Từ Tuyên Thái Phi Trương Thị Ngọc Chử (1666 – 1750)

Từ Tuyên Thái Phi Trương Thị Ngọc Chử (1666 – 1750)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Bà Ngọc Chử sinh ngày 26 tháng 4 năm 1666 tại làng Như Kinh (còn gọi là làng Ghênh), thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc; nay thuộc địa bàn xã Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Bà là vợ của Tấn Quang Vương Trịnh Bách. Tấn Quang Vương Trịnh Bách là con trai của Lương Mục Vương Trịnh Vịnh, đồng thời là cháu đích tôn của Chiêu Tổ Khang Vương Trịnh Căn.

Sự nghiệp

Khi chúa Trịnh Cương lên ngôi chúa, tôn bà Chử làm Thái phi, tục gọi là bà chúa Ghênh; còn bà Cảo làm Phu nhân, tục gọi là bà vú Khe, nên dần có câu phương ngôn lưu truyền trong dân gian Ghênh đẻ, Khe nuôi.Năm 1686 khi mới 17 tuổi, bà sinh con trai là Trịnh Cương. Đến năm 1697, lúc 28 tuổi, bà được triều đình tiến phong làm Chính phi của Trịnh Bính.

Năm 1702, Tấn Quang Vương Trịnh Bính đột ngột qua đời khi bà Ngọc Chử 33 tuổi, lúc này chúa Trịnh Cương mới 16 tuổi. Trước việc con và cháu lần lượt mất sớm, Chúa Trịnh Căn vô cùng đau buồn, do dự chưa quyết định người kế nghiệp. Ông cho triệu đại thần Liêm Quận Công Nguyễn Quý Đức vào hỏi ý kiến. Nguyễn Quý Đức tâu rằng việc gánh vác cơ nghiệp và trấn an thiên hạ là trọng trách lớn, cần giao cho người chắt (tằng tôn) thuộc dòng đích theo điển lệ, danh phận đã rõ ràng, nên sớm định để tránh sự tranh giành, dòm ngó.

Theo đó, vào tháng Giêng năm 1703, triều đình chính thức tấn phong Trịnh Cương làm Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh, kiêm Tổng chính cơ, Thái úy, tước An Quốc công, đồng thời cho mở phủ Lý Quốc.

Qua đời

Đến đời cháu là Trịnh Giang (Đức Dụ Tổ) và Trịnh Doanh (Đức Nghị Tổ Ân Vương), bà Ngọc Chử được tôn phong là Huy Nhu Thuần Đức Thái Tôn Thái phi. Bà mất ngày 28 tháng 8 năm 1750, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 11, thọ 82 tuổi.

Ban đầu, mộ của bà được an táng tại làng Dương Quang (Gia Lâm), sau đó cải táng về làng Bái Nhi, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Gia đình

Bà Trượng Thị Ngọc Chử là con gái trưởng của cụ Diên Khánh Công Trương Dự, chị gái của Thiêm quận Công Trương Nhưng, Phấn quận công Trương Nhiêu (Nhượng).

Cụ Trương Dự, cha của bà Ngọc Chử là con trai thứ ba của cụ Quán quận công Trương Lực. Cụ Trương Dự tự là Phúc Lâm, được vua ban cho tên thụy là Đôn Cẩn, từng giữ chức Đô đốc phủ, Tả đô đốc Thái Tể rồi được phong Diên Khánh công. Cụ sinh năm Tân Tỵ (1641) mất ngày 24, tháng 8, năm 1717, thọ 76 tuổi được tặng phong Ôn hậu lạc thiện Tuy Phúc diễn Đôn tín Dụ hầu Như hoà Tuyên thiết Trang tức Diên Khánh Công.

Cụ Lê Thị Ba, mẹ bà Ngọc Chử, hiệu Diệu Liên, được phong Quận phu nhân rồi Thái phu nhân. Cụ là con gái quan Thái bảo Tuấn quận công Lê Phúc Vinh, người giáp Thọ Khang, xã Đình Luân nay là làng Đình Loan, xã Tân Quang. Cụ Lê Thị Ba và mẹ bà nhũ mẫu Nguyễn Thị Cảo (phu nhân của Quận Công Nguyễn Gia Đa) là chị em ruột.

Cả thảy bà Ngọc Chử sinh 3 người con (1 trai, 2 gái): Chúa Trịnh Cương và Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Thung, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ.

