Thời gian
Mồng 9 tháng Hai và 20 tháng Tám, chính hội 9 tháng Hai
Nhân vật thờ tự
- Linh Lang Vương, Mẫu Thiên Tiên, Lý Huệ Tông
Địa điểm
- Làng Vạn Phúc, Đội cấn, quận Ba Đình
Thủ Lệ, Cống Vị là năm
Hữu Tiệp, Vạn Bảo, Cống An, Ngọc Hà.
Trại Vạn Bảo sau đổi là trại Vạn Phúc có đình hàng tổng của khu Thập Tam Trại. Vạn Phúc có bốn xóm tương đương bốn giáp: giáp Thượng, giáp Hạ, giáp Trung, giáp Nam. Làng rộng, đất đai nhiều song lại kẹt vào hai giải hồ, hồ lớn quen gọi là đầm Cây Khế và hồ nhỏ quen gọi là hồ Trước Cửa. Khi phố Sơn Tây mở mang thì hồ Trước Cửa bị san lấp. Cụm di tích Vạn Phúc gồm đình Vạn Phúc, miếu Trắng và chùa Bát Tháp. Đình có nguồn gốc xa xưa từ thời xây dựng kinh đô Thăng Long. Khu vực này có ngôi đền thờ Linh Lang đại vương. Theo truyền thuyết, người là Hoàng Chân con thứ tư của vua Lý Thánh Tông (1054-1073), thân mẫu là Cảo nương, người làng Bồng Lai, Đan Phượng, Hà Tây. Khi quân Tống xâm lược, Linh Lang xin với vua cho đi dẹp giặc dưới sự chỉ huy của thái úy Lý Thường Kiệt. Vua ban cho voi và cờ để ra trận. Voi được dẫn tới, Linh Lang phất cờ, voi quỳ phục đón chào chủ tướng. Linh Lang cưỡi voi ra trận đa lùi được quân binh của giặc Tống là Triệu Tiết, Quách Quì. Chiều cuối năm 1077, Linh Lang cùng Chiêu Văn hy sinh tại bên sông Như Nguyệt. 269 nơi thờ ngài, trong đó có đền Vạn Phúc. Trải qua nhiều thời kỳ biến động, đền bị hư hỏng. Nhân dân địa phương sửa lại khu đến thành khu đình khang trang. Tòa tiền tế phía trước đại đình xây dựng vào triều vua Minh Mạng năm thứ 7 (1826). Còn hậu cung tôn tạo niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1904). Đình có cổng, tam quan, sân, hai dãy tảo mạc, nhà tiền tế. Trong di tích còn nhiều di vật, các mảng chạm khắc long, ly, qui, công phu. Miếu Trắng trước ở bên đường Ngọc Khánh. Do việc mở mang giao thông miếu chuyển vào cạnh đình Vạn Phúc. Miếu thờ Liễu Hạnh, chúa Sơn Trang, đức Trần Hưng Đạo, chúa Bảo Hà, mẫu Thiên Tiên cửu trùng. Trên phố Đội Cấn cách đình, miếu 500m có chùa Bát Tháp. Bài minh trên quả chuông (1803) cho biết chùa là một danh lam cổ tích huyền thiên thắng cảnh được lập từ triều Lý. Tấm bia đã gắn trên tường chùa lập năm Thành Thái thứ 9 (1897) ghi rõ chùa Núi Voi, trại Vạn Phúc, tổng Nội huyện Vĩnh Thuận là danh lam được nhập vào chùa Bát Tháp. Chùa Núi Voi chính là chùa Chân Giáo dựng năm Thuận Thiên 15 (1024) để vua Lý tiện đường ngự giá xem tụng kinh cầu Phật. Sau ông vua cuối cùng của triều Lý là Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái (Lý Chiêu Hoàng) ra tu ở chùa này. Tam quan chùa là ba khối tháp hai tầng, khôi giữa tầng trên có ba vòm cửa làm gác chuông, tầng dưới hai cột trụ áp bên, hai khối bên tầng trên cửa tròn, tầng dưới nhỏ hơn cửa chính.
