Vua Lý Thánh Tông

Thông tin cơ bản

Tiểu sử 

Lý Thánh Tông tên thật là Lý Nhật Tôn, sinh ngày 25/02/1023 (Quý Hợi). Ông là vị hoàng đế thứ ba của vương triều nhà Lý, đích tử của Lý Thái Tông và  Linh Cảm Hoàng hậu họ Mai.

Thụy hiệu:

  • Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng đế

Thê thiếp: Thượng Dương hoàng hậu Nguyên phi Ỷ Lan

Hậu duệ:

  • Lý Nhân Tông
  • Minh Nhân vương 
  • Công chúa Động Thiên 
  • Công chúa Thiên Thành
  • Công chúa Ngọc Kiều (con nuôi) 

Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý chép: 

Tên huý là Nhật Tôn, con trưởng của Thái Tông. Mẹ là Kim Thiên Thái Hậu họ Mai. Khi trước chiêm bao thấy mặt trăng vào bụng rồi có mang. Ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi, Thuận Thiên thứ 14 (1023), sinh vua ở cung Long Đức.(1)

Năm Thiên Thành thứ 1 (1028), ngài được sắc phong làm Đông Cung Thái Tử. Thái Tông băng, bèn lên ngôi báu, trị vì từ tháng 11 năm 1054 đến khi qua đời năm 1072, thọ 50 tuổi, băng ở điện Hội Tiên. 

Theo sách Đại Việt sử lược, Thái tử Nhật Tôn là người văn võ song toàn: “tinh thông kinh truyện, hiểu âm luật, lại càng giỏi về võ lược.(2)

Năm 1033, Lý Thái Tông phong ông tước Khai Hoàng Vương và dựng cung Long Đức làm nơi ở.

Quý Dậu, [Thiên Thành] năm thứ 6 [1033], (Tống Minh Đạo năm thứ 2) […] Tháng 8, sách phong Đông cung thái tử [Nhật Tôn] [21b] làm Khai Hoàng Vương, ở cung Long Đức.(3)

Năm Đinh Sửu 1037, ông được Thái Tông phong làm Đại nguyên soái, cùng cha đi dẹp quân nổi dậy ở Lâm Tây (Lai Châu) và giành được chiến thắng.

Đinh Sửu, [Thông Thụy] năm thứ 4 [1037], (Tống Cảnh Hựu năm thứ 4). Mùa xuân, tháng 2, ngày mồng 1, vua thân đi đánh đạo Lâm Tây, sai Khai Hoàng Vương [Nhật Tôn] làm Đại nguyên soái đánh các châu Đô Kim, Thượng Tấn, Bình Nguyên, cho Phụng Càn Vương [Nhật Trung] làm Kinh sư lưu thủ. Quân đi từ Kinh sư đến đóng ở Lâm Tây, dẹp yên được.(4)

Tháng 2 âm lịch năm 1039, Lý Thái Tông thân chinh đi đánh Nùng Tồn Phúc ở mạn tây bắc. Thái tử Nhật Tôn mới 17 tuổi được cử làm giám quốc, coi sóc kinh thành và việc triều chính. 

Tháng 2, vua tự làm tướng đi đánh Tôn Phúc, cho Khai Hoàng Vương [Nhật Tôn] làm Giám quốc.(5)

Năm 1040, Lý Nhật Tôn được vua cha tin tưởng giao quyền xét xử các vụ kiện tụng trong nước, lập cơ quan ở điện Quảng Vũ. 

