Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa tọa lạc tại số 73 phố Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội. Trước kia nơi đây nằm trong khu vực của thôn Kim Mã, huyện Vĩnh Thuận rồi thôn Kim Mã, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền, vào thời Lý khu vực này vốn là pháp trường, mảnh đất chùa Kim Sơn lúc ấy vốn là nghĩa địa của thôn Kim Mã. Người dân trong thôn dựng một am nhỏ bằng tranh gọi là am Vạn Linh để siêu độ âm hồn và cúng tế vong linh các tội nhân bị hành quyết. Sau chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789, khi vua Quang Trung đưa quân về Thăng Long và đại chiến với quân Mãn Thanh ở Đống Đa, thi hài hàng vạn binh lính Tây Sơn tử trận đã được đưa về an táng tại nghĩa địa Kim Mã, am Vạn Linh khi ấy được trùng tu và gọi là đàn Vạn Linh.
Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, chùa Kim Sơn trải qua nhiều lần biến đổi gắn liền với bối cảnh xã hội và lịch sử đô thị Hà Nội. Khởi đầu từ một am nhỏ được dựng lại sau thiên tai, chùa dần được mở rộng và định hình quy mô dưới sự trụ trì của Ni trưởng Đàm Thịnh, với việc xây dựng thêm các công trình phụ trợ và hợp nhất nghĩa địa thành không gian thờ tự mang ý nghĩa siêu độ chúng sinh. Sang đầu thế kỷ XX, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng khuôn viên và tổ chức lại mặt bằng thờ tự, hình thành đầy đủ các hạng mục như Tam bảo, đền Mẫu và đàn Vạn Linh, phản ánh sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
Trong giai đoạn chiến tranh và biến động đô thị, chùa Kim Sơn không chỉ chịu tác động của quy hoạch và chiến sự mà còn đảm nhận vai trò lưu giữ di sản Phật giáo, khi tiếp nhận hệ thống tượng từ chùa Linh Sơn bị bom phá hủy. Từ sau năm 1967, chùa từng bước ổn định, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa, trở thành một không gian tôn giáo – tưởng niệm có ý nghĩa đặc biệt. Việc xây dựng nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ quân Tây Sơn năm 2011 đã bổ sung thêm chiều kích lịch sử – dân tộc cho ngôi chùa, cho thấy Kim Sơn không chỉ là nơi sinh hoạt Phật giáo, mà còn là điểm kết nối ký ức cộng đồng, tín ngưỡng siêu độ và truyền thống yêu nước trong lòng đô thị hiện đại.
Kiến trúc và cảnh quan
Chùa Kim Sơn có kiến trúc theo thế “nội công ngoại quốc”, mang phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Bước qua Ngũ Môn Quan – cổng năm cửa rộng tới 50m được xây dựng năm 1953, du khách sẽ thấy bên trong treo một quả chuông đồng lớn và đặt một pho tượng Phật. Trên mặt trước và mặt sau của cổng đều khắc câu đối bằng chữ Quốc ngữ, một nét hiếm gặp trong kiến trúc chùa Việt. Qua cổng là khu vườn rộng rãi, tĩnh lặng, có bể non bộ, hai tháp mộ cổ và hàng cau xanh mát. Hai bên vườn là hai dãy nhà tả – hữu mạc nhỏ ba gian, ở giữa đặt pho tượng Bồ Tát đứng trên hồ bán nguyệt được bao quanh bởi tường gạch, phía sau là bức bình phong án ngữ. Tiếp đến là một khoảng sân gạch rộng mở ra không gian uy nghi của chính điện.
- Chính điện
Khu chính điện chùa Kim Sơn được bố cục thành tổ hợp “tam tòa”, nằm trên cùng một trục thẳng và thông nhau qua các cửa ngách. Trung tâm là tòa Tam Bảo, gồm ba nếp nhà ba gian, trong đó nếp chính giữa cao và nhô ra phía trước, tạo thế uy nghi. Kết cấu vì kèo kiểu “chống rường giả chiêng” giản lược, ít chạm khắc, nhưng trên nóc vẫn đắp ba chữ Hán “Kim Sơn Tự” cùng đôi rồng chầu. Nội thất bảo lưu nhiều hoành phi, câu đối, bia đá, đặc biệt có bức đại tự “Kim Sơn Cổ Sát”. Bên trong đặt 21 pho tượng Phật xếp làm bốn tầng, phía trên là bốn cửa võng chạm khắc cầu kỳ với các đề tài hoa lá, tứ linh. Đáng chú ý nhất là pho tượng Phật bằng đồng nguyên khối cao 77cm, nặng 30kg – một tuyệt tác nghệ thuật Phật giáo.