Hoạt động công đức cho các chùa qua một số văn bia.

Sinh thời Thái Phi Trương Thị Ngọc Chử đã phát tâm cúng dường xây chùa, hiện nay còn không ít bia hậu ghi lại hành trạng của bà như:

Bia Hàm Long tự bi kí dựng Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) nội dung ghi việc vương Thái phi họ Trương đứng ra quyên góp trùng tu chùa Hàm Long, một thắng cảnh của Long Biên. Được chúa Trịnh ban cho tiền bạc và sự đóng góp của đông đảo thiện tín, trong đó gồm cả nhiều vị trong Vương phủ như các quận chúa Trịnh Thị Ngọc Yên, Ngọc Kì, Ngọc Quỹ, Ngọc Dung, công việc trùng tu đã hoàn thành tốt đẹp.

Giai thoại

Truyền thuyết “Ghênh đẻ Khe nuôi”

Chúa Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn ở ngôi từ 1682 đến 1709 lập con trưởng Lương Mục vương Trịnh Vịnh làm thế tử. Không may thế tử mất sớm, chúa lập cháu trưởng Tấn Quang vương Trịnh Bính kế ngôi thái tử. Một lần thế tử dẫn quân đi Hải Đông, lúc về qua làng Ghênh thấy người con gái vừa cắt cỏ vừa hát: “Tay cầm bán nguyệt xênh xang/ Hai hàng cây cỏ lai hàng tay ta”. Thấy người con gái trẻ đẹp, lao động nhanh nhẹn, thế tử đem lòng yêu mến liền kén vào cung làm phi. Ít lâu sau phi tử ấy sinh con trai, đó là chúa Trịnh Cương sau này. Không may bà phi Trương Thị Ngọc Chử bị mất sữa, Trịnh Cương khóc ngằn ngặt suốt ngày đêm, ai bế dỗ cũng không được khiến phủ chúa cũng mất ăn mất ngủ theo. Khi ấy bà phi có cô em con dì ruột là Nguyễn Thị Cảo lấy chồng về làng Khe cũng vừa sinh con nên mời vào cung nuôi con cùng. Bà Cảo thương chị thương cháu nhận lời. Ai dè bà Cảo vừa đón cháu lên tay thì Trịnh Cương đã nín khóc đòi bú ngay. Từ đó bà Cảo ở lại trong cung nuôi con nuôi cháu. Trịnh Cương quyến luyến vú và em không rời.

Năm Trịnh Cương mười bảy tuổi thì người cha qua đời. Chúa Chiêu tổ Khang vương lập chắt làm thế tử, được mở phủ Lý Quốc riêng. Mấy năm sau chúa Chiêu tổ Khang vương qua đời, thế tử nối ngôi là chúa Hi tổ Nhân vương. Chúa phong mẹ làm thái phi, tục gọi là “bà chúa Ghênh”. Bà Cảo được phong là phu nhân, tục gọi là “bà vú Khe”. Dân gian lưu truyền phương ngôn “Ghênh đẻ Khe nuôi” là từ tích này.

Truyền thuyết “đường vào phủ chúa”

Thời Lê có gia đình phú hộ làng Tướng (nay là Thanh Tương, Thuận Thành) đón thầy địa lý về tìm đất quý đặt mộ mong con cháu vinh hiển. Thầy tìm được đất liền bẻ cành cây đánh dấu, dặn ba ngày sau cành lá vẫn tươi thì táng mộ vào sẽ phát đến công khanh. Không ngờ có người thợ cày ngồi nghỉ giải lao ở bụi cây gần đó nghe được. Chờ mọi người đi khỏi, người thợ cày nhổ cành cây cắm ra chỗ khác. Ba ngày sau người phú hộ ra xem cành cây thấy khô héo thì không để ý huyệt đất đó nữa. Người thợ cày bí mật táng hài cốt cha vào nơi thầy địa lý cắm cành cây. Từ đó gia đình này làm ăn khấm khá dần. Đặc biệt, nhà sinh được một gái tên Nguyễn Thị Cảo xinh đẹp, hát hay, lấy được chồng là cấm quân bảo vệ phủ chúa, tên Nguyễn Gia Đa ở làng Khe. Ít lâu sau bà sinh con trai, tên Nguyễn Gia Châu, cùng thời điểm người chị con nhà già là thái tử phi Trương Thị Ngọc Chử sinh thế tử Trịnh Cương nhưng bị mất sữa nên đã được mời vào phủ chúa nuôi cùng. Khi thế tử lên ngôi chúa đã phong vú nuôi là phu nhân, phong Nguyễn Gia Đa là Bỉnh quận công. Đặc biệt người em Nguyễn Gia Châu trở thành tướng tài thân tín, được phong Siêu quận công, nhiều năm trấn thủ đất phên giậu Nghệ An bình yên, tước lộc như chúa lưu đồn, lúc mất được phong Ý Túc đại vương cho dân thờ. Con cháu Siêu quận công nhiều người được phong quận công và hầu tước, trong đó có cháu nội Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều là danh nhân văn hóa.

