Thân thế
Thông Giác Thủy Nguyệt (năm 1637 – ngày 6 tháng 3 năm 1704), còn có hiệu là Đạo Nam Quốc sư, là Thiền sư thời Lê trung hưng, thuộc đời thứ 36 tông Tào Động và là Sơ Tổ của Tào Động tông tại miền Bắc Việt Nam.
Sư họ Đặng, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam (nay là thôn Thanh Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Lớn lên, sư theo học Nho giáo. Đến 18 tuổi, sư thi đậu Cống cử tứ trường và được chọn làm quan.
Đến năm 20 tuổi, sư chán cảnh đời bọt bèo dâu bể, nguyện ý tu hành. Sư tìm đến chùa xã Hỗ Đội, huyện Thụy Anh xin xuất gia học đạo. Ở đây sáu năm nghiền ngẫm kinh sách, sư chưa thỏa mãn, xin phép thầy đi du phương tham vấn.
Quá trình tu tập
Sư tham vấn hết các bậc tôn túc trong nước, mà tâm chưa sáng đạo. Tháng 3 năm Giáp Thìn (1664) niên hiệu Cảnh Trị triều Lê, khi 28 tuổi, sư cùng hai đệ tử lên đường sang Trung Quốc tầm sư học đạo.
Đường đi vất vả nhọc nhằn, vừa tới tỉnh Cao Bằng thì một người đệ tử mắc bệnh nặng, thuốc thang không khỏi đã qua đời. Sư chôn cất bên vệ đường và dặn rằng: “Nay ngươi sức mỏi không thể theo ta được, thôi tạm nghỉ nơi đây, khi ta ngộ đạo trở về sẽ tế độ cho ngươi.” Từ đây chỉ còn một thầy một trò mang theo bình bát, quyết chí hành hương sang đất Bắc.
Năm 1665, hai thầy trò đến đất Châu Hỗ cũ, hết bao tháng ngày lội lặn đến thăm các tùng lâm danh tiếng mà túc duyên chẳng hợp. Sư đang băn khoăn trong lòng, không biết phải tìm đến đâu? Một hôm Sư lên núi nằm nghỉ trên tảng đá lớn, bỗng mộng thấy một cụ già khí sắc trang nghiêm, tinh thần thanh sảng, đi đến trước ngâm rằng:
“Điểu hoàng phong hạ lưỡng miên man
Ly khảm gia phu hữu túc duyên
Tảo thoát dục thinh vô thượng khúc
Đãng nhai đảnh lễ yết tôn nhan.”
Tỉnh dậy, sư đem việc này bàn với đệ tử rằng: Ở trong câu, trên chữ Phong có chữ Điểu chữ Hoàng, tức là Phượng Hoàng; câu giữa có chữ Ly chữ Khảm, Ly là hỏa thuộc về Nam, Khảm là thủy thuộc về Bắc, tức là Nam Bắc. Câu kết có chữ Đãng Nhai, chữ Nhai hai chữ Thổ chồng lên nhau, thêm chữ Thạch ở giữa Đãng, tức là núi cao. Đây đúng là thần nhân báo cho ta biết ta có duyên với núi Phụng Hoàng cao, muốn nghe tiếng pháp vô thượng phải lên núi ấy đảnh lễ bậc tôn túc. Lập tức, hai thầy trò lại mang hành lý đi tìm các nơi hỏi thăm núi Phụng Hoàng, quanh quẩn mất hơn một tháng mới tới nơi. Ở đây chùa điện nguy nga, núi cao chót vót, tưởng chừng như núi Linh Thứu khi xưa hiển hiện nơi đây. Đến đây lòng sư nửa mừng nửa sợ, mừng là được thần giúp, sợ là vì ngôn ngữ bất đồng khó khăn cho việc thưa hỏi. Đến cổng Tam Quan, sư liền viết họ tên và chỗ ở trình lên cho vị Tăng gác cổng xin yết kiến Hòa thượng Tôn sư. Vị Tăng này bảo: “Bắc Nam hai ngả, nói năng không hợp, tuy là đạo vẫn đồng đường, song lẽ đâu mới đến lại được xông xáo như thế.”