- Tam Bảo
Phía bên phải Tam Bảo là Đàn Vạn Linh, nơi thờ các vong hồn vô chủ, trong đó có binh lính Tây Sơn tử trận năm 1789. Gian ngoài bày hương án thờ Phật và hai hương án thờ Vạn Linh, dưới có tượng đàn voi Tây Sơn. Hậu cung an trí hệ thống tượng Phật được đưa về từ chùa Linh Sơn (phố Nguyễn Trường Tộ) sau khi chùa này bị bom Mỹ đánh sập năm 1967, gồm các tượng A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Di Lặc, Văn Thù, Phổ Hiền cùng Nam Tào và Bắc Đẩu. Bên trái Tam Bảo là đền thờ Mẫu, hậu cung đặt khám thờ ba pho tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Bà Chúa Thượng Ngàn và Thủy Tinh Công chúa; phía ngoài có hương án với ba ngai thờ Hùng Vương. Nóc đền thờ Mẫu và Đàn Vạn Linh đều đắp hình lưỡng long triều nguyệt, tôn thêm vẻ uy linh.
- Nhà Hậu
Phía sau ba tòa chính là nhà Hậu, nơi thờ các vị sư Tổ trụ trì quá cố, đồng thời cũng là nơi sinh hoạt của các sư. Bên cạnh nhà Hậu có một cổng phụ trông ra phố Kim Mã, tạo sự thông thoáng trong thế đất và giao thông.
Tổng thể kiến trúc chùa Kim Sơn kết hợp hài hòa giữa không gian tiền đình – chính điện – hậu cung, vừa bảo lưu giá trị nghệ thuật cuối thời Nguyễn vừa toát lên sự trang nghiêm cổ kính. Dù đã được trùng tu trong gần một thế kỷ qua, chùa vẫn giữ được bản sắc riêng, là một trong những công trình tiêu biểu của kiến trúc Phật giáo Hà Nội.
Hiện vật
Hệ thống hiện vật tại chùa Kim Sơn phong phú và đa dạng, trong đó đáng chú ý nhất là tượng Phật tại Tam Bảo. Hiện nay, tòa Tam Bảo lưu giữ tổng cộng 21 pho tượng Phật được sắp xếp thành bốn tầng trên các bệ thờ. Trên cùng là bộ Tam Thế Phật, kế tiếp là tượng A Di Đà, tầng thứ ba có bốn pho tượng gồm hai tượng Thích Ca ở giữa, hai bên là Quan Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ tát; phía dưới là tòa Cửu Long với tượng Thích Ca được bao quanh bởi 12 tượng nhỏ. Nổi bật nhất trong hệ thống tượng ở chính điện là một pho Phật đồng nguyên khối cao 77cm, nặng 30kg, đúc liền cả tượng và bệ hộp gần vuông. Tượng thể hiện Phật trong tư thế đứng, tay ấn “vô úy” (không sợ hãi), trên mặt trước chân bệ còn khắc chìm một dòng chữ Sanskrit, được coi là một tuyệt tác nghệ thuật Phật giáo hiếm có.
Tại Đàn Vạn Linh (nằm bên phải tòa Tam Bảo), hệ thống tượng thờ được đưa về từ chùa Linh Sơn ở phố Nguyễn Trường Tộ sau khi ngôi chùa này bị bom Mỹ phá hủy năm 1967 (có tài liệu cho rằng là năm 1972). Toàn bộ sáu pho tượng Phật đã được rước về đây và thờ phụng cho đến nay. Các tượng được sắp xếp thành từng tầng: trên cùng là tượng A Di Đà, tiếp đến là Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, tầng ba đặt tượng Di Lặc, tầng bốn có Văn Thù và Phổ Hiền Bồ tát, tầng năm là tòa Cửu Long (không có tượng Thích Ca), tầng sáu thờ Nam Tào và Bắc Đẩu. Gian ngoài của Đàn Vạn Linh còn đặt tượng đàn voi Tây Sơn, gắn với ký ức lịch sử cuộc kháng chiến chống quân Thanh năm 1789.