Chuyện bà Ngọc Chử vào cung cũng liên quan đến việc đặt mộ. Bấy giờ họ Trương nhà nghèo, bán nước ven đường kiếm sống. Một hôm có vị đạo sĩ vào quán được họ Trương chào mời rất cung kính. Đạo sĩ cảm ơn lòng tốt bằng cách chỉ cho huyệt đất quý. Xong việc đạo sĩ chỉ bảo họ Lã ở đầu ngõ Hàng Nghiên. Họ Trương tìm đến tạ lễ nhưng không có ai họ Lã, chỉ có miếu thờ Thuần Dương tổ sư, tên hiệu của Lã Đồng Tân, mới biết nhà được tiên ông ban phúc. Sau đó họ Trương sinh ra Ngọc Chử, người có duyên may gặp được Tấn Quang vương mê người mê nết và giọng hát hay, được kén làm phi.

Truyền thuyết “bà Đỏ bà Trắng” chùa Dâu

 Hai chị em Trương thái phi và Nguyễn phu nhân khi được vinh hiển liền nghĩ đến quê hương. Gốc phát tích từ vùng Dâu, nơi có ngôi chùa thờ Tứ Pháp. Thế là hai bà mua ruộng vùng Nghĩa Trụ cúng chùa hàng trăm mẫu. Hai bà được dân bầu Hậu chùa, có tượng thờ. Tượng Trương thái phi sơn màu trắng điệp gợi da thịt nõn nà quý phái. Cổ tay chạm vòng cườm dấu hiệu hoàng tộc. Tượng Nguyễn phu nhân vẻ phúc hậu, sơn màu nâu đỏ, một quan niệm dân gian biểu hiện tốt sữa. Dân gian quen gọi là bà Trắng bà Đỏ. Trong hội Dâu, tượng hai bà được rước ngay sau tượng Pháp Vân, bà cả của Tứ Pháp. Có câu ca:

Tượng cụ Hậu rước sau Tứ Pháp

Dân kéo theo để đáp ơn người.”

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Ngôn khữ khác

Tiếng Anh

Background

Truong Thi Ngoc Chu was born on 26 April 1666 in Nhu Kinh village (also known as Ghenh village), Gia Lam district, Thuan An prefecture, Kinh Bac region; today part of Nhu Quynh commune, Van Lam district, Hung Yen Province.

She was the wife of Tan Quang Vuong Trinh Bach, the son of Luong Muc Vuong Trinh Vinh and the paternal grandson of Chieu To Khang Vuong Trinh Can.

Career

When Trinh Cuong ascended as lord, he honored Ngoc Chu as Thai Phi, popularly called Ba Chua Ghenh; meanwhile, Ba Cao was titled Phu Nhan, popularly called Ba Vu Khe. From this arose the folk saying “Ghenh gives birth, Khe raises.”
In 1686, at the age of seventeen, she gave birth to a son, Trinh Cuong. In 1697, at the age of twenty-eight, she was promoted by the court to Principal Consort of Trinh Binh.

In 1702, Tan Quang Vuong Trinh Binh died suddenly when Ngoc Chu was thirty-three, at which time Trinh Cuong was only sixteen. Having lost both son and grandson in succession, Trinh Can was deeply grieved and hesitated over the succession. He summoned the grand minister Nguyen Quy Duc for counsel. Nguyen Quy Duc advised that the burden of preserving the realm and pacifying the realm was of supreme importance and should be entrusted to a great-grandson of the legitimate line, whose status was already clear by precedent, and that the decision should be made early to prevent contention.

