Thông tin chung
Tất cả các bộ chính sử nước ta soạn thời phong kiến đều không ghi chép gì về Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, chính cung Hoàng Thái Hậu của Thái Tổ Cao Hoàng đế Mạc Đăng Dung. Nhưng có nhiều văn bia, tượng hậu Phật, cùng truyền thuyết dân gian lưu hành sâu rộng, nhất là ở huyện Nghị Dương (Kiến Thụy nay) trung tâm Dương Kinh triều Mạc. Theo các nguồn sử liệu trên, Bà người làng Trà Hương (tên Nôm làng Chè), huyện Nghị Dương, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương. Đến đời Nguyễn Minh Mạng (1820 – 1841) mới đổi là Trà Phương vì kiêng tên quốc húy. Làng Chè là một làng cổ, chắc hẳn đã tồn tại từ thời Hậu Lý (1010 – 1225), vì câu đối trước cửa chùa Thiên Phúc làng này hiện còn đôi câu đối chữ Hán:
Lý triều khai sáng danh lam cựu
Mạc đại trùng hưng cảnh sắc tân
Xuất thân
Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn xuất thân từ một vùng quê giàu truyền thống và nổi tiếng về vẻ đẹp lẫn nếp sống văn hóa. Bà sinh ra tại làng Trà Hương (còn gọi là làng Chè), huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương – nay thuộc thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Tên làng Trà Hương về sau được đổi thành Trà Phương vào năm 1813 dưới triều Nguyễn do kiêng quốc húy.
Bà là con gái của ông Vũ Quốc Hùng và bà Vũ Kim Hoàn, thuộc họ Vũ của làng Chè, một dòng họ được xem là vọng tộc của huyện Nghi Dương, xuất hiện ít nhất từ thời Hậu Lý. Ngay từ khi trưởng thành, bà đã nổi danh khắp vùng với sắc đẹp “quốc sắc thiên hương”, mày ngài mắt phượng, dung nhan rực rỡ như hoa, làn tóc mây buông nhẹ và dáng vẻ đằm thắm khiến dân gian tôn xưng là bậc giai nhân tuyệt sắc. Vùng đất Trà Phương vốn được xem là “địa linh sinh nhân kiệt”, với địa thế ruộng đồng mang hình gương, lược, dao cau là những linh tượng được cho là góp phần tạo nên nét đoan trang và nhan sắc của phụ nữ nơi đây. Chính vì vậy, câu ca “Cổ Trai Đế vương, Trà Phương Công chúa” đã trở thành niềm tự hào của nhân dân địa phương, gắn liền với danh tiếng của bà.
Cuộc đời
Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn sinh năm 1485 và mất năm 1590 tại Đông Kinh, thọ 105 tuổi, trải qua năm đời Hoàng đế nhà Mạc. Ngay từ khi còn trẻ, bà đã nổi danh khắp vùng với vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”.
Những câu thơ lưu truyền miêu tả về đẹp về vẻ đẹp của bà:
Thật là Quốc sắc thiên hương
Ôi! người con gái Trà Phương yêu kiều
Mày ngài mắt phượng mỹ miều
Làn môi tươi thắm bao nhiêu sắc hồng
Hàm răng như ngọc trắng trong
Tóc mây tha thướt tươi hồng làn da
Bà kết hôn với Mạc Đăng Dung khi ông còn hàn vi, làm nghề đánh cá, gia cảnh nghèo khó và không có ruộng đất. Từ khi về nhà chồng, cô gái làng Chè tần tảo buôn bán, giúp chồng ăn học, phát huy sở trường võ nghệ, giỏi vật, lại mời thầy dạy binh thư, binh pháp, góp phần lớn vào sự nghiệp lập công danh và dựng nghiệp đế vương của Mạc Đăng Dung. Nhờ sự trợ giúp của bà, ông không chỉ lập nên sự nghiệp mà còn giúp hai em ruột và con trai là Mạc Đăng Doanh (sau là Mạc Thái Tông) học hành thành đạt, được phong tước và hưởng quyền lợi trong triều. Khi Mạc Đăng Dung mở Phủ Cao tại quê vợ (khoảng năm 1511) để làm nơi cư trú và học tập, đây cũng là minh chứng cho mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa bà và phu quân trong việc xây dựng cơ nghiệp.
Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi vua, bà được tôn làm Hoàng hậu, cai quản nội cung với uy tín nghiêm minh, chính trực, sáng suốt và nhân từ. Sự quản lý tài tình của bà giúp triều Mạc tránh được tình trạng hoàng thân quốc thích cậy thế lộng hành, duy trì trật tự và pháp chế trong cung, điều mà nhiều triều đại phong kiến khác khó đạt được.