Bên trái tòa Tam Bảo, tại đền thờ Mẫu, hậu cung có khám thờ ba pho tượng Thánh mẫu gồm Liễu Hạnh, Bà Chúa Thượng Ngàn và Thủy Tinh Công chúa. Phần ngoài đặt hương án với ba ngai thờ Hùng Vương ở giữa, hai bên có sáu pho tượng nữ Thị vệ cầm các loại binh khí như long đao, kiếm, làm tăng thêm vẻ uy nghiêm cho không gian thờ tự.
Ngoài hệ thống tượng thờ, chùa Kim Sơn còn bảo lưu nhiều hiện vật giá trị khác. Ngay trong Ngũ Môn Quan có treo một quả chuông đồng lớn, dùng trong các nghi lễ quan trọng. Đặc biệt, chùa sở hữu một bộ sưu tập bia đá phong phú, phản ánh quá trình dựng chùa, trùng tu và công đức của tín thí qua các thời kỳ. Trong số đó, bia Trùng tu kỷ niệm bi ký / Cung đức liệt sự bi ký dựng năm Bảo Đại thứ 8 (1933) ghi lại việc xây dựng lại tòa Tam Bảo, điện Thánh Mẫu và Đàn Vạn Linh; bia Kim Sơn tự đàn bi ký (năm Thành Thái thứ 16, 1904) kể lại nguồn gốc chùa, từ một khu mả hoang trở thành ngôi tự viện khang trang; bia Hậu Phật phối hưởng bi ký ghi danh 63 người cúng tiến thuộc 9 dòng họ; bia Tự đàn điền thổ ký liệt kê ruộng đất của chùa; bia Nghĩa địa Kim Sơn (Khải Định thứ 6, 1921) ghi chép các khu nghĩa địa; và đáng chú ý là một tấm bia khắc bằng chữ Quốc ngữ đặt tại Ngũ Môn Quan, ghi danh những người đã cúng tiến. Những tư liệu văn khắc này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn phản ánh rõ nét sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và truyền thống công đức của cộng đồng gắn bó với chùa.
Sự kiện và lễ hội
Hằng năm, vào ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch, chùa Kim Sơn long trọng tổ chức Lễ Giỗ Trận Đống Đa và tưởng niệm nghĩa quân Tây Sơn. Đây là dịp kỷ niệm Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789, khi Hoàng đế Quang Trung lãnh đạo nghĩa quân Tây Sơn đại thắng quân Thanh, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Lễ hội mang ý nghĩa tưởng nhớ và cầu siêu cho các anh hùng nghĩa quân Tây Sơn đã anh dũng hy sinh, đồng thời tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, trong đó có những người con ưu tú của quê hương Kim Mã. Nghi lễ được tổ chức trang nghiêm, theo phong tục truyền thống, với các nghi thức như lập đàn chay cúng tế vong linh binh lính Tây Sơn và các liệt sĩ, lễ rước kiệu Đức thánh Phùng Hưng từ đình Kim Mã sang chùa Kim Sơn, lễ tế Nam quan và Nữ dâng hương bái yết, nghi thức dâng hương, cùng màn trống hội sôi nổi tạo nên không khí thiêng liêng và hào hùng.
Lễ giỗ trận gắn liền với lịch sử hình thành của chùa, bởi khu vực chùa Kim Sơn (xưa là trại Kim Mã) chính là nơi an táng hàng nghìn thi hài binh lính Tây Sơn tử trận năm 1789. Từ am nhỏ thờ vạn linh ban đầu, về sau được trùng tu thành đàn Vạn Linh và trở thành trung tâm tín ngưỡng tưởng niệm. Việc duy trì tổ chức lễ hội tại chùa Kim Sơn không chỉ khẳng định truyền thống uống nước nhớ nguồn, mà còn góp phần bồi đắp tinh thần yêu nước, hun đúc bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho di tích trở thành một điểm hội tụ của lịch sử và tâm linh.