Accordingly, in the first lunar month of 1703, the court formally invested Trinh Cuong as Imperial Commissioner with Supreme Command over All Naval and Land Forces, concurrently Chief Administrator, Grand Preceptor, and Duke of An Quoc, and established for him the Ly Quoc residence.

Death

By the time of her grandson Trinh Giang (honored posthumously as Duc Du To) and her great-grandson Trinh Doanh (Duc Nghi To An Vuong), Ngoc Chu was posthumously honored as Huy Nhu Thuan Duc Thai Ton Thai Phi. She died on 28 August 1750, in the 11th year of the Canh Hung era, at the age of eighty-two.

Initially, her tomb was located at Duong Quang village (Gia Lam). It was later reinterred at Bai Nhi village, Yen Dinh district, Thanh Hoa Province.

Family

Truong Thi Ngoc Chu was the eldest daughter of Dien Khanh Cong Truong Du, elder sister of Thiem Quan Cong Truong Nhung and Phan Quan Cong Truong Nhieu (Nhuong).

Her father Truong Du, courtesy name Phuc Lam, was the third son of Quan Quan Cong Truong Luc. He was posthumously titled Don Can, served as Commander of the Grand Commandery, Left Grand Commander, and Grand Preceptor, and was ennobled as Dien Khanh Cong. Born in the Xin Si year (1641), he died on the 24th day of the 8th lunar month in 1717 at the age of seventy-six, receiving an elaborate posthumous honorific.

Her mother, Le Thi Ba, style name Dieu Lien, was first titled Commandery Lady and later Grand Lady. She was the daughter of Thai Bao Le Phuc Vinh of Tho Khang, Dinh Luan commune (now Dinh Loan village, Tan Quang commune). Le Thi Ba and the wet nurse Nguyen Thi Cao (wife of Nguyen Gia Da) were full sisters.

Ngoc Chu bore three children in total—one son and two daughters: Lord Trinh Cuong, Princess Trinh Thi Ngoc Thung, and Princess Trinh Thi Ngoc Co.

Meritorious Religious Activities Recorded on Steles

During her lifetime, Dowager Consort Truong Thi Ngoc Chu devoted herself to sponsoring the construction and restoration of temples. Numerous hau steles still record her benefactions, including the Ham Long Temple Stele erected in the 10th year of Vinh Thinh (1714), which recounts how the Dowager Consort of the Truong clan led donations to renovate Ham Long Temple, a celebrated scenic site of Long Bien. With financial support granted by the Trinh lord and contributions from many devotees—including princesses of the Trinh household such as Trinh Thi Ngoc Yen, Ngoc Ki, Ngoc Quy, and Ngoc Dung—the restoration was successfully completed.

Anecdotes and Legends

The Legend of “Ghenh Gives Birth, Khe Raises”

During the reign of Chieu To Khang Vuong Trinh Can (1682–1709), his eldest son Luong Muc Vuong Trinh Vinh was appointed heir apparent. After the heir died young, his eldest grandson Tan Quang Vuong Trinh Binh was named successor. On one occasion, while returning from a military expedition to Hai Dong, the heir passed through Ghenh village and saw a young woman cutting grass and singing. Struck by her beauty and diligence, he brought her into the palace as a consort. She later gave birth to Trinh Cuong. When she lost her milk, the infant cried incessantly until her maternal cousin Nguyen Thi Cao, recently delivered and living in Khe village, was invited to nurse him. From then on, Cao remained in the palace to raise both her own child and her nephew, giving rise to the enduring proverb.

The Legend of “The Road into the Lord’s Palace”

Another tale links Ngoc Chu’s entry into the palace with geomancy and fate, recounting how her impoverished Truong family received guidance from a Daoist immortal—later revealed as Lu Dong Tan—who pointed out an auspicious burial site, thereby bringing fortune to their descendants. Ngoc Chu later met Tan Quang Vuong, who was captivated by her character and singing voice and chose her as his consort.

The Legend of “Ba Do and Ba Trang” at Dau Pagoda

After attaining honor, Truong Thai Phi and Nguyen Phu Nhan remembered their homeland in the Dau region, donating hundreds of mau of land to Dau Pagoda. They were venerated as Hau of the pagoda, with statues depicting Truong Thai Phi in white (Ba Trang) and Nguyen Phu Nhan in reddish brown (Ba Do). During the Dau Festival, their statues are carried immediately after that of Phap Van, commemorated in the folk verse: “After the Four Dharma the Hau statues are borne,
The people follow behind to repay their benefactors.”