Hai mươi năm về làm dâu họ Mạc, bà Vũ Thị Ngọc Toàn không chỉ giúp chồng lập công danh, làm quân đầu triều mà còn giúp hai em ruột chồng là Mạc Đốc, Mạc Quyết, đích tử Mạc Đăng Doanh đều học hành thành đạt được vua Lê phong tước Từ Quận công, tín Tín Quận công. Khoảng đầu thời Quang Thiêu, Mạc Đăng Doanh được phong tước Dục Mỹ hầu, coi điện Kim Quang. Năm Canh Dần (1530) được nối ngôi cha, mười năm ở ngôi, vua xây dựng quốc gia thịnh trị, yên bình, được sử gia ca ngợi là bậc vua hiền. Khi chồng làm quan tại triều, Vũ phu nhân tranh thủ người đồng tộc, đồng hương là Vũ Hộ, quê làng Thù Du, nay thuộc xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, một tướng tài, làm chức Đô đốc, Tổng trấn xứ Sơn Tây, Thượng thư bộ Lễ Phạm Gia Mô, quê làng Lê Xá, Thái úy Nguyễn Như Quế, quê làng Thạch Lựu, huyện An Lão, một nhà giáo tài đức, đông học trò…..đồng tâm giúp chồng..
Góp công vào sự nghiệp chấn hưng Phật giáo thời kỳ Mạc
Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn được coi là một tấm gương mẫu mực, đồng thời là người tiên phong vận động Hoàng thân, quốc thích và các quan lại trong triều dốc lòng làm công đức, tu sửa chùa chiền, tô tượng và đúc chuông Phật. Theo ghi chép trên văn bia, bà trực tiếp cúng dường và tài trợ cho ít nhất 16 ngôi chùa từ năm 1557 đến tháng 5 năm 1589, tập trung chủ yếu ở vùng Dương Kinh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh và Bắc Ninh, trong đó riêng Hải Phòng đã có 9 ngôi chùa được bà quan tâm. Không giống các quý tộc khác, bà là người công đức nhiều nhất và dành số lượng tài sản, vàng bạc, ruộng đất lớn nhất cho việc Phật sự. Ước tính, bà đã cúng hơn 62 mẫu ruộng, tiêu biểu như chùa Hoa Tân (An Lão, Hải Phòng) được công đức 30 mẫu, chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu, Kiến Thụy) 23 mẫu và chùa Bảo Phúc (Yên Hưng, Quảng Yên) 6.000 lá vàng. Bên cạnh đó, bà còn đóng góp không biết bao nhiêu bạc tiền, gỗ, đúc nhiều pho tượng Phật. Bà đặc biệt quan tâm đến những nơi khó khăn, trong khi các chùa ở khu vực thuận lợi được bà công đức ít hơn, thể hiện qua việc bà tôn tạo chùa Bà Đanh (1563) tại quê nhà với 1 mẫu 9 sào ruộng để phục vụ Tam bảo, khác biệt rõ rệt so với các chùa lân cận như Thiên Phúc hay Hoa Tân.
Khi tuổi đã cao, trên trăm tuổi, bà về chùa làng để an nghỉ, nghe kinh, niệm Phật, nhưng tâm niệm chấn hưng Phật giáo vẫn luôn khắc sâu. Thậm chí, bà thường “mộng thấy việc tu bổ chùa” và sáng hôm sau sai người mang tiền đồng đến để sửa Tam quan, Từ vũ, tô tượng và đúc mới 4 pho tượng tại chùa Hà Lâu (xã Đông Minh, Tiên Lãng, Hải Phòng) vào năm 1589.
Văn bia chùa Quang Minh (xã Hậu Bổng, Gia Lộc, Hải Dương, 1579) có ghi:
…nay Thái hoàng Thái hậu là mẹ Thiên tử, là vị Phật sống trên trần gian, gieo trồng tám phúc điền, dựng chùa Phật để cầu đời đời con thánh, cháu hiền, xứng bậc đế vương
Nhận xét này, cùng với Lễ hội Minh Thề (lời thề trước thần Phật), nhắc nhở quan lại thực hành “dĩ công vi công, dĩ công vi tư thần linh đả tử”, đã được nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể tại chùa Hòa Liễu, Kiến Thụy, Hải Phòng. Phật giáo và giáo lý Phật pháp từ đó trở thành tấm gương và tâm nguyện hướng dẫn đời sống xã hội.
Đức Bà không chỉ là nhà kiến trúc thầm lặng bên cạnh Đức Ông, cùng khởi nghiệp Vương triều Mạc, mà còn là nhà tư tưởng về quan hệ xã hội, cách ứng xử đối nội, đối ngoại, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Phật giáo với tư tưởng “Nhân – Quả, Từ bi – Hỷ xả”. Hình tượng chim trên mũ Thái Tổ Mạc Đăng Dung tại chùa Trà Phương – tượng trưng cho thần điểu “có tiếng hát trong trẻo, giảng về Pháp vi diệu, ai nghe thấy có thể lĩnh hội Phật pháp” – thể hiện mong muốn truyền Pháp đến mọi chúng sinh, và cũng phản ánh tư tưởng Phật giáo đã ngấm sâu trong tâm thức Hoàng tộc Mạc.