Xếp hạng
Năm 1985, chùa Kim Sơn đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.
Tham khảo
- Phạm Đông, Tưởng niệm 235 năm ngày giỗ trận của nghĩa quân Tây Sơn, Báo Lao động, đăng tải ngày 14/02/2024.
- Hệ thống văn bia chùa Kim Sơn.
- Thủy Hương, Chùa Kim Sơn, Tạp chí Nhịp sống Hà Nội, đăng tải ngày 03/07/2022.
- Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên) (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh niên.
- Thiện Minh, Chùa Kim Sơn: Ngôi chùa xây trên pháp trường giữa trung tâm Hà Nội, Tạp chí điện tử Ngày nay, đăng tải ngày 17/12/2023.
- Nguyễn Thúy Nga – Nguyễn Văn Nguyên (Chủ biên) (2007), Địa chí Thăng Long – Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm, Nxb Thế giới.
- Vũ Văn Quân (chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 1, Nxb Hà Nội.
______________________________________________________
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
I. Name and Geographical Location
Situated at the corner of Kim Ma Street and Giang Van Minh Street, Kim Son Pagoda (also called Kim Ma Pagoda, Chua Tau Ma, or the Van Linh Altar) stands at No. 73 Kim Ma Street. It is a significant historical and cultural site associated with the Tay Son dynasty and the Ngoc Hoi – Dong Da victory of 1789.
II. History and Historical Figures
According to the oral tradition preserved by the pagoda’s abbots, during the Ky Dau spring campaign more than 226 years ago, thousands of Tay Son soldiers who fell across Thang Long were gathered and buried on this land. Villagers later built a pagoda beside the cemetery and named it Tay Son Tu to offer incense and prayers for the liberation of the fallen soldiers’ spirits. After the fall of the Tay Son, to avoid political repercussions from the new vs. former rulers, the name Tay Son Tu was changed to Kim Son Tu, which has remained to this day.
As recorded in the article Kim Son Pagoda: This area was originally Kim Ma Camp, part of the Thap Tam Trai to the southwest of the Thang Long capital. Formerly both an execution ground and a cemetery, a small hermitage was set up here to worship wandering souls. In the late Le -Trinh period, this became the burial ground for Tay Son soldiers killed in the Ngoc Hoi – Dong Da battle (1789) when Emperor Quang Trung routed the Qing forces. The hermitage was then renovated and called the Van Linh Altar (Dan Van Linh). In 1881, the place was refurbished and became Chua Tau Ma; in 1898, it was renamed Kim Son Tu. In 1932, villagers expanded the precinct and separated the Tam Bao hall, the Mother Goddess Temple, and the Van Linh altar.
III. Architectural Features and Landscape
Today, Kim Son Pagoda still preserves many architectural traces from the Tu Duc era and the late Nguyen period, with a “noi cong ngoai quoc” ground plan. In front stands a triple gate about 50 meters wide with five doors (the giai ngu mon). Inside the gate hangs a large bronze bell and stands a Buddha statue. Both the front and back faces of the five-gate portal bear Vietnamese Quoc Ngu couplets. Beyond the portal is a garden with a rockery pond, two small stupas, and areca palms, creating a tranquil space. A brick courtyard follows, then the main complex arranged in three independent parts: the central Tam Bao (Buddha hall), the Van Linh Altar to the right, and the Mother Goddess Temple to the left.
The Tam Bao sits elevated and connects to the Van Linh altar and the Mother Temple via two side passages. The roofs of the Mother Temple and Van Linh altar are decorated with two dragons flanking the moon (luong long trieu nguyet), while the Tam Bao’s ridge bears the three characters “Kim Son Tu” with a dragon on each side. Inside the Tam Bao, the top tier enshrines the Three Buddhas (Tam The); the second tier enshrines Amitabha; and the third tier holds four statues—two Shakyamuni in the center, flanked by Avalokitesvara (Quan The Am) and Mahasthamaprapta (Dai The Chi).