Lễ hội
Cụm di tích của đình, miếu, chùa hàng tổng xa xưa gắn liền với lễ hội đền Voi Phục (Thủ Lệ) một trong tứ trấn Thăng Long. Đại hội phải vài chục năm mới có một kỳ, được sự thỏa thuận chung tất cả các làng trong hàng tổng. Một tháng trước hội, làng Thủ Lệ và làng Thụy Khuê sắp xếp đô kiệu. Có sáu hàng đô là thanh niên từ mười tám tuổi trở lên phải đẹp trai, khỏe mạnh, không vết sẹo trên mặt. Hai cai đám là hai cụ già đẹp lão, khỏe mạnh, gia đình song toàn. Hàng đô tập khênh kiệu bát công trong một tháng, khi rước mình khoác mặc khố bao đỏ, khăn vắt màu đỏ hoặc màu cánh sen. Đó là mảnh vải dài quá gối dùng ghim cài. Mũ hình bầu dục bằng vải đen, cầm quạt tầu màu xanh đỏ, đeo túi mạng tam tòng. Cụ cai mặc áo thụng đi hia, mũ tề, tay cầm trống khẩu điều khiển đô tùy. Ba giờ sáng ngày 10 tháng Hai phong áo bài vị để vào kiệu của Thủ Lệ rồi đợi đến bảy giờ sáng, có hàng đô của Thụy Khuê tới thay vai kiệu. Các hàng đô thay nhau giữ vai từng lớp tám người một, ai đỡ khéo không làm sóng bát nước thì được khen thưởng. Bảy giờ ba mươi phút, đám rước đi từ đền Voi Phục đến đình hàng tổng Vạn Phúc. Đi đầu là lá cờ lệnh to bằng chiếc chiếu, cờ nền trắng viền xanh đỏ có chữ “Lệnh” rồi đến quân lộ bộ. Hai bên đội trống, phường bát âm. Tiếp, đội ngũ cờ ngũ hành, đồng văn đeo trống kiệu, mười lăm quân cờ nữ, mười lăm quân cờ nam, một tướng cờ nữ, một tướng cờ nam. Quân cờ mặc áo đỏ, hai ngựa gỗ đặt trên hai xe có bánh, một đỏ, một trắng đi trước kiệu bát cống. Rồi một ông voi đan bằng mây đặt trên xe. Cờ tán tròn, cán trúc che cho kiệu đức ngài. Dọc đường từ Thủ Lệ tới Vạn Phúc dân làng cắm cờ đuôi nheo bát quái, ngũ sắc. Kiệu đi trong tiếng nhạc “lưu thủy hành vân” tưng bừng thôi thúc. Đám rước đi tới núi Bò, đô kiệu phải vừa khiêng vừa bò lên. Tám người bò, hai mươi tư người khênh, bò hai chân, một tay khác vịn kiệu (bò kiểu tượng trưng). Kiệu qua núi Bò đến núi Ngựa thì nghỉ thụ lộc.
Bảy giờ tối, đám rước vào đình trong ánh sáng lung linh của hàng trăm ngọn đuốc. Bài vị trong khám được rước vào hậu cung. Tại sân đình tổ chức hát nhả tơ, tổ tôm, xóc đĩa, cờ người. Bẩy giờ tối ngày 26 tháng Hai tổ chức đọc văn tế thánh. Tám giờ tối 29 tháng Hai, một cụ già áo thụng đỏ, quần đỏ, khăn đỏ làm lễ. Lễ xong, cụ già thay quần áo thường còn tung bộ áo đỏ, quần đỏ, khăn đỏ để cho mọi người xô vào xé ra từng mảnh, về may vào quần áo cho con cháu để lấy khước. Sáng ngày 30 tháng Hai rước kiệu hồi cung đền Thủ Lệ, lần này không phải bò.
Ngày nay do điều kiện đô thị hóa, đường sá không như xưa nên lễ hội Vạn Phúc cải biên theo hình thức mới. Ngày hội tổ chức vào ba ngày với sự tham gia của mười ba làng trại và nhiều cộng đồng di tích khác như ở Đình Bảng (Bắc Ninh) Bồng Lai (Hà Tây) cùng về dự. Ngày 8 tháng Hai, tám giờ tổ chức rước nước từ chùa Bát Tháp về đình Vạn Phúc. Mười giờ ba mươi phút tổ dược-sư của phụ lão tụng kinh tại đình, miếu, cầu quốc thái dân an. Mười ba giờ ba mươi phút đội nữ dâng hương. Ngày 9 tháng Hai, tám giờ làm lễ khai mạc đón các cộng đồng di tích, đại diện của chính quyền địa phương và các đoàn thể. Chín giờ ba mươi phút, dâng lễ của các dòng họ và các trại. Từ mười giờ có cuộc rước kiệu hành hương từ đình qua miếu tới chùa Bát Tháp. Trong nhịp chiêng, nhịp trống, trong khói trầm hương, không khí ngày hội rất huyền ảo. Tiếng trống ngũ lôi dồn dập lúc khoan thai, lúc dìu dặt. Xen giữa trống tế là trống cơm, trống bồng, tiếng thanh la, não bạt… rồi tiếng trống đại trầm hùng, tiếng chiêng cồng ngân nga. Điệu múa sênh tiền, mõ lộn, vui tai. Một thanh niên trang phục rực rỡ, hai tay múa sênh tiền theo nhạc bát âm, chân nhún nhảy. Một thanh niên khác trang phục múa đối xứng, gõ mō hòa nhịp với động tác nhảy lộn ngược chiều với người gõ sênh tiền. Rồi một chàng trai hóa trang thành cô gái, áo mớ ba mớ bảy, má phấn môi son răng hạt huyền khăn mỏ quạ, quàng qua vai những dải lụa ngũ sắc, đeo trước ngực chiếc trống bồng, sau lưng cắm chéo hai lá cờ đuôi nheo. Dáng điệu duyên dáng, mềm mại, tục xưa gọi “đã đánh bồng”. Điệu múa làm người ta có cảm giác thần linh ở đình, chùa gần dân hơn và có sự tôn vinh từ hai phía.
Hội đình hàng tổng Vạn Phúc gợi cho chúng ta niềm tự hào dân tộc, sự đoàn kết của các làng trại ở phía tây kinh thành Thăng Long ngàn xưa. Tiếng trống ngũ lôi với tám nhịp làm gốc gợi nhớ thời huy hoàng nước Đại Việt thời Lý, Trần.
Tham khảo
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001.