Ngay cả ở tuổi trên trăm, Thái hoàng Thái hậu vẫn quan tâm đến việc tôn tạo chùa chiền, đặt tiền công đức, khơi dậy tấm lòng Phật pháp trong Hoàng tộc, con cháu và hậu duệ, nhờ đó được người đời tôn vinh là “Phật sống trần gian”. Di sản của bà trở thành nguồn cảm hứng cho hậu thế, là tấm gương sáng về lòng từ bi, trí tuệ, tinh thần dấn thân và công đức không mệt mỏi, góp phần khẳng định vai trò quan trọng của Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn trong sự nghiệp chấn hưng Phật giáo thời nhà Mạc.
Ngoài ra, bà còn khởi xướng Lễ hội Minh Thề từ năm 1561 nhằm chống tham nhũng, ban hành “Hịch văn Minh Thề” quy định quan chức phải trọng “chí công, vô tham” và tránh xâm phạm của công. Lễ hội được tổ chức hàng năm tại đền thờ bà ở làng Hòa Liễu, Kiến Thụy, và được công nhận là Di sản phi vật thể quốc gia năm 2017. Trong suốt đời sống, Vũ Thái Hoàng Thái hậu không chỉ quản lý nội cung một cách mẫu mực mà còn đóng góp to lớn về kinh tế, văn hóa và tôn giáo, trở thành hình mẫu về trí tuệ, đức hạnh và lòng từ bi.
Sự nghiệp và công đức của bà vượt trội so với nhiều chính cung Hoàng hậu trong lịch sử Việt Nam. Bà không chỉ giúp Mạc Đăng Dung dựng nghiệp đế vương mà còn để lại tấm gương sáng cho hậu thế về tu dưỡng bản thân, xây dựng gia đình và tham gia hoạt động xã hội, xứng đáng là một trong những nhân vật nữ quyền lực và có ảnh hưởng lớn nhất thời nhà Mạc.
Thái hoàng thái hậu họ Vũ và chính sách xã hội của nhà Mạc
Có ít nhất 3 cuốn sử chính thống, ca ngợi đời sống ấm no, an lạc của nhân dân ta dưới thời Mạc:
Theo Lê Quý Đôn
Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khíhoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mây năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn.
Về nội dung này, sách Toàn thư ghi như trên và thêm một số chỉ tiết:
Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chặn không phải đem về, chỉ cần môi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, công ngoài không đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên.
Phan Huy Chú nhân viết về về vua Mạc Đăng Doanh, cũng ca ngợi tình hình xã hội và đời sống của nhân dân đương thời:
Mạc Đăng Doanh tính tình khoan hậu. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khoá. Bấy giờ được mùa, nhà no người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình.
Một sự kiện lịch sử được các nhà sử học đồng thanh nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ rằng đó là một sự thật hiển nhiên, gây ấn tượng sâu sắc và hiếm có trong xã hội phong kiến nước ta. Đây là công lao của nhà Mạc, là một nét đẹp đặc biệt, không thể không nhấn mạnh.
Ở đây có thể bước đầu kết luận rằng chính Thái hoàng Thái hậu họ Vũ đã đóng góp tích cực cho việc thực hiện chính sách xã hội của nhà Mạc
Một số chính sách của nhà Mạc
Tình hình ấm no, an lạc trên đây, là kết quả tổng hợp của chính sách kinh tế, văn hóa tư tưởng của nhà Mạc, ở đây xin nêu rất tóm tắt:
- Về kinh tế trọng nông mà không ức thương, phát triển nông công thương kể cả ngoại thương
- Về văn hóa tư tưởng, rất sùng Nho, đồng thời sùng cả Phật, Lão, tín ngưỡng thần làng và văn hóa dân gian. Không cấm Thiên chúa giáo. Có nhiều biểu hiện về tinh thần nhân văn, tôn trọng con người, tôn trọng cá nhân.
Gắn bó với chính sách kinh tế, văn hóa trên, nhà Mạc thực thi một số chính sách xã hội như:
- Vận động một số nhà hữu sản, nhất là hoàng thân quốc thích có hằng tâm đem ruộng sẵn có hoặc mua ruộng cúng vào chùa. Theo thống kê của Vũ Duy Mền thì tổng cộng trong 18 trường hợp có 254 mẫu 8 sào ruộng cúng vào chùa. Thống kê này chưa đầy đủ, tuy nhiên cũng có thể làm căn cứ để chúng ta nhận xét như sau: “Việc cúng tiền ruộng vào chùa thịnh hành từ thời Lý- Trần, sang thời Mạc được mở rộng hơn”.