Canh Thìn, [Càn Phù Hữu Đạo] năm thứ 2 [1040], (Tống Khang Định năm thứ 1). Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, xuống chiếu từ nay trở đi phàm nhân dân trong nước ai có việc kiện tụng gì, đều giao cho Khai Hoàng Vương xử đoán rồi tâu lên, lại cho lấy đền Quảng Vũ làm nơi Vương xử xướng.(6)

Sử thần Ngô Sĩ Liên đã chỉ trích quyết định này của Thái Tông:

Chức việc của thái tử, ngoài việc thăm hỏi hầu cơm vua ra, khi ở lại giữ nước thì gọi là Giám quốc, khi đem quân đi thì gọi là Phủ quân, có thế mà thôi, chưa nghe thấy sai xử kiện bao giờ. Phàm xử kiện là việc của Hữu ty. Thái Tông sai Khai Hoàng Vương làm việc đó không phải là chức phận của thái tử, lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi Vương xử kiện là không đúng chỗ.(7)

Đại Việt Sử lược chép:

Năm Quý Mùi (năm 1043 – ND) là năm Minh Đạo thứ 2; […] Tháng 5, sai Khai Hoàng Vương làm Đô Thống Đại Nguyên Soái đi đánh Ái Châu, Phụng Càn Vương làm phó thống nguyên soái đi đánh Văn Châu, Văn Châu được yên ổn.(8)

Sách cũng cho biết thêm, “Vua Thái Tông sai đi đánh dẹp giặc giã, tới đâu cũng đều đánh thắng được cả.”(9)

Tông Khánh Lịch năm thứ 4 (1044), mùa xuân, Nhật Tôn được phong làm Lưu thủ kinh sư. 

Ngày Quý Mão, vua ban chiếu tự đi đánh Chiêm Thành, cho Khai Hoàng Vương làm lưu thủ kinh sư (ngày ấy quan hữu ty cúng thần núi bằng lễ thiếu lao lấy được cái mật to bằng quả bưởi đem dâng lên. Vua nói đùa rằng: “Chữ “đảm” (mật) với chữ “đam” (vui) âm gần giống nhau, con thiếu lao mà có mật to, có lẽ là điềm báo cho ta biết là chỉ chịu khó nhọc một chút mà được vui lớn đó”).(10)

Cai trị

Năm 1054, do sức khỏe giảm sút, Hoàng đế Lý Thái Tông đã cho phép Thái tử Lý Nhật Tôn tham dự các buổi triều chính và lắng nghe các vấn đề quốc sự. Điều này nhằm giúp Thái tử làm quen và nắm bắt được những trọng trách của một vị vua tương lai. Sau đó, vào ngày 3 tháng 11 năm 1054, Hoàng đế Lý Thái Tông qua đời. Thái tử Lý Nhật Tôn kế vị ngai vàng, trở thành Hoàng đế Lý Thánh Tông.

Giáp Ngọ, năm thứ 6 [1054] (Từ tháng 9, về sau là Thánh Tông Long Thuỵ Thái Bình năm thứ 1, Tống Chí Hoà năm thứ 1), mùa thu, tháng 7, vua ban chiếu cho Hoàng Thái tử là Nhật Tôn coi chầu nghe chính sự. […] Tháng 9, vua không khoẻ. Mùa đông, ngày 1, tháng 10, vua bàng ở điện Trường Xuân, thái tử lên ngôi trước linh cữu; đổi niên hiệu là Long Thuỵ Thái Bình năm thứ 1. Truy tôn tên thụy cho Đại Hành Hoàng đế, miến hiệu Thái Tông, mẹ là Mai Thi làm Kim Thiên Hoàng Thái hậu, đặt quốc hiệu là Đại Việt.(11)

Về sự kiện Lý Nhật Tôn lên ngôi hoàng đế Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 3, mặt khắc 20 ghi chép lại như sau: “Thái tử Nhật Tôn lên ngôi, đổi lại niên hiệu (tức Lý Thánh Tông). Đổi quốc hiệu là Đại Việt. Trước kia, Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Các triều đại sau vẫn theo như thế, đến đây mới đổi lại”.(12)

Trong thời gian cầm quyền, Lý Thánh Tông đặt 5 niên hiệu:

  • Long Thụy Thái Bình (龍瑞太平: 1054-1058)
  • Thiên Thánh Gia Khánh (彰聖嘉慶: 1059-1065)
  • Long Chương Thiên Tự (龍彰天嗣: 1066-1068)
  • Thiên Thống Bảo Tượng (天觀寶象: 1068-1069)
  • Thần Vũ (神武: 1069-1072)

Sử thần Lê Văn Hưu bàn: 

Thái Tông bất bề tôi gọi mình là ”triều đình”, về sau Lý Thánh Tông tự xưng là “Vạn Thặng(13), Lý Cao Tông bắt người ta gọi mình là “Phật”, dầu không căn cứ vào đâu cả, mà chỉ là thích khoe khoang thôi.(14)

Đối nội

Lý Thánh Tông là một trong ba vị vua tạo nên sự thịnh vượng của triều Lý với tên gọi “Bách niên thịnh thế” cùng với cha ông – Lý Thái Tông và con ông – Lý Nhân Tông. 

Vua kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về phu ngục rời xa, đặt khoa bác sĩ, hạ lệnh dương liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trọng việc tín thiện, đại giới là vua tốt.(15)

Vị vua nhân ái

Nhờ được sớm được tiếp xúc với dân chúng, nên ông hiểu được nỗi khổ của dân và thông thạo nhiều việc. Lý Nhật Tôn cũng được đánh giá là một vị vua luôn đề cao sự nhân ái cũng như xây dựng các chính sách khoan hòa trong vấn đề cai trị đất nước. Các sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, “Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục” hay “Việt Nam Sử Lược”… đều chép lại việc này:

Bấy giờ rét dữ, nhà vua bảo những người ở tả hữu rằng: “Trẫm ở chốn cung sâu, sưởi thứ than(16) chế bằng xương loài thú, mặc áo hồ cừu, mà còn rét thế này. Trẫm rất thương xót những người tù bị giam trong ngục kia: cơm không đủ no lòng, áo không đủ che cật, thì bị gió rét dằn vặt đến đâu! Vậy hạ lệnh cho viên quan có trách nhiệm phát chăn, chiếu cho họ và mỗi ngày cho ăn hai bữa.(17)

Cùng năm đó, Thánh Tông truyền lệnh giảm một nửa tô thuế cho dân cả nước. “Năm nay (năm Ất Mùi) trong cõi được miễn tiền thuế một nửa.”(18)

Lý Thánh Tông còn chủ trương giảm các hình phạt trong nước. Theo Đại Việt Sử lược, một trong những hành động đầu tiên của ông sau khi lên ngôi là Xuống chiếu đốt bỏ những hình cụ tra tấn.”(19)

Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng chép, vào năm Ất Tỵ, tháng 6 âm lịch năm 1065, khi đang ngự ở điện Thiên Khánh nghe kiện tụng, nhà vua nhìn công chúa Động Tiên đang đứng bên cạnh và bảo viên ngục lại rằng:

Ta yêu thương con ta cũng như ta yêu thương thiên hạ. Ta yêu thiên hạ như bậc cha mẹ thương yêu con của họ vậy. Nhưng trăm họ có nhiều kẻ không hiểu biết, tự dấn thân vào đường phạm pháp, ta thương xót lắm vậy. Vậy từ nay tội trạng bất kể nặng nhẹ cũng nên theo một cách là khoan thứ cho họ.(20)

Đến năm 1070, vua “Định ra phép, người mắc tội trượng hình cho dùng tiền để chuộc tội.”(21)

Chú trọng sản xuất nông nghiệp 

Bính Thân, năm thứ 3 (1056). (Tống, năm Gia Hựu thứ 1), nhà vua ban bố Chiếu khuyến nông. Vua cũng đích thân đi xem người dân gặt lúa, “vua ngự đến hành cung Lý Nhân xem cày ruộng tịch điền, rồi lại đến hành cung ứng Phong.(22)