Bấy giờ, sư xin ở nhờ ngoài cổng Tam Quan, ban ngày học tiếng Hoa, ban đêm tọa thiền. Qua ba tháng, sư nói được tiếng Trung Quốc. Đến ngày mùng một đầu tháng, sư xin được yết kiến ngài Thượng Đức. Vị Tăng ấy bảo: “Đạo ở phương Nam hơi giống phương Bắc, vậy muốn yết kiến hãy viết biểu đưa tôi vào bạch trước, xem có được không.” Sư nghe qua liền viết tờ biểu: “… con trước đã theo thầy thụ nghiệp ở nước nhà, song chưa rõ tông chỉ tinh vi uyên áo, cho nên không ngại trèo đèo lội suối trải qua nghìn dặm xa xôi, chỉ mong gặp được nhân duyên ngộ đạo, cúi mong Phương trượng Đại hòa thượng thuyền từ rộng chở mọi người xa gần đều qua khỏi sông mê…” Sư trao tờ biểu dâng lên Hòa thượng.
Hòa thượng xem qua, cảm nhận được lời lẽ khẩn khoản và thấu rõ nguyên nhân, tuy chưa thấy mặt mà đã rõ tình ý trong lời, bèn bảo vị Tăng giữ cửa dẫn sư vào. Sư theo vị Tăng dẫn đến Tăng phòng, thấy Hòa thượng ngồi kiết già giữa nhà rất đoan nghiêm, Tăng chúng đứng hầu hai bên rất chỉnh túc. Sư đảnh lễ Hòa thượng rồi, quỳ thẳng chắp tay trước Hòa thượng.
– Hòa thượng cất tiếng hỏi: Trước khi cha mẹ chưa sanh, trong ấy cái gì là bản lai diện mục của ngươi?
– Sư thưa: Mặt trời sáng giữa hư không.
– Hòa thượng nói: Ba mươi gậy, một gậy không tha.
Sư lại lễ rồi cuốn chiếu. Hòa thượng bảo: Cho ngươi nhập chúng, tùy theo chúng tham vấn.
Trong cuốn Thiền uyển truyền đăng lục do Sa môn Từ Sơn (Đệ tử của Thiền sư Chân Dung Tông Diễn) soạn có chép về một đoạn đối đáp giữa Hòa thượng Thủy Nguyệt Thông Giác khi tham yết với Tổ Nhất Cú rằng:
“Cú hỏi: “Ngươi nương nơi nào để an thân lập mạng?”
Nguyệt đáp: “Trong lửa gió nổi lên, trên sóng nước vẫn an nhiên.”
Tổ hỏi: “Ngày đêm bảo nhiệm là thế nào?”
Nguyệt đáp: “Giờ ngọ ngôi sao hiện, nửa đêm mặt trời hồng”
Tổ hỏi: “Ngươi an thân lập mạng như thế, vậy cái diện mục nó thế nào?”
Nguyệt đáp: “Bóng cỏ run cần trúc, tên nhọn nên bắn ra.”
Tổ bảo: “Chớ bỏ qua con rắn hai đầu, xỏ được lỗ mũi rắn. Cẩn thận, cẩn thận. Đây là con cháu giỏi của gia phong Tào Động, cho ngươi pháp danh là Thông Giác, nối dòng chánh của ta.””
Từ đó, ngày thì sư làm việc tùng lâm, đêm thì nghiên cứu kinh luật, chuyên cần không hề lười trễ. Được một năm, sư muốn cầu thọ giới Tỳ Khâu liền lên phương trượng đảnh lễ Hòa thượng, quỳ thưa: “Trong cửa Phật có ba môn học, lấy giới làm đầu, cúi xin Hòa thượng cho con được thọ giới cụ túc.” Hòa thượng dạy: “Muốn thọ giới cụ túc phải sắm đủ bảy vật (cà sa, bình bát… ), đến tháng tư mới đăng đàn truyền giới.” Đến ngày mùng 8 tháng 4, Hòa thượng thiết lập đàn tràng có đủ tam sư thất chứng, bạch tứ yết-ma, truyền giới cho sư. Lúc bấy giờ, sư được 30 tuổi.
Sau 6 năm, Hòa thượng gọi sư vào hỏi: Đã thấy tánh chưa?
Sư ra lễ bái, trình kệ:
Viên minh thường tại thái hư trung
Cương bị mê vân vọng khởi lung.