Số người thuộc hoàng thân nhà Mạc có vai trò quan trọng trong việc này. Có thể kể các vị sau đây (10/18 trường hợp):
- Thái hoàng Thái hậu họ Vũ;
- Thái hoàng thái hậu (không ghi họ, 4 trường hợp, cộng 31 mẫu) Nếu coi đây cũng là Thái hoàng thái hậu họ Vũ thì tổng cộng là 36 mẫu;
- Con gái thứ 2 Thái uý Tây quốc công Mạc Ngọc Ý;
- Thọ Phương Thái trưởng công chúa;
- Chính phi công chúa, (7 mẫu );
- Phan Trị, tước An Thọ Bá, (8 mẫu);
- Lê Văn Uyên, tước Trường Thọ Bá.
2. Lập các hội Thiện để tổ chức phong trào làm việc thiện “Các bia dựng trong các chùa, miếu cho biết hội Thiện khá phát triển. Từ các vương hầu tôn thất, quan lại tại vị hoặc hưu quan đến thường dân các làng xã đều đua nhau làm việc thiện… “
Trường hợp đặc biệt Thái hoàng thái hậu họ Vũ
Nhiều thông tin xác định, Bà là Hoàng hậu, chính cung của Thái tổ Mạc Đăng Dung, Bà đã có công lớn là lấy tiền riêng mua 25 mẫu 8 sào 2 thước cúng dâng Tam bảo chùa làng Hoà Liễu (xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng); đồng thời vận động hoàng thân quốc thích đóng góp thêm, tổng số ruộng lên tới 47 mẫu 3 sào, goi là ruộng nhà Thánh (Thánh điền). Số ruộng trên được dùng làm ba khoản chính:
- Khoản thứ nhất. Cấp cho việc cúng tế ở đền và chùa làng
- Khoản thứ hai. Cấp cho dân đinh, thượng hạ. Khi dân số ít thì chia đến tuổi 15, khi dân số tăng thì chia đến tuổi 18, mỗi người một sào, cày cấy thu hoạch, không phải nộp thuế. Chia theo cách bốc thăm công khai, già nhận trước, trẻ nhận sau, cứ 3 năm chia lại một lần.
- Khoản thứ ba. Cho đấu thầu cấy lấy thóc lập quỹ hội Thiện/nghĩa thương, khi đói khó cấp đỡ người nghèo, cô nhân, quả phụ, bảo dưỡng lát gạch đường làng. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 quỹ làng còn 3 tấn thóc, ủng hộ kháng chiến, số thóc cho người nghèo vay không thu lại nữa.
Cùng với việc cấp ruộng cho dân làng, Thái Hoàng Tháu Hậu là người công đức để xây dựng chùa với 6000 lá vàng, cùng không biết bao nhiêu tiền bạc cho trên 15 ngôi chùa ở khu vực Dương Kinh và phụ cận như: Chùa Linh Cảm (Tiên Sơn, Bắc Ninh) – 1557, chùa Bà Đanh (Kiến Thuỵ, Hải Phòng) – 1563, chùa Thiên Hựu (Nam Sách, Hải Dương) – 1571, chùa Minh Phúc (Tiên Lãng, Hải Phòng) – 1572, chùa Sùng Ân (Phù Cừ, Hưng Yên) – 1574, chùa Phổ Chiếu (Kiến Thuỵ, Hải Phòng) – 1579, chùa Thánh Thọ (Bình giang, Hải Dương) – 1579, chùa Minh Quang (Gia Lộc, Hải Dương) – 1579, chùa Hoa Tân (An Lão, Hải Phòng) – 1582, chùa Linh Sơn (An Lão, Hải Phòng) – 1583, chùa Báo Ân (Phù Cừ, Hưng Yên) – 1584, chùa Sùng Quang (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) – 1578, chùa Trúc Am (Kiến thuy, Hải Phòng) – 1589, chùa Hà Lâu (Tiên Lãng, Hải Phòng ) – 1589…. và chùa làng Hoà Liễu, có tên Thiên Phúc Tự xây dựng năm 1562.
Bà cũng là người “truyền cho” dân lễ minh thệ, để chống trộm cắp, tham nhũng. Nói cách khác Bà đã thực hiện ba chính sách lớn:
- “cải cách ruộng đất”, đem ruộng đến cho người cày một cách êm đềm, nhân từ mà rất có hiệu quả,
- Xóa đói giảm nghèo, cho đến cách mạng tháng 8 vẫn còn 3 tấn thóc
- Chống tham nhũng, tục “minh thệ” vẫn còn đến ngày nay.
Tóm lại, Thái hoàng Thái hậu là người đứng đầu trong việc thực hiên chính sách lớn của nhà Mạc gồm:
- Vận động các tư gia lấy tiền riêng mua ruộng cấp cho dân đinh cày cấy, thu hoa lợi, không phải nộp thuế,
- Một số ruộng cho cày cấy thu hoa lợi và lập hội Thiện để cứu đói cho những người quan quả cô đơn,
- Xây dựng rất nhiều chùa để hoằng dương Phật pháp, giáo dục lòng nhân từ bác ái, ngay thẳng thật thà .