Cùng năm đó, từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa, vua cũng ra lệnh cung cấp lương thực cho dân. “Mùa hạ, tháng 4 đại hạn, phát thóc, và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.”(23)

Năm 1067, nhà vua đã định ra chế độ lương bổng hàng năm cho quan Đô hộ phủ Sĩ sư (người đứng đầu cơ quan tư pháp cả nước) và các cai ngục nhằm nuôi lòng liêm khiết, theo đó:

Cho Trọng Hòa và Thể Tư lương bổng hàng tháng, tiền mỗi người 50 quan, lúa mỗi người 200 bó và cá muối v.v… Thư gia mỗi người 20 quan tiền, lúa 100 bó để làm ngưng cái lòng tham vọng đút lót.(24)

Đặt ra kiểu mẫu triều phục.

Năm Kỷ Hợi (1059), mùa thu, tháng 8, ngày Đinh Sửu vua ngự ở điện Thủy Tinh, bắt đầu áp dụng kiểu mẫu triều phục cho bá quancấp cho quần thần mũ phốc đầu(25) và ủng (giày). Quần thần đội mũ, mang ủng bắt đầu từ đấy”.(26)

Quy định quân hiệu

Lý Thánh Tông chia quân chính quy làm 8 hiệu quân, đặt tên là “Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Phủng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp, đều chia ra tả và hữu, trên trán đều thích chữ “Thiên tử quân” […] Lại chia ra bốn bộ là Tả, Hữu, Tiền, Hậu, gộp lại là 100 đội. Mỗi đội đều có quân trú chiến và quân thác chiến. Còn người và ngựa của quân Phiên thì chia riêng làm đội khác, không cho lẫn lộn với quân khác để phòng sự biến loạn, gần đâu thì cho họ lệ thuộc vào đó.(27) Mô hình quân đội của Lý Thánh Tông đã đạt được trình độ cao đến mức một võ quan nhà Tống là Thái Diên Khánh phải áp dụng, và được Tống Thần Tông khen ngợi.

Mở mang Nho học

Năm 1070, nhà vua đã xây dựng Văn miếu và tạc tượng thờ Chu Công, Khổng Tử cùng 4 học trò xuất sắc.

Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái tử đến học ở đây.(28)

Đối ngoại

Về chính sách đối ngoại, trong thời gian trị vì, vua Lý Thánh Tông đạt được nhiều thành tựu. Năm 1068, Chiêm Thành sang quấy nhiễu ở phía biên giới của Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông đã quyết định thực hiện việc mở chiến dịch đánh Chiêm. Đến năm Kỷ Dậu (1069), vua Lý Thánh Tông đánh thắng quân Chiêm Thành: “Tháng 2, mùa xuân, nhà vua tự làm tướng đi đánh Chiêm Thành, bắt được chúa Chiêm là Chế Củ đem về”.(29) 

Sau thất bại nặng nề, chúa Chiêm Thành quyết định dâng đất của 3 châu cho vua Lý Thánh Tông. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 3, mặt khắc 29 nhắc đến việc này như sau: “Chúa Chiêm Thành là Chế Củ dâng đất ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để xin về nước, vua ưng thuận”(30). Vua Lý Thánh Tông đã lấy 3 châu ấy và tha cho Chế Củ về nước. Những châu ấy nay ở địa hạt các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch.

Lý Thánh Tông – một thiền sư, cư sĩ, được coi là vị Tổ thứ hai của Thiền phái Thảo Đường

Lý Thánh Tông còn là một tín đồ Phật giáo mộ đạo. Sử sách lưu lại những công hạng tiêu biểu của Vua Lý Thánh Tông trức tiếp với Phật giáo:

– Bính Thân, năm thứ 3 [1056]. Mùa xuân, tháng giêng nước Chân Lạp sang cống. […] Làm chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn. Vua thân làm bài minh.

– Đinh Dậu, năm thứ 4 [1057]. Mùa xuân, tháng giêng, xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên cao vài chục trượng, theo kiểu 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên).