Next is the Cuu Long ensemble with Shakyamuni surrounded by twelve small statues. Then come the inner altar, outer altar, and the seating platform for sutra recitation. On the right is the altar of Duc Ong with three thrones; on the left is Duc Thanh Hien. In addition to the statues, the altars hold incense burners, vases, and candle stands. The four tiers of Buddha images are elaborately adorned with intricately carved and gilded portal screens (cua võng). The Tam Bao also preserves horizontal plaques (hoanh phi), couplets, and stone steles.
The Van Linh Altar, to the right of the Tam Bao, houses a system of Buddha images transferred from Linh Son Pagoda. Amitabha occupies the top tier, followed by Avalokitesvara and Mahasthamaprapta; Maitreya sits on the third tier; the fourth enshrines Manjusri and Samantabhadra; the fifth is a Cuu Long ensemble without a Shakyamuni image; the sixth venerates Nam Tao and Bac Dau. At the front stands the main Buddha altar, flanked by two Van Linh altars. The space also displays plaques, couplets, censers, a bell, and stone steles.
The Mother Goddess Temple lies to the left of the Tam Bao. Its rear sanctuary houses a niche with three statues: Lieu Hanh, Ba Chua Thuong Ngan, and Thuy Tinh Princess. Below the niche are two female attendants and multiple incense burners. In front is a central altar to the Hung Kings, flanked by platforms bearing three female attendants and weapons such as dragon halberds and swords. Behind the Tam Bao, Van Linh altar, and Mother Temple is the rear house, where deceased abbots are commemorated, adjacent to monastic quarters. By the rear house is a back gate opening onto Kim Ma Street.
IV. Artefacts and Collections
Within the Tam Bao survive plaques, couplets, and stone steles, notably a large horizontal plaque reading “Kim Son Co Sat” (Ancient Temple of Kim Son). The hall houses 21 Buddha statues, and above are four intricately carved portal screens. The main sanctuary enshrines a solid-cast bronze Buddha statue, considered a masterpiece of Buddhist art, 77 cm high and 30 kg in weight. The outer hall displays a Buddha altar and two Van Linh altars, beneath which is a group of Tay Son elephant statues.
To the left stands the Mother Goddess Temple, whose rear sanctuary enshrines Lieu Hanh, Ba Chua Thuong Ngan, and Thuy Tinh Princess.
V. Events and Festivals
Kim Son Pagoda hosts major rituals and spiritual activities. Each year on the 5th day of the first lunar month – the Dong Da battle commemoration day – the pagoda holds vegetarian requiem ceremonies to honor those who sacrificed their lives for the nation. The site also welcomes devotees praying for good fortune, peace, health, and success.
VI. Recognition
In 1985, Kim Son Pagoda was designated a National-level Historical and Cultural Relic.
2. Tiếng Pháp (French)
I. Nom et situation géographique
Située à l’angle des rues Kim Ma et Giang Van Minh, la pagode Kim Son (également pagode Kim Ma, Chua Tau Ma, autel Van Linh) se trouve au 73, rue Kim Ma. Il s’agit d’un site historique et culturel majeur, lié à la dynastie Tay Son et à la victoire de Ngoc Hoi – Dong Da en 1789.
II. Histoire et personnages
Selon la tradition transmise par les abbés, lors de la campagne du printemps Ky Dau, il y a plus de 226 ans, des milliers de soldats Tay Son tombés à Thang Long furent rassemblés et inhumés sur ce terrain. Les habitants y édifièrent ensuite une pagode voisine du cimetière, nommée Tay Son Tu, pour prier nuit et jour pour le repos de leurs âmes. Après la chute des Tay Son, afin d’éviter des répercussions politiques, Tay Son Tu fut rebaptisée Kim Son Tu, appellation conservée jusqu’à aujourd’hui.