Có người nói, có phong trào làm điều Thiện, xây dựng chùa là do “chiến tranh tàn khốc kéo dài, thiên tai thường xẩy ra, khiến cho dân cùng khốn, mất niềm tin, đến cửa Phật từ bi mong che chở hoặc cầu xin điều thiện”. Có thể chưa hẳn như vậy. Thực tế ở thời Mạc là những người có quyền hành, uy vọng đương thời thực sự có thiện tâm, có người suốt đời dốc lòng làm điều thiện, trong số đó, Thái hoàng Thái hậu Vũ thị Ngọc Toản là một tấm gương sáng ngời, cho con cháu muôn đời noi theo. Hành vi cao đẹp trên, không phải chỉ một vài người, đã có sức giáo dục mạnh mẽ, lôi cuốn xã hội. Nhờ đó mà cùng với các chính sách khác, đã tạo nên an ninh xã hội cao : “người đi đường không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, … trâu bò thả chăn không phải đem về,…có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình”
Thờ phụng
Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn được tôn vinh và thờ phụng rộng rãi nhờ những công đức to lớn mà bà để lại cho vương triều Mạc và xã hội, đặc biệt trong việc chấn hưng Phật giáo, chống tham nhũng và nâng cao phúc lợi cộng đồng. Bà được ca ngợi với những danh hiệu cao quý nhất, như “Mẫu nghi thiên hạ” và “Phật sống”, bởi bà đã dốc toàn bộ bổng lộc, tiền của mình để cúng dường Tam Bảo và lôi cuốn các vị trong Hoàng tộc noi theo. Văn bia thời Mạc tại chùa Quang Minh (Gia Lộc, Hải Dương, 1579) ghi rõ bà là “mẹ Thiên tử, là vị Phật sống trên trần gian”. Khi qua đời năm 1590, nhờ những đóng góp thiết thực cho dân làng như mua ruộng cấp cho người nghèo, tu sửa chùa chiền, tạc tượng và đúc chuông, bà được suy tôn là Thành Hoàng làng. Trên văn bia thời Mạc, bà còn được ca tụng là “bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn” (theo ghi chép về việc trùng tu chùa Bảo Lâm).
Sự thờ phụng Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tập trung chủ yếu tại quê hương bà ở Kiến Thụy, Hải Phòng. Bà được thờ tại đình làng Trà Phương, nơi đặt tượng thờ chính. Con cháu hai họ Mạc – Vũ đã dựng Đền Thánh Mẫu Mạc triều trong khuôn viên Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia Từ đường họ Mạc Cổ Trai (xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy) để phụng thờ chân linh thần tượng Đức Thánh Mẫu, cùng các Chính cung Hoàng hậu và vinh danh những phụ nữ tài đức xuất chúng của dòng họ. Khi quy ẩn tại chùa Trà Phương, bà thường nghe kinh, niệm Phật, và nơi đây cũng là nơi an táng bà; chùa còn lưu giữ bức phù điêu bằng đá tạc hình bà trong thế ngồi thiền, được công nhận là Bảo vật quốc gia. Ngoài ra, bà còn là biểu tượng nổi bật trong phong trào chấn hưng Phật giáo thời Mạc, trực tiếp công đức ở 16 ngôi chùa và được tạc tượng thờ như Tiên, Phật tại các chùa như Trà Phương, Hòa Liễu (Kiến Thụy) và Minh Phúc (Tiên Lãng). Hàng năm, lễ giỗ Thái Hoàng Thái Hậu được tổ chức long trọng, ví dụ vào ngày 13 và 14/6 Âm lịch tại Đền Thánh Mẫu Mạc triều, với sự tham gia của đại diện Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, HĐDH Vũ – Võ TP Hải Phòng và Hội đồng Vũ tộc Trà Phương.
Tại chùa Trà Hương (sau đổi thành chùa Trà Phương vào thời Gia Long do húy kị, nay đã trở lại tên cũ), còn lưu giữ tấm bia văn dựng vào ngày 26 tháng 8, năm Thuần Phúc sơ niên (1565). Tấm bia này ghi chép tóm tắt sự kiện Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cùng Khiêm vương Mạc Kính Điển, hơn mười thân vương, công chúa và các quan tướng chung sức hưng công xây dựng chùa, với nội dung như sau:
Thái hoàng Thái hậu, Khiêm Thái vương cúng 10 lạng bạc. Lị vương, Thuận vương cúng 5 lạng bạc. Vinh quốc Thái phu nhân 9 lạng 5 tiền. Tĩnh quốc Thái phu nhân 10 lạng. Bảo gia Thái trưởng Công chúa tiền 10 quan. Phúc nghi Thái trưởng Công chúa 1 lạng 8 tiền. Thọ phương Thái trưởng Công chúa 2 lạng 8 tiền. Phúc thành Thái trưởng Công chúa. Sùng Quốc công 5 lạng. Văn Quốc công 9 lạng 5 tiền. Ninh Quốc công 2 lạng. Triều Quận công 1 lạng. Phú Quận công 1 lạng. Trịnh Quận công gỗ lim 2 cây. Ngạn Quận công 1 lạng. Khang Quận công 1 lạng. An Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi. Vị Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi. Dương Quận công 1 lạng. Tuy Quận công 1 lạng, Thanh Uy hầu 1 lạng.