– Mùa đông, tháng 12, làm hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ. Đúc hai pho tượng Phạn Vương và Đế Thích bằng vàng để phụng thờ.

– Quý Mão, năm thứ 5 [1063]. Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mươi mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh hoàng tử Càn Đức tức Nhân Tông, (Tục truyền rằng vua cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, nhân đi chơi khắp các chùa quán, xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ nép trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân. Vua muốn có con trai, sai Bông đem hương cầu đảo ở chùa Thánh Chúa. Nhà sư dậy cho Bông thuật đầu thai thác hoá. Bông nghe theo. Việc phát giác, đem chém Bông ở trước cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là Đồng Bông. Chùa ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Đồng Bông ở phía Tây trước cửa chùa, nay hãy còn.

Mùa hạ, tháng 4, vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục lại rằng: “Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót, từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm”.

– Bính Ngọ, năm thứ 1 [1066]. Mùa xuân, tháng giêng, ngày 25, giờ Hợi, hoàng tử Càn Đức sinh. Ngày hôm sau, lập làm hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá phong mẹ thái tử là Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi.

Mùa thu, tháng 9, sai lang tướng là Quách Mãn xây tháp ở núi Tiên Du .

Đổi hương Thổ Lỗi làm Hương Siêu Loại, vì là nơi sinh của Nguyên Phi.

Chiêm thành dâng voi trắng, sau lại quấy nhiễu biên giới.

– Kỷ Dậu, năm thứ 2 [1069], Mùa xuân, tháng 2, vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. trận này vua đánh chiêm thành mãi không được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hoá hoà hợp. Trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm, vua nói: “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?”. Bèn quay lại đánh nữa, thắng được.
Mùa hạ, tháng 6 đem quân về. Mùa thu, tháng 7, vua từ Chiêm thành về đến nơi, dâng tù ở Thái Miếu, đổi niên hiệu là Thần Vũ năm thứ 1. Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính Để chuộc tội. Vua bằng lòng, tha cho Chế Củ về nước.

Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây.

– Tân Hợi , năm thứ 3 [1071]. Mùa xuân, tháng giêng, vua viết bia chữ “Phật” dài 1 trượng 6 thước đặt ở chùa Tiên Du.
Lý Thánh Tông còn là một thiền sư – cư sĩ, được coi là vị tổ thứ hai của Thiền phái Thảo Đường – một trong ba dòng thiền chính tại Đại Việt thời đó. Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong sách Lý Thường Kiệt: lịch-sử ngoại-giao triều Lý, các biểu hiện thương dân của Thánh Tông xuất phát từ sự thấm nhuần tinh thần từ bi của Phật pháp, chứ không phải từ động cơ tuyên truyền chính trị.

Qua đời

Lý Nhật Tôn qua đời ở điện Hội Tiên vào ngày Canh Dần tháng 1 năm Nhâm Tý (1072), trị vì cả thảy 17 năm, hưởng dương 49 tuổi. Triều đình dâng miếu hiệu là Thánh Tông (聖宗), thụy hiệu là Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng đế (應天崇仁至道威慶龍祥明文睿武孝德聖神皇帝) và an táng ở Thọ Lăng (phủ Thiên Đức). 

Thái tử Lý Càn Đức khi đó mới 7 tuổi lên ngôi trước linh cữu Thánh Tông, tức Lý Nhân Tông. 

