans un mouvement dynamique, le corps puissant couvert de motifs floraux, la queue ondulante et le cou orné d’un collier.

Le site comprend également deux petits temples dédiés à Lieu Hanh, Mère céleste, et à une sainte mère anthropomorphe, probablement ajoutés ultérieurement. Leur décor sculpté, riche et soigné, présente des dragons affrontant la lune, des grues debout sur des tortues et des masques ho phu à la base.

Aujourd’hui, bien que le mausolée de la Quoc Thai Mau Trinh Thi Ngoc Lung n’ait pas conservé son apparence originelle, les vestiges encore présents, associés à la stature historique du personnage, confirment que ce lieu fut jadis un cung tu prestigieux, vaste et solennel. Les œuvres de pierre conservées témoignent d’un art de la sculpture que les générations ultérieures n’ont pu égaler.

Le mausolée, situé au hameau de Thinh My, commune de Tho Dien, district de Tho Xuan (Thanh Hoa), a été classé monument historique de niveau provincial en 1999. Les autorités provinciales et locales ont établi une zone de protection strictement inviolable d’une superficie totale de 4 600 m².

Stèle Hau Duc cung bi / Hue dien truc phan / Nghi van su le

Érigée en la 7e année Chinh Hoa (1686), cette stèle relate l’histoire de Trinh Thi Ngoc Lung, épouse principale de Hoang to Duong vuong (Trinh Tac), fille de Quang Quan cong, et bienfaitrice ayant élevé l’empereur Le Gia Tong. Les communes de Thinh My et Hai Mao sollicitèrent l’autorisation d’ériger un sinh tu en son honneur, nommé Hau Duc cung, auquel elle fit don de vingt mau de rizières et de fonds. La stèle précise les règles du culte, les prières rituelles, ainsi que l’emplacement et la superficie des terres dédiées.

Elle fut rédigée par Nguyen Viet Thu, docteur de la session Binh Thin (1664), alors Ta Thi lang du ministère des Rites, titré Mai Son Nam, assisté de Dang Trinh, fonctionnaire chargé des calculs et devenu plus tard Thi noi Thu ta, Tu thua.

Références

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Trung

国太母郑氏玉隆(1612—1706)

身世

据《后德宫碑记》记载,郑氏玉隆出身于显赫世家。其父为郑永福(Trinh Vinh Phuc),封太宰广郡公,籍贯赛山村、永福县(Sai Son, Vinh Phuc);其母为阮氏(Nguyen Thi),乃阮茂议(Nguyen Mau Nghi)之女,阮茂议封太宰琼国公,籍贯雷阳县(Loi Duong)。

后经选入主府,成为郑柞(Trinh Tac)之正妃。

郑氏玉隆虽未生育亲子,却尽心抚育郑主长子郑根(Trinh Can),视如己出,自起居饮食至学业品行,皆亲自照料、悉心教养。

事功

黎神宗(Le Than Tong)崩逝之时,其第二皇子维槐(Duy Coi)年仅二岁。郑柞遂将此幼子托付郑氏玉隆,于主府中抚养与教诲。

虽非骨肉,郑氏玉隆仍恪尽母责,依正统礼教加以培育,使其自幼耳濡目染朝政议论,早识治国之道。由是至十一岁时,维槐已以聪颖、仁孝、温良著称,德性初成,具备继承大统之资,深孚朝廷与士民之望。

丙寅年十九日,郑柞亲率节制府及文武百官,举行大礼,尊立维槐即皇帝位,是为黎嘉宗(Le Gia Tong)。翌年改元为阳德元年(1672),并尊正妃郑氏玉隆为国太母。

以国太母之尊、郑柞正妃之位,郑氏玉隆与夫同心辅佐后黎王朝,协力恢复基业,整饬内政,对外御敌。其功劳于社稷至为宏大,史籍多有称颂,声名德望广被民间。

丧礼

黎嘉宗驾崩后,郑氏玉隆亲临致祭,依礼成服,伏地恸哭,其情至切。在场文武百官无不动容,多有潸然泪下者。

陵寝与碑刻

郑氏玉隆受尊为国太母后,愿于盛美社(Thinh My)建立生祠,此愿获郑主允准。

丙寅年(1685)初春,主府特派专官主持工程,营建生祠。该陵寝早于国太母薨逝二十一年建成。

历经历史变迁,国太母郑氏玉隆陵今已不复旧观。现陵区总面积约4600平方米,包括陵门与正陵两部分,皆以石构为主。遗存石质构件,为复原生祠建筑形制提供了重要依据。

《后德宫碑记》由东阁大学士、陪讼史部左侍郎阮曰次(Nguyen Viet Thu)撰写,立于黎熙宗(Le Hy Tong)正和七年(1683),详载陵寝营建经过及郑氏玉隆之身世、事业与功德,为极其珍贵的历史文献。

碑体四方,覆以锥形碑盖,顶饰龙舆宝座状钮,整碑由一整块石材雕成。碑文镌刻锋利,碑额饰双龙朝月,碑边刻变体菊叶纹;碑座亦为方形,层级渐升。此碑不仅具高度史料价值,亦为研究17世纪越南石雕艺术的重要实物。

陵区石刻遗存

除《后德宫碑记》外,陵区尚存:

  • 石犬一对:蹲踞状,口闭,颈饰铃环;
  • 石狻猊一对:蹲踞,口微张,身饰卷云、水波、火云纹;
  • 石榻:方形,曲足鱼腹式结构,榻面刻连体六角纹,基座浮雕云火盘龙与变体菊叶;
  • 香案:青石整块雕成,四面刻龙、鸟、火云、篆式菩提叶纹,寓意仁、生、宇宙哲理;
  • 陵门台阶石刻:双鳄(鳄龙)相向奔跃状,体态健硕,饰涡纹、问号纹,颈佩铃饰;
  • 二座祠庙:供奉天下母仪柳杏(Lieu Hanh)与人首圣母,疑为后世增建,雕饰精美,含龙朝月、鹤立龟背、虎符等纹样。

另有多根石柱、石础散布陵区,雕刻生动细腻。

现状与保护

虽陵寝原貌不存,但遗迹与史籍所载表明:国太母陵昔为一座规模宏大、庄严肃穆的著名宫祠。现存石刻艺术之水准,亦为后世难以企及。

国太母郑氏玉隆陵位于盛美村、寿延社、寿春县(清化),1999年被列为省级历史遗迹。省综合博物馆、县人民委员会及文化部门已划定保护区,确立4600平方米不可侵占范围。

补记:碑文概要

《后德宫碑 / 惠田轴分 / 仪文事例》立于正和七年(1686),记载:
郑柞正妃郑氏玉隆,广郡公之女,育养黎嘉宗有功。盛美、海毛二社请建生祠,名曰后德宫,赐田二十亩并资财以供祭祀。碑中详列祭仪、祝文及祭田位置、面积。

碑文由阮曰次(进士丙辰科1664,吏部左侍郎,封梅山男)与邓贞(Dang Trinh,任内书左、司承)共同撰修。

參考

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)