Le texte Pagode Kim Son rapporte : le site était à l’origine le camp de Kim Ma, relevant des Treize Hameaux (Thap Tam Trai), au sud-ouest de Thang Long. Autrefois lieu d’exécution et cimetière, un petit ermitage y fut établi pour honorer les âmes errantes. À la fin des Le–Trinh, on y inhuma les soldats Tay Son morts à Ngoc Hoi – Dong Da (1789), lorsque l’empereur Quang Trung vainquit les Qing. L’ermitage fut restauré et nommé autel Van Linh (Dan Van Linh). En 1881, le lieu fut réaménagé en Chua Tau Ma ; en 1898, il prit le nom de Kim Son Tu. En 1932, les villageois agrandirent l’enceinte et séparèrent le Tam Bao, le temple de la Mère et l’autel Van Linh.
III. Architecture et paysage
La pagode conserve des marqueurs architecturaux de l’époque Tu Duc et de la fin des Nguyen, selon le plan « noi cong ngoai quoc ». En façade se dresse un triple-portique d’environ 50 m de large à cinq portes (giai ngu mon), avec une grande cloche de bronze et une statue du Bouddha. Les faces avant et arrière portent des distiques en écriture vietnamienne Quoc Ngu. Au-delà, un jardin avec bassin-rocher, deux petites tours et palmiers-arec instaure le calme, suivi d’une cour pavée, puis d’un ensemble principal en trois parties indépendantes : au centre le Tam Bao (sanctuaire bouddhique), à droite l’autel Van Linh, à gauche le temple de la Mère.
Le Tam Bao, surélevé, communique avec les deux autres édifices par des passages latéraux. Les faîtes du temple de la Mère et de l’autel Van Linh sont ornés du motif « deux dragons saluant la lune » (luong long trieu nguyet), tandis que le faîte du Tam Bao porte les trois caractères « Kim Son Tu » encadrés de deux dragons. À l’intérieur, le niveau supérieur abrite les Trois Bouddhas (Tam The) ; le second, Amitabha ; le troisième, quatre statues — deux Shakyamuni au centre, flanquées de Avalokitesvara (Quan The Am) et Mahasthamaprapta (Dai The Chi).
Vient ensuite l’ensemble Cuu Long avec Shakyamuni entouré de douze statuettes, puis autel intérieur, autel extérieur et estrade de psalmodie. À droite, l’autel de Duc Ong avec trois trônes ; à gauche, Duc Thanh Hien. Les autels portent, outre les statues, brûle-parfums, vases et chandeliers. Les quatre registres d’images bouddhiques sont soulignés par des portes sculptées et dorées d’un grand raffinement. Le Tam Bao conserve aussi hoanh phi, distiques et stèles.
À droite du Tam Bao, l’autel Van Linh renferme des statues transférées de la pagode Linh Son : Amitabha au sommet ; au second niveau Avalokitesvara et Mahasthamaprapta ; Maitreya au troisième ; Manjusri et Samantabhadra au quatrième ; Cuu Long au cinquième sans Shakyamuni ; Nam Tao et Bac Dau au sixième. En avant : autel principal du Bouddha et deux autels Van Linh ; plaques, distiques, encensoirs, cloche et stèles complètent l’ensemble.
Le temple de la Mère, à gauche du Tam Bao, possède en arrière-sanctuaire une châsse avec trois Déesses-Mères : Lieu Hanh, Ba Chua Thuong Ngan, Princesse Thuy Tinh ; en dessous, deux suivantes et plusieurs brûle-parfums. Devant la châsse se trouve un autel central dédié aux Rois Hung, flanqué de statues d’acolytes féminines et d’armes rituelles (hallebardes dragons, épées). À l’arrière des trois édifices se dresse la maison postérieure honorant les abbés défunts, attenante aux bâtiments monastiques ; à proximité, une porte arrière s’ouvre sur la rue Kim Ma.
IV. Objets et collections
Le Tam Bao conserve plaques, distiques et stèles, dont un grand hoanh phi portant « Kim Son Co Sat ». On y compte 21 statues bouddhiques ; au-dessus, quatre portes sculptées. Le sanctuaire principal abrite une statue de Bouddha en bronze monobloc, chef-d’œuvre de l’art bouddhique (77 cm, 30 kg). Dans le vestibule, un autel du Bouddha et deux autels Van Linh ; en dessous, un groupe d’éléphants Tay Son.