References

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Pháp

Tu Tuyen Thai Phi Truong Thi Ngoc Chu (1666–1750)

Origines

Truong Thi Ngoc Chu naquit le 26 avril 1666 dans le village de Nhu Kinh (également appelé village de Ghenh), relevant du district de Gia Lam, préfecture de Thuan An, région de Kinh Bac ; ce territoire correspond aujourd’hui à la commune de Nhu Quynh, district de Van Lam, province de Hung Yen.

Elle fut l’épouse de Tan Quang Vuong Trinh Bach. Tan Quang Vuong Trinh Bach était le fils de Luong Muc Vuong Trinh Vinh et le petit-fils aîné en ligne directe de Chieu To Khang Vuong Trinh Can.

Parcours et statut

Lorsque Trinh Cuong monta sur le trône seigneurial, il honora sa mère Ngoc Chu du titre de Thai phi, communément appelée « ba chua Ghenh » ; quant a Cao, elle fut élevée au rang de Phu nhan, connue sous le nom de « ba vu Khe ». C’est de là que provient le proverbe populaire : Ghenh sinh, Khe nuoi (« Ghenh enfante, Khe nourrit »).

En 1686, à l’âge de dix-sept ans, elle mit au monde un fils, Trinh Cuong. En 1697, à vingt-huit ans, elle fut officiellement promue Chinh phi de Trinh Binh par la cour.

En 1702, Tan Quang Vuong Trinh Binh mourut subitement, alors que Ngoc Chu était âgée de trente-trois ans et que Trinh Cuong n’avait que seize ans. Accablé par la perte successive de son fils et de son petit-fils, Trinh Can fut profondément endeuillé et hésita à désigner un successeur. Il convoqua alors le grand mandarin Liem Quan Cong Nguyen Quy Duc afin de solliciter son avis. Nguyen Quy Duc répondit que la charge de préserver l’héritage politique et de stabiliser le pays était une responsabilité majeure, qui devait être confiée à un arrière-petit-fils issu de la lignée directe conformément aux usages, dont le statut était clairement établi ; il convenait donc de trancher rapidement afin d’éviter rivalités et convoitises.

Ainsi, au premier mois de l’année 1703, la cour proclama officiellement Trinh Cuong Kham sai tiet che cac xu thuy bo chu doanh, cumulant les fonctions de Tong chinh co et Thai uy, et lui conféra le titre d’An Quoc cong, tout en autorisant l’ouverture du palais de Ly Quoc.

Décès

Sous le règne de son petit-fils Trinh Giang (Duc Du To) et de son arrière-petit-fils Trinh Doanh (Duc Nghi To An Vuong), Ngoc Chu reçut le titre honorifique de Huy Nhu Thuan Duc Thai Ton Thai phi. Elle s’éteignit le 28 août 1750, la onzième année de l’ère Canh Hung, à l’âge de quatre-vingt-deux ans.

Initialement, sa tombe fut établie dans le village de Duong Quang (Gia Lam), avant d’être transférée au village de Bai Nhi, district de Yen Dinh, province de Thanh Hoa.

Famille

Truong Thi Ngoc Chu était la fille aînée de Dien Khanh Cong Truong Du, et la sœur aînée de Thiem Quan Cong Truong Nhung et de Phan Quan Cong Truong Nhieu (Nhuong).

Son père, Truong Du, était le troisième fils de Quan Quan Cong Truong Luc. De prénom social Phuc Lam, il reçut du souverain le nom posthume Don Can, exerça les charges de Do doc phu puis Ta do doc Thai Te, avant d’être élevé au rang de Dien Khanh cong. Né en 1641 (Tan Ty), il mourut le 24 août 1717 à l’âge de soixante-seize ans et fut honoré à titre posthume du long titre élogieux On hau lac thien Tuy Phuc dien Don tin Du hau Nhu hoa Tuyen thiet Trang tuc Dien Khanh Cong.

Sa mère, Le Thi Ba, surnommée Dieu Lien, fut successivement élevée aux rangs de Quan phu nhan puis de Thai phu nhan. Elle était la fille du mandarin Thai bao Tuan Quan Cong Le Phuc Vinh, originaire de Tho Khang, commune de Dinh Luan, aujourd’hui village de Dinh Loan, commune de Tan Quang. Le Thi Ba et la nourrice Nguyen Thi Cao (épouse de Quan Cong Nguyen Gia Da) étaient sœurs utérines.

