Thiền sư Giác Hải

Thân thế


Thiền sư Giác Hải (覺海, 1024 (? 1023) – 1138) là người họ Nguyễn, húy Nguyễn Viết Y (Nguyễn Quốc Y), pháp hiệu Giác Hải tính chiếu đại sư bài vị chùa Viên Quang ghi Diệu thông xung mặc hoằng hóa đại pháp sư là thiền sư Việt Nam thời nhà Lý, thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông.

Thiền sư Giác Hải sinh năm thứ 15 – Giáp Tý, niên hiệu Thuận Thiên (1023), mất ngày mùng 4 tháng giêng năm Thiệu Minh (1138) đời vua Lý Anh Tông, thọ 115 tuổi là người hương Hải Thanh, phủ Hải Thanh (đời trần là Thiên Thanh sau đổi là phủ Xuân Trường thuộc huyện Xuân Trường – Giao Thủy, tỉnh Nam Định)

Theo sách “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” (Phòng Địa chí – Thư viện tỉnh Nam Định chế bản) tại trang 146, trong mục chùa Keo thì: Không Lộ tên chính là Nguyễn Chí Thành người xã Điềm Xá huyện Gia Viễn cùng Nguyễn Viết Y người xã Loa Điền – Hải Thanh kết bạn với nhau, Chí Thành đạo hiệu là Không Lộ, Viết Y đạo hiệu là Giác Hải, sau gặp sư Từ Đạo Hạnh người Yên Lãng cùng sang Tây Trúc học đạo đều thành.

Theo Đại Nam nhất thống chí, Sư tên Quốc Y, hiệu Giác Hải, người Giao Thủy, Hải Nam, nhỏ theo nghề chèo chài lưới của cha. Sau bà mẹ đem về Yên Vệ (Yên Khánh, Ninh Bình) cùng với Nguyễn Minh Không (tức Lý Quốc Sư) kết bạn, đi Tây Trúc cầu đạo. Ðược đạo rồi, bèn trở về Giao Thủy, trụ trì chùa Nghiêm Quang tức Chùa Keo Hành Thiện ngày nay.

Theo Địa chí Nam Định thì ngài kết bạn với Dương Không Lộ, Từ đạo Hạnh và cùng sang Tây Trúc thành đạo.

Thiền sư có 2 người con trai được vua gia ân cho làm quan, bia ký chùa Viên Quang cho biết, cháu 4 đời Lý Tường Dĩnh làm đến Thái sư và cũng làm tăng như ngài.

Cơ duyên tu tập


Năm hai mươi lăm tuổi, Sư dứt bỏ thế nghiệp xuất gia làm Tăng. Ban đầu, Sư cùng Thiền sư Không Lộ đồng thờ thầy Hà Trạch ở chùa Diên Phước, Hải Thanh. Sau, Sư lại kế thừa dòng pháp của Không Lộ và trụ trì luôn chùa này.

Đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), Sư cùng Thông Huyền bị triệu vào hầu. Bỗng đâu có hai con cắc kè cất tiếng kêu chát tai. Vua bảo Thông Huyền làm cho nó đừng kêu. Thông Huyền thầm niệm thần chú, một con rơi xuống. Thông Huyền cười nhìn Sư, bảo: “Để lại một con cho Sa-môn.” Sư chú mắt nhìn nó, chốc lát nó cũng rơi xuống. Nhà vua kinh dị, làm thơ tặng:

Giác Hải tâm như biển,

Thông Huyền đạo lại huyền.

Thần thông gồm biến hóa,

Một Phật, một thần tiên.

(Giác Hải tâm như hải,

Thông Huyền đạo hựu huyền.

Thần thông kiêm biến hóa,

Nhất Phật nhất thần tiên.)

Sư nổi tiếng khắp thiên hạ, tăng tục đều quí kính. Vua Nhân Tông mỗi khi ra chơi hành cung Hải Thanh đều ghé chùa thăm Sư.

Một hôm Vua hỏi: Phép chân thần túc có thể được nghe chăng?

Sư liền hiện tám phép thần biến: Thân vọt lên hư không cách đất vài trượng, chợt lại trở xuống…

Vua và quần thần vỗ tay khen ngợi. Từ đó Vua ban cho Sư tự do ra vào cung vua.

Đến đời vua Lý Thần Tông (1128-1138), nhiều lần triệu vào cung, nhưng Sư từ chối viện cớ già bệnh chẳng đến được.

Có vị Tăng hỏi: Phật và chúng sanh ai khách ai chủ? Sư dùng bài kệ đáp:

Gái để chỏm đầu bạc,

Bảo ông, tác giả biết.

Nếu hỏi cảnh giới Phật,

Long môn bị điểm trán.

(A giác nữ đầu bạch,

Báo nhĩ tác giả thức.

Nhược vấn Phật cảnh giới,

Long môn tao điểm ngạch.)

Lúc sắp tịch, Sư gọi chúng nói kệ:

Xuân về hoa bướm gặp nhau đây,

Hoa bướm phải cần họp lúc này.

Hoa bướm xưa nay đều là huyễn,

Giữ tâm bền chặt bướm hoa thây.

(Xuân lai hoa điệp thiện tri thì,

Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ.

Hoa điệp bản lai giai thị huyễn,

Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.)

Đêm ấy có ngôi sao lớn rơi xuống góc Đông Nam thất Sư, Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch. Vua hạ chiếu quyên ba mươi hộ để cúng hương hỏa. Hai đứa con Sư cũng được ân thưởng làm quan.

Thờ tự


Di tích lịch sử văn hóa chùa Viên Quang được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng năm 1991, thuộc làng Nghĩa Xá – Xuân Ninh – Xuân Trường – Nam Định là nơi thiền sư Giác Hải trụ trì và viên tịch. Chùa có lối bài trí tiền Phật hậu Thánh. Tại đây còn lưu giữ tấm bia đá “Viên Quang tự bi minh tính tự” do Dĩnh Đạt soạn đề năm Thiên Trù Duệ Vũ thứ ba (1122) ca ngợi công đức ngài Giác Hải. Ban đầu thời Lý, chùa dựng ở vạn Giao Thủy, hương Hải Thanh, tên chữ Diên Phúc, vua Lý Anh Tôn đổi làm Viên Quang sau dời đổi về xứ Bát Dương phủ Xuân Trường (ngày nay là khu vực Nam Hồng – Nam Trực – Nam Định) đến năm 1866 sông xói lở nhân dân dời về khu Lục Cơ – Hộ Xá sau đổi Nghĩa Xá – Xuân Trường- Nam Định.Theo Ngô Vi Liễn thì chùa còn có tháp mộ thờ ngài Nguyễn Minh Không.

Làng Yên Vệ thuộc xã Khánh Phú huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Nơi đây có đền thượng và chùa Phúc Long, là một quần thể kiến trúc có giá trị về lịch sử và văn hoá. Chùa Phúc Long thờ Phật và thờ Tiên thiên Thánh Mẫu, mẹ của Giác Hải thiền sư. Đền Thượng thờ tam thánh: Giác Hải, Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không. Lễ hội làng Yên Vệ hàng năm được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng giêng là ngày giỗ của Giác Hải, sau khi tế thánh có thi đấu vật.

Tham khảo


  • Sách “Thiền sư Việt Nam”, Thích Thanh Từ, DL 1999 – PL 2543

  • https://vi.wikipedia.org
Chấm điểm
Chia sẻ
Thiền sư Giác Hải

Nội dung chính

Hình ảnh
Địa điểm liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

pexels4035926