Dựng bia ngày 26 tháng 8, Thuần Phúc sơ niên.
Ruộng tín thí: Ngày 8 tháng 10 nhuận năm Bính Dần, Thái hoàng Thái hậu có ruộng của bản điện được cấp và mua mới tất cả là 1 mẫu 9 sào cúng vào Thiên Phúc tự làm của tam bảo.
Kê: Một mảnh xứ ngoại tổ cội 1 mẫu 9 sào tại xã Lan Ổ, huyện An Lão; phía Đông gần ruộng của cố Hương La hầu Vũ Trụ, Tây gần ruộng An Lộc bá Vũ Du Mỹ, Nam gần chằm, Bắc gần đường. Phần trên có bia ruộng cúng tiến làm của tam bảo, giao cho chùa để tiện cày cấy và khói hương thờ thánh. Nếu ai mai táng lên ruộng, phá hoại ruộng hoặc di chuyển bia ruộng đều bị chư phật chiếu xét, tru di ba đời.
Nay thề nguyện !
Một trong những di sản phi vật thể quan trọng gắn liền với sự tôn vinh bà là Lễ hội Minh Thề, tục thề trang nghiêm nhằm chống tham nhũng và bảo vệ quyền lợi dân chúng, yêu cầu quan chức đặt “chí công” lên trên lợi ích cá nhân. Bà là người đã đặt nền móng cho lễ hội này, với nghi thức uống máu ăn thề, truyền tải tinh thần trung thực, công bằng. Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 14 tháng Giêng tại đền thờ bà ở Hòa Liễu, Kiến Thụy và đã được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia năm 2017. Triều đình nhà Nguyễn thế kỷ XIX từng sắc phong cho lễ hội bốn chữ vàng “Mỹ tục khả phong”, ghi nhận giá trị đạo đức và tinh thần mà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn để lại cho hậu thế.
Tham khảo
- Vũ Thị Ngọc Toàn, Wikipedia.
- Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, trên trang haiphong.gov.vn, đăng tải ngày 25/10/2012.
- Lễ giỗ Thái hoàng Thái hậu Mạc triều Vũ Thị Ngọc Toàn năm Bính Thân – 2016, trên trang http://hovuvovietnam.com/.
- Thái hoàng Thái hậu vũ Thị Ngọc Toàn người dốc toàn tâm sức cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo thời kỳ nhà Mạc, trên trang www.vvhp.vn, đăng tải ngày 27/09/2023.
- GS.TS. Lê Thị Quý, Ngày xuân với Hội “Minh thề” chống tham nhũng nổi tiếng của Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thời Mạc, trên trang doithoaiphattrien.vn, đăng tải ngày 14/02/2025.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
General Information
Her full name was Vu Thi Nhu Ngoc (宇氏玉全, 1485–1590), also known by the honorifics Empress Vu (宇皇后) or Empress Tra Huong (茶香皇后). She was the principal consort of Mac Thai To and a model matriarch during the early establishment of the Mac dynasty.
Origin
Grand Empress Dowager Vu Thi Ngoc Toan was born into a rural region renowned for its cultural refinement and celebrated beauty. She was born in Tra Huong village (also known as Che village), Nghi Duong district, Kinh Mon prefecture, Hai Duong region—now Tra Phuong hamlet, Thuy Huong commune, Kien Thuy district, Hai Phong city. The village name was later changed to Tra Phuong in 1813 under the Nguyen dynasty to avoid the taboo of the imperial name.
She was the daughter of Vu Quoc Hung and Vu Kim Hoan, of the Vu family of Che village, a lineage recognized as an esteemed gentry family in Nghi Duong district, dating back at least to the late Ly period. From a young age, she became famous throughout the region for her “national beauty,” with delicate features, arched brows, phoenix-like eyes, radiant complexion, flowing hair, and graceful demeanor, earning her the reputation of an exceptionally beautiful woman. Tra Phuong land was regarded as a “sacred place producing remarkable people,” with fields shaped like a mirror, comb, and betel knife—symbols believed to contribute to the elegance and beauty of local women.
Thus, the local saying “Co Trai De Vuong, Tra Phuong Cong Chua” became a source of pride, reflecting her fame. As the principal wife of Mac Thai To, Mac Dang Dung, she married him during his humble beginnings, when he was a poor fisherman. According to the Mac family genealogy of Co Trai, she accompanied, assisted, and encouraged Mac Dang Dung in his early career, helping him pursue education and gradually rise to prominence, eventually founding the Mac dynasty.