Nhất đắc phong xuy vân tứ tán,
Hằng sa thế giới chiếu quang thông.
Tức:
Sáng tròn thường ở giữa hư không
Bởi bị mây mê vọng khởi lồng
Một phen gió thổi mây tứ tán
Thế giới hà sa sáng chiếu thông.
Hòa thượng đưa tay điểm trên đầu sư cho hiệu là Thông Giác Đạo Nam Thiền sư và bài kệ để về Việt Nam truyền thông Tào Động:
Tịnh Trí Thông Tông
Từ Tính Hải Khoan
Giác Đạo Sinh Quang
Chính Tâm Mật Hạnh
Nhân Đức Vi Lương
Tuệ Đăng Phổ Chiếu
Hoằng Pháp Vĩnh Trường.
Hòa thượng lại dạy: “Ngươi về nên tinh tấn làm Phật sự, giảng nói đề cao chánh pháp, không nên chần chờ để tâm theo với vọng trần, trái lời Phật, Tổ dặn dò; ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay tôi cho một bài kệ để gắng tiến:
Quế nham suy phức tục truyền đăng
Thu nhập trường không quế bích đằng
Trì nhĩ viễn lai khai bảo kính
Từ dư quy khứ thị kim thằng.
Thùy thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết
Cáp thụ An Nam nhất cá tăng
Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi
Hạo tùng thiên tế thức tăng hằng.”
Tức:
Rừng quế gương đưa đèn nối sáng
Thu về đâu đấy ngát mùi hương
Vì người xa đến treo gương báu
Từ biệt ta về chỉ sợi vàng.
Ai vào núi Phượng nghìn trùng tuyết
Dường có An Nam một vị tăng
Nửa đêm áo gấm ra sau núi
Như ở chân trời thấy mặt trăng.
Hoằng truyền Phật pháp
Hai thầy trò Thiền sư Thủy Nguyệt – Thông Giác đi mất năm tháng mới về tới tỉnh Cao Bằng, đi vào đường cũ ghé lại mộ người đệ tử đã mất lúc trước. Thầy trò tạm dựng lều cỏ, thiết lập bàn Phật tụng kinh siêu độ, được ba ngày thì bỗng nhiên trên mộ mọc một đóa hoa sen. Bấy giờ nhân dân thấy điều lạ đua nhau đến xem khác nào thắng hội. Nhiều người phát tâm thỉnh sư cúng dường trai phạn, hoặc cầu xin quy y thọ giới. Trải qua một tháng mới về đến Côn Sơn, sư thấy cảnh non xanh nước biếc rất thích, liền lên chùa lễ Phật.
Sư đi khắp các danh thắng, từ chùa Vọng Lão núi Yên Tử đến chùa Quỳnh Lâm. Sau sư tới Đông Sơn ở huyện Đông Triều, trên Thượng Long đã có vị cao Tăng trụ trì rồi (Tuệ Nhãn Thiền sư), sư bèn dừng trụ ở Hạ Long để khuông đồ lãnh chúng. Có khi sư lên ngọn núi đàm đạo với vị cao Tăng thật là tương ứng. Sư ở đây không bao lâu dân chúng đến nghe pháp và quy y rất đông. Kể cả những vị thân hào nhân sĩ, tăng chúng đua nhau tấp nập kéo đến tham vấn, trong số đó có Thiền sư Tông Diễn. Khi đó ngài đang trụ trì chùa Đông Sơn, nghe Thiền sư Thủy Nguyệt tu học từ Trung Quốc đắc đạo trở về ở chùa Vọng Lão núi Yên Tử, ngài liền tới đỉnh lễ cầu pháp. Thiền sư Thủy Nguyệt hỏi: “Như khi ta đang nghỉ, đợi đến bao giờ có tin tức?” Sư đáp: “Đúng ngọ thấy bóng tròn, giờ Dần mặt trời mọc.” Thiền sư Thủy Nguyệt hỏi: “Bảo nhậm thì phải thế nào?” Ngài Tông Diễn bèn dâng kệ:
“Cân có muôn duyên có
Ứng không tất cả không
Có không hai chẳng lập
Ánh nhật hiện lên cao.”