Au total, Ngoc Chu eut trois enfants : un fils, le seigneur Trinh Cuong, et deux filles, les princesses Trinh Thi Ngoc Thung et Trinh Thi Ngoc Co.

Activités de bienfaisance religieuse

De son vivant, la Thai phi Truong Thi Ngoc Chu manifesta une grande piété en finançant la construction et la restauration de temples bouddhiques. De nombreuses stèles commémoratives conservent encore aujourd’hui la trace de ses actions.

Parmi elles figure la stèle Ham Long tu bi ky, érigée la dixième année de l’ère Vinh Thinh (1714), qui relate la collecte de fonds initiée par la Thai phi de la famille Truong pour la restauration du temple Ham Long, célèbre site paysager de Long Bien. Soutenue par les donations accordées par le seigneur Trinh et par de nombreux fidèles, parmi lesquels plusieurs membres du palais princier tels que les princesses Trinh Thi Ngoc Yen, Ngoc Ky, Ngoc Quy et Ngoc Dung, la restauration fut menée à bien.

Traditions et légendes

La légende « Ghenh enfante, Khe nourrit »

Trinh Can, Chieu To Khang Vuong, régna de 1682 à 1709 et désigna son fils aîné Luong Muc Vuong Trinh Vinh comme héritier. Celui-ci mourut prématurément, et le seigneur établit alors son petit-fils aîné Tan Quang Vuong Trinh Binh comme prince héritier.

Un jour, alors qu’il revenait d’une expédition à Hai Dong, le prince héritier traversa le village de Ghenh et aperçut une jeune fille coupant de l’herbe en chantant : « Tay cam ban nguyet xenh xang / Hai hang cay co lai hang tay ta ».
Séduit par sa beauté et son ardeur au travail, il la fit entrer au palais comme concubine. Peu après, elle donna naissance à un fils, le futur seigneur Trinh Cuong.

Malheureusement, Truong Thi Ngoc Chu perdit son lait, et l’enfant pleurait jour et nuit sans pouvoir être apaisé. Sa demi-sœur utérine Nguyen Thi Cao, mariée dans le village de Khe et venant d’accoucher elle aussi, fut invitée à venir allaiter l’enfant. Dès que Trinh Cuong fut pris dans ses bras, il cessa de pleurer et réclama le sein. Dès lors, Nguyen Thi Cao demeura au palais pour élever à la fois son propre enfant et son neveu. C’est de cet épisode que provient le dicton populaire « Ghenh sinh, Khe nuoi ».

La période du gouvernement de Trinh Cuong (1709–1729) est considérée comme l’apogée de la prospérité sous les Le postérieurs.

La légende de « la route menant au palais du seigneur »

Une autre tradition relate qu’une famille pauvre de la lignée Truong reçut la bénédiction d’un immortel taoïste, qui leur indiqua un emplacement funéraire propice. C’est à la suite de cette faveur céleste que naquit Ngoc Chu, laquelle, dotée d’une voix mélodieuse et d’un caractère séduisant, attira l’attention de Tan Quang Vuong et fut choisie comme concubine.

La légende des « Dames Blanche et Rouge » du temple Dau

Lorsque Truong Thai phi et Nguyen Phu nhan accédèrent aux honneurs, elles se souvinrent de leur terre natale, la région de Dau, où se trouve le temple dédié aux Quatre Divinités Phap. Elles offrirent des centaines de parcelles de rizières au temple et furent élues Hau chua. Leurs statues y furent érigées : celle de Truong Thai phi, peinte en blanc, évoque la noblesse et la pureté ; celle de Nguyen Phu nhan, de couleur brun-rouge, symbolise selon la croyance populaire l’abondance du lait maternel. Le peuple les surnomma ainsi « ba Trang » et « ba Do ».