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:

Xót thương vì hình ngục, nhân từ với nhân dân, là việc đầu tiên của vương chính. Thánh Tông lo tù nhân trong ngục hoặc có kẻ vô tội mà chết vì đói rét, cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi sống, lo quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được giàu đủ. Lo dân thiếu ăn thì xuống chiếu khuyến nông, gặp năm đại hạn thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ chế độ, văn sự thi hành mau chóng bên trong; phía nam bình Chiêm; phía bắc đánh Tống, uy vũ biểu dương hiển hách bên ngoài. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác cũng vẫn là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngu ý chưa cho là phải.(31)

Chú thích

  1.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển III,  Thánh Tông Hoàng Đế, Nxb Khoa học Xã hội – Hà Nội, 2001, tr 105.
  2.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển III, Vua Thánh Tông, Nxb TP HCM, 2001,tr 46.
  3.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thái Tôn Hoàng Đế, sđd, tr 92,93.
  4.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thái Tôn Hoàng Đế, sđd, tr 95.
  5.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thái Tôn Hoàng Đế, sđd, tr 96.
  6.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thái Tôn Hoàng Đế, sđd, tr 97.  
  7.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thái Tôn Hoàng Đế, sđd, tr 97.
  8.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thái Tông, Nxb TP HCM, tr 43.
  9.  Ngô Sĩ Thì, Đại Việt sử ký tiền biên, bản Kỷ, quyển II, Lý Thái Tông, sđd, tr 231.
  10.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 46.
  11.  Ngô Sĩ Thì, Đại Việt sử ký tiền biên, bản Kỷ, quyển II, Lý Thái Tông, Nxb Khoa học Xã hội – Hà Nội, 1997, tr 224.
  12.  Nguyễn Thị Ngọc Mai, Vua Lý Thánh Tông qua tư liệu Mộc bản Triều Nguyễn, website Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh – Sở Nội Vụ, 13/03/2024.
  13.  Vạn thặng: Chữ “thặng” là cỗ xe. Vua dùng chữ vạn thặng để tự xưng: ý nói mình có hàng vạn cỗ xe.
  14.  Ngô Sĩ Thì, Đại Việt sử ký tiền biên, bản Kỷ, quyển II, Lý Thái Tông, sđd, tr 215.
  15.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển III, Thánh Tông Hoàng Đế, sđd, tr 105.
  16.  Nguyên bản: “Ngự thú thán” sưởi là than có vẽ hình con thú.
  17.  Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển III, Nxb Giáo dục – Hà Nội, 1998, tr 133.
  18.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 47. 
  19.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 46.  
  20.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 49. 
  21.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 52.
  22.  Ngô Sĩ Thì, Đại Việt sử ký tiền biên, bản Kỷ, quyển II, Lý Thái Tông, sđd, tr 282.
  23.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thái Tôn Hoàng Đế, sđd, tr 97.
  24.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 50.
  25.  Mũ phốc đầu: là mũ cánh chuồn. Loại mũ này xuất xứ từ đời nhà Đường (Trung Quốc), ta bắt chước theo.
  26.  Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược – Quyển II, Vua Thánh Tông, sđd, tr 48.
  27.  Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển III, sđd, tr 134.
  28.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thánh Tông Hoàng Đế, sđd, tr 108.
  29.  Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển III, sđd, tr 135.
  30.  Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển III, sđd, tr 137.
  31.  Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển II, Thánh Tông Hoàng Đế, sđd, tr 108.

Tham khảo

  1. Ngô Sĩ Liên, 2001, Đại Việt sử ký toàn thư, bản Kỷ, quyển III,  Thánh Tông Hoàng Đế, Nxb Khoa học Xã hội – Hà Nội.
  2. Ngô Sĩ Thì, 1997, Đại Việt sử ký tiền biên, bản Kỷ, quyển II, Lý Thái Tông, Nxb Khoa học Xã hội – Hà Nội
  3. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, 1998, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển III, Nxb Giáo dục – Hà Nội. 
  4. Khuyết danh, 2001, Đại Việt Sử Lược – Quyển III, Vua Thánh Tông, Nxb TP HCM.
  5. Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2004, Vua Lý Thánh Tông qua tư liệu Mộc bản Triều Nguyễn, website Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh – Sở Nội Vụ
  6. Vũ Khiêu, 2004, Danh nhân Hà Nội, Nxb Hà Nội. 
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
lý thánh tông

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)