Thiền sư Thủy Nguyệt bước xuống bảo: “Tào Động hợp quân thần, tiếp nối dòng của ta, nên cho ngươi pháp danh Tông Diễn hiệu Chân Dung”. Ngài nói kệ trao pháp:
“Tất cả pháp chẳng sinh
Tất cả pháp chẳng diệt
Phật Phật, Tổ Tổ truyền
Uẩn không sen đầu lưỡi.”
Từ đó, Thiền sư Chân Dung – Tông Diễn trở thành đệ nhị Tổ của Thiền phái Tào Động ở miền Bắc Việt Nam.
Viên tịch
Một hôm sư ngồi tựa ghế thấy con chim xanh bay đến, liền giác biết tự ngâm:
Xuân hoa khai liễu phục thu sương
Phù thế ninh năng đắc cửu trường.
Tranh tự tiêu dao thiên ngoại thích
Càn khôn ư thử hữu hà phương.
Tức:
Hoa Xuân nở hết lại sương thu
Phù thế cuộc đời khó bền lâu
Ra thẳng ngoài trời cho thỏa chí
Càn khôn nơi ấy có chừng đâu.
Sau đó, sư lên Thượng Long nói với thiện hữu rằng: “Nay tuổi của tôi đã già, năm tháng dài lâu, nay là thời thanh bình an ổn, tôi muốn cùng Thầy lên núi nhập Niết bàn.” Thiện hữu nói: “Đạo quả của huynh nay đã chín muồi xin hãy về nghỉ ngơi trước, tôi còn ở lại cõi đời để độ những kẻ có duyên, đến khi đạo quả viên thành, tôi sẽ cùng theo huynh chẳng muộn.” Chiều hôm ấy, sư trở về chùa, cho gọi Tông Diễn đến, nói kệ:
Thủy xuất đoan do tẩy thế trần
Trần thanh thủy phục nhập nguyên chân.
Dữ quân nhất bát cam lồ thủy,
Sái tác ân ba độ vạn dân.
Tức:
Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần
Sạch rồi nước lại trở về chân
Cho ngươi bát nước cam lồ quý
Ân tưới chan hòa độ vạn dân.
Và tiếp bài kệ truyền pháp:
Sơn chức cẩm thủy họa đồ
Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô
Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ
Ba trung bích thủy điệp quần hô.
Nguyệt bạch đường đường ngư phủ túy
Nhật hồng cảnh cảnh kiển bà bô.
Tức:
Núi dệt gấm, nước vẽ hình
Suối ngọc chảy, tuôn rượu đà tô.
Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót
Nước trong sóng biếc cá Điệp nhào.
Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ
Trời soi rừng rực kén nằm nhô.
Sư bảo tứ chúng rằng: “Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm thì ta ở đấy.”
Tứ chúng bùi ngùi mà không dám theo. Đợi đúng bảy ngày không thấy sư trở về, tứ chúng cùng nhau kéo lên núi Nhẫm Dương nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, mọi người tìm đến một cái hang thấy sư ngồi kiết già trên tảng đá trong hang. Thân thể sư mềm mại, xông ra mùi thơm giống hương trầm bạch đàn. Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hòa thứ hai mươi, đời vua Lê Hy Tông (1704), sư thọ 68 tuổi. Tứ chúng thỉnh nhục thân sư về hỏa táng chia linh cốt thờ hai nơi, một ở chùa Hạ Long, một ở hang núi Nhẫm.
Chùa Nhẫm Dương có khoảng gần 30 hang động lớn nhỏ tạo thành một cảnh Phật toàn bích. Nơi được cho là chỗ Sư tổ Thủy Nguyệt thiền định nhập cõi Niết Bàn, phía trên đầu vẫn lưu giữ một vệt lõm sâu đúng bằng đầu người và phía dưới là một vết lõm giống như bàn chân người. Theo truyền ngôn, khi Sư tổ Thủy Nguyệt đắc đạo Kim Cương đã thúc đầu, đạp chân vào núi đá nhằm lưu lại thánh tích ở cõi Sa Bà, nên động có tên gọi Thánh Hoá (?).
Tài liệu tham khảo
1. Thích Thọ Lạc, Chu Văn Tuấn (Đồng chủ biên), 2020, Thiền phái Tào động Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.
2. Sa môn Như Sơn (2015), Thiền uyển kế đăng lục, Thích Thiện Phước dịch, Nxb Hồng Đức.
3. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Quảng Đức tùng thư ấn hành, 2022.