Lors des fêtes du temple Dau, leurs statues sont portées en procession juste après celle de Phap Van, la principale des Quatre Divinités, accompagnées du chant populaire : « Tuong cu Hau ruoc sau Tu Phap, Dan keo theo de dap on nguoi. »

Références bibliographiques

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Trung

慈宣太妃张氏玉储(1666—1750)

身世

张氏玉储生于1666年4月26日,出生地为如京村(Nhu Kinh,亦称迎村 Ghênh),隶属嘉林县(Gia Lam)、顺安府(Thuan An)、京北镇(Kinh Bac);今属兴安省(Hung Yen)文林县(Van Lam)如琼社(Nhu Quynh)。

她是晋光王郑柄(Trinh Binh)的妻子。晋光王郑柄为良穆王郑楹(Trinh Vinh)之子,同时也是昭祖康王郑根(Trinh Can)的嫡长孙。

生平与事业

当郑纲(Trinh Cuong)即位为郑主后,尊其母张氏玉储为太妃,俗称“迎主太妃”;而阮氏皋(Nguyen Thi Cao)被封为夫人,俗称“溪乳母”。由此,民间逐渐流传“迎生,溪养”这一谚语。

1686年,年仅17岁的张氏玉储诞下一子,即后来的郑主郑纲。1697年,28岁的她被朝廷进封为郑柄正妃。

1702年,晋光王郑柄突然去世,当时张氏玉储33岁,而郑纲仅16岁。接连失去儿子与孙子的郑根悲痛万分,一度犹豫继承人选,遂召廉郡公阮贵德(Nguyen Quy Duc)入朝咨询。阮贵德进言称:国家大业与安抚天下之责重大,应依典制由嫡系曾孙承继,以正名分,早定继承,避免纷争。

依此,1703年正月,朝廷正式晋封郑纲为钦差节制水陆诸营兼总政机太尉,封安国公,并为其另设理国府。

身后尊封与去世

至其孙郑江(Trinh Giang,德裕祖)及曾孙郑营(Trinh Doanh,德议祖恩王)在位时,张氏玉储被尊为徽柔纯德太尊太妃。

她于1750年8月28日去世,时为景兴十一年,享寿82岁。

初葬于嘉林阳光村(Duong Quang),后改葬至清化省(Thanh Hoa)安定县(Yen Dinh)拜儿村(Bai Nhi)。

家世

张氏玉储为延庆公张预(Truong Du)之长女,添郡公张仍(Truong Nhung)与奋郡公张饶(让)(Truong Nhieu)之姐。

其父张预,为馆郡公张力(Truong Luc)第三子,字福林,谥号敦谨,历任都督府都督、左都督太宰,封延庆公。生于1641年(辛巳),卒于1717年8月24日,享年76岁,追封长号尊谥。

其母黎氏芭(Le Thi Ba),号妙莲,封郡夫人、后进太夫人,为太保俊郡公黎福荣(Le Phuc Vinh)之女。黎氏芭与阮氏皋为同母姐妹。

张氏玉储一生育有三子女:一子为郑主郑纲,两女为郑氏玉丛郡主(Trinh Thi Ngoc Thung)与郑氏玉姬郡主(Trinh Thi Ngoc Co)。

佛寺功德活动

生前,张太妃发心捐资修建寺院,今仍存多通后碑记载其功德。

其中,《含龙寺碑记》(Ham Long tu bi ky)立于永盛十年(1714),记载张氏太妃募资重修龙编胜景含龙寺。此举获郑主资助,并有多位王府宗女参与,如郑氏玉安、玉奇、玉桂、玉容等,工程圆满完成。

传说与民间记忆

传说一:“迎生,溪养”

相传,昭祖康王郑根立长子郑楹为世子,后世子早逝,遂立孙晋光王郑柄为太子。一次,郑柄途经迎村,见一少女割草而歌,姿容秀丽、声音清越,遂选入宫中为妃,即张氏玉储。其后生郑纲,却因失乳无法哺育,遂请其姨妹阮氏皋入宫代乳,郑纲一抱即止哭,自此“迎生,溪养”之说流传民间。

传说二:“入郑主府之路”

另一传说称,张氏家族因得高人指点安葬吉穴而兴,终生张氏玉储,得晋光王宠爱入宫为妃,家族由此显达。

传说三:“白娘与红娘”(寺庙传说)

张太妃与阮夫人显贵后,念及桑梓,于豆地区(Dau)捐田数百亩供奉四法寺。二人被尊为寺后,塑像供奉:张太妃像施白色,象征高贵;阮夫人像施红褐色,象征乳德,民间称为“白娘”“红娘”。迎会之日,两像随四法之后巡游,民谣有云:

“后神像随四法行, 百姓追随以报恩。”

参考文献

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)