À gauche du Tam Bao : temple de la Mère avec, au fond, la châsse et Lieu Hanh, Ba Chua Thuong Ngan, Princesse Thuy Tinh.
V. Événements et fêtes
Chaque 5e jour du 1er mois lunaire (jour de commémoration de Dong Da), la pagode organise des offices végétariens et des cérémonies en mémoire des combattants tombés pour la patrie. Les fidèles viennent aussi prier pour la chance, la paix, la santé et la réussite.
VI. Classement
En 1985, la pagode Kim Son a été classée vestige historique et culturel national.
3. Tiếng Trung (Chinese)
一、名称与地理位置
金山寺(亦称金马寺、舟马寺、万灵坛)位于金马街与江文明街交叉口,地址:金马街73号。此处为重要的历史文化遗迹,关联西山王朝与玉回—栋多之胜(1789年)。
二、历史与人物
据历任住持口述,己酉年春战距今二百二十余年,阵亡于升龙各处之西山军士,皆被收殓于此地。其后,民众在义冢旁建寺,名西山寺,晝夜香火,为战殁将士祈度。西山末后,为避新旧政权牵连,遂改名为金山寺,沿用至今。
据《金山寺》一文载:此地本为金马寨,属十三寨之域,位于升龙京都西南。昔为法场与义冢,故先民建小庵以祀亡灵。黎—郑末年,光中皇帝阮惠大破清军之玉回—栋多战(1789),此处成为西山阵亡军士安葬地,庵亦重修称万灵坛。1881年修葺为舟马寺,1898年更名为金山寺;1932年扩境,分设三宝殿、母庙与万灵坛。
三、建筑与景观
今寺仍存嗣德年间及阮末建筑风貌,平面为**“内工外郭”。前设三门楼**,通长约50米,开五门(称解五门);门内悬大铜钟并设佛像。五门之前后均题有国语字(越南拉丁字母)楹联。入门为园林与盆景水池、二小塔及槟榔树,环境清寂;继之为砖庭,其后为三分独立之建筑:中为三宝殿,右为万灵坛,左为母庙。
三宝殿高起,并由两侧门与万灵坛、母庙相通。母庙与万灵坛屋脊饰双龙戏月,三宝殿脊正中镌**“金山寺”三字,两侧配龙。殿内上层供三世佛**,次层供阿弥陀佛,第三层设四尊:中为释迦二像,两侧为观音菩萨与大势至菩萨。
其后为九龙佛坛,中央供释迦,周列十二小像;再后为内案、外案与诵经座。右侧为德翁三座神位,左为德圣贤。诸案除诸佛像外,尚陈香炉、花瓶、烛台等。四重佛像与镀金透雕门罩(花板)相映成辉。殿内并存匾额、楹联与碑刻。
万灵坛在三宝殿右,供像多自灵山寺移来:上层为阿弥陀,次层观音与大势至,第三层弥勒,第四层文殊与普贤,第五层为九龙但不设释迦,第六层供南斗、北斗。外沿设佛香案与两座万灵香案,并陈匾联、香炉、钟与碑。
母庙在三宝殿左,后殿设神龛,祀柳杏圣母、上源夫人与水精公主三像;龛下列二女侍及多座香炉。龛外为中央香案祀雄王,左右陈三女侍与龙刀、宝剑等兵仗。三大殿之后为后殿,祭祀已故住持,毗邻僧尼寮舍;后殿旁设后门,通向金马街。
四、文物与藏品
三宝殿内存匾额、楹联、碑刻,尤有四字**“金山古刹”大匾。殿中现有二十一尊佛像;上部悬四道细雕门罩**。正殿供一尊整铸青铜佛像,被誉为佛教艺术杰作,高77厘米、重30千克。外堂陈佛香案与两座万灵香案,其下为西山象阵群像。
三宝殿左侧为母庙,后殿神龛祀柳杏圣母、上源夫人、水精公主三像。
五、活动与节庆
每年农历正月初五(栋多阵纪念日),寺中设斋坛与祭典,追悼为国捐躯之英灵。平日亦有信众前来祈求福运、平安、健康与成功。
六、定级
1985年,金山寺被列为国家级历史文化遗迹。