Life
Grand Empress Dowager Vu Thi Ngoc Toan was born in 1485 and passed away in 1590 in Dong Kinh at the age of 104–105, spanning the reigns of five Mac emperors. Born into the renowned Vu family of Nghi Duong, in a region known for producing virtuous and talented individuals, she gained fame early for her “beauty capable of toppling cities.”
Traditional verses describe her beauty:
Truly a national beauty of heavenly fragrance
Oh! The charming girl of Tra Phuong
Arched brows and phoenix eyes, exquisite and fair
Lively red lips, pure white teeth
Flowing hair and radiant complexion
She married Mac Dang Dung while he was still poor, working as a fisherman, without land or property. After joining his household, she diligently managed trade, supported her husband’s education, cultivated his martial skills, invited teachers to instruct him in military strategy, and played a key role in his rise to power. With her assistance, he not only succeeded personally but also helped his younger brothers and his son, Mac Dang Doanh (later Mac Thai Tong), achieve academic success and gain official titles and privileges. When Mac Dang Dung established the Cao Residence in his wife’s village (around 1511) as a place of residence and study, it exemplified their close partnership in building his career.
Upon Mac Dang Dung’s ascension as emperor, she was honored as Grand Empress Dowager, managing the inner palace with authority, integrity, wisdom, and compassion. Her effective governance maintained order and law within the palace, curbing the abuse of power by royal relatives, an achievement not easily attained in other dynasties. She was regarded as the “silent architect” of Mac Dang Dung’s reforms, understanding the lives of the people and contributing practically to governance.
Contribution to the Revival of Buddhism under the Mac Dynasty
Grand Empress Dowager Vu Thi Ngoc Toan was a model of virtue and an early advocate encouraging royal family members and officials to dedicate themselves to Buddhist philanthropy, renovating temples, gilding statues, and casting bells. According to temple inscriptions, from 1557 to May 1589, she directly sponsored at least 16 temples, mainly in Duong Kinh, Hai Duong, Hung Yen, Quang Ninh, and Bac Ninh, with nine temples in Hai Phong alone. Unlike other nobles, she contributed the most and devoted significant wealth, land, and gold to Buddhist causes. It is estimated she donated over 62 mau of land, such as Hoa Tan Temple (An Lao, Hai Phong) with 30 mau, Thien Phuc Temple (Hoa Lieu, Kien Thuy) with 23 mau, and Bao Phuc Temple (Yen Hung, Quang Yen) with 6,000 gold sheets. She also donated money, timber, and funded numerous Buddha statues. She particularly supported temples in disadvantaged areas, as reflected in her renovation of Ba Danh Temple (1563) in her hometown with 1 mau 9 sao of land for the Three Jewels, contrasting with wealthier nearby temples like Thien Phuc and Hoa Tan.
Even in her centenarian years, she visited village temples to pray and recite sutras, maintaining her commitment to Buddhist revival. She reportedly “dreamed of temple repairs” and the next morning sent funds to repair temple gates, statues, and cast four new Buddha statues at Ha Lau Temple (Dong Minh, Tien Lang, Hai Phong) in 1589.
The Quang Minh Temple inscription (Hau Bong, Gia Loc, Hai Duong, 1579) records:
…now the Grand Empress Dowager is the mother of the Son of Heaven, a living Buddha on earth, sowing eight fields of merit, erecting temples to pray for virtuous descendants worthy of emperors
This legacy, along with the Minh The Festival (an oath before deities), reminding officials to “perform duties for public benefit, avoid private gain,” has been recognized as an intangible cultural heritage at Hoa Lieu Temple, Kien Thuy, Hai Phong. Buddhist teachings thus became a moral guide for social life.
She was not only a “silent architect” alongside Mac Dang Dung in founding the dynasty, but also a social thinker, influencing internal and external relations with the Buddhist-inspired principles of “Cause and Effect, Compassion, and Joyful Forgiveness.” The bird figure on Mac Dang Dung’s crown at Tra Phuong Temple—symbolizing a divine bird with a clear song teaching the Dharma—reflects her wish to propagate Buddhist teachings and the deep integration of Buddhism in the Mac royal consciousness.
Even past a hundred, the Grand Empress Dowager continued to restore temples, make donations, and inspire Buddhist devotion among the royal family and descendants, earning her the title “Living Buddha on Earth.” Her legacy became an enduring example of compassion, wisdom, dedication, and tireless merit, underscoring her significant role in reviving Buddhism during the Mac dynasty.
Anti-Corruption and the Minh The Festival
She also initiated the Minh The Festival in 1561 to combat corruption, issuing the “Minh The Edict” requiring officials to uphold integrity and avoid personal gain. The festival was held annually at her temple in Hoa Lieu, Kien Thuy, and recognized as a national intangible cultural heritage in 2017. The Nguyen dynasty in the 19th century granted it the four-character honorific “My Tuc Kha Phong,” acknowledging the moral and ethical legacy left by Grand Empress Dowager Vu Thi Ngoc Toan.
Veneration
Grand Empress Dowager Vu Thi Ngoc Toan is widely revered for her contributions to the Mac dynasty and society, particularly in Buddhist revival, anti-corruption, and community welfare. She is honored with titles such as “Mother of the Nation” and “Living Buddha” for her complete dedication of wealth to the Three Jewels and inspiring the royal family to follow suit. The Mac-era inscription at Quang Minh Temple (Gia Loc, Hai Duong, 1579) calls her “mother of the Son of Heaven, a living Buddha on earth.” Upon her death in 1590, she was venerated as the tutelary deity of her village for practical contributions such as land redistribution to the poor, temple restoration, statue creation, and bell casting.
Her veneration is centered in her hometown of Kien Thuy, Hai Phong. She is enshrined at Tra Phuong communal house, with a statue of her as the principal deity. Descendants of the Mac and Vu families built the Mac Dynasty Holy Mother Temple within the National Historical Site of the Co Trai Mac Clan Ancestral Hall (Ngu Doan, Kien Thuy) to honor her spirit, alongside other principal consorts and exemplary women of the lineage. At Tra Phuong Temple, where she retired, prayed, and was interred, a stone relief depicting her in meditation is preserved as a National Treasure.
She is also commemorated for her role in revitalizing Buddhism, sponsoring 16 temples, and being enshrined as a deity in temples such as Tra Phuong, Hoa Lieu (Kien Thuy), and Minh Phuc (Tien Lang). The annual death anniversary is celebrated on the 13th and 14th of the sixth lunar month at the Mac Dynasty Holy Mother Temple, with participation from the Vietnam Mac Clan Council, Hai Phong Vu-Vo Council, and Vu Clan Council of Tra Phuong.
At Tra Huong Temple (later renamed Tra Phuong under Gia Long, now reverted to its original name), a stone inscription dated August 26, first year of Thuan Phuc (1565) records her contributions alongside Khiem King Mac Kinh Dien, over ten princes, princesses, and officials to temple construction and restoration. The inscription details donations of money, land, and labor, ensuring offerings and protection of temple property, with curses against desecration.
The Minh The Festival, an intangible cultural heritage, remains a key legacy, promoting anti-corruption and public welfare, emphasizing “integrity above personal gain,” established by Grand Empress Dowager Vu Thi Ngoc Toan. The festival is held annually on the 14th day of the first lunar month at her temple in Hoa Lieu, Kien Thuy, reflecting her enduring moral and cultural influence.
References
- Vũ Thị Ngọc Toàn, Wikipedia.
- Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, trên trang haiphong.gov.vn, đăng tải ngày 25/10/2012.
- Lễ giỗ Thái hoàng Thái hậu Mạc triều Vũ Thị Ngọc Toàn năm Bính Thân – 2016, trên trang http://hovuvovietnam.com/.
- Thái hoàng Thái hậu vũ Thị Ngọc Toàn người dốc toàn tâm sức cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo thời kỳ nhà Mạc, trên trang www.vvhp.vn, đăng tải ngày 27/09/2023.
- GS.TS. Lê Thị Quý, Ngày xuân với Hội “Minh thề” chống tham nhũng nổi tiếng của Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thời Mạc, trên trang doithoaiphattrien.vn, đăng tải ngày 14/02/2025.
Tiếng Trung (中文)
基本信息
她全名为武氏玉全(宇氏玉全,1485–1590),亦称武皇后(宇皇后)或茶香皇后(茶香皇后),为莫朝 太祖正室,是建立王朝初期典型的母仪之德人物。
出身
太皇太后武氏玉全出身于一个传统深厚、以美貌与文化生活闻名的乡村。她出生于海阳府庆门辖下的宜阳县茶香乡(亦称茶村),今属海防市建瑞县瑞乡茶芳村。茶香乡在1813年阮朝为避国讳改名为茶芳。
她是茶村武氏家族之女,其父为武国雄,母为武金环。武氏家族自后李时期即有记载,被视为宜阳县的望族。自幼成年,武氏玉全以“国色天香”闻名乡里,凤眉丹眼,容颜如花,云鬓轻垂,气质温婉,被民间尊称为绝代佳人。茶芳地区被视为“地灵出英才”,田地呈镜、梳、槟榔刀形状,被认为有助于培养女子端庄与美貌。
因此,有俗语:“古寨帝王,茶芳公主”,成为当地人民的骄傲,也与她的声誉紧密相连。作为莫太祖莫登庸(Mac Dang Dung)之正室,她自寒微时期便与之结缘,当时莫登庸以捕鱼为生,家境贫寒。据古寨莫氏家谱记载,她陪伴、帮助并鼓励莫登庸学习、逐步步入仕途,为其日后建立王朝打下基础。
生平
太皇太后武氏玉全生于1485年,卒于1590年于东京(今河内),享年约104至105岁,历经莫朝五位皇帝。她出身于望族武氏,自幼生于地灵人杰之地,往往孕育德才兼备的人物。年少时,她已以“倾国倾城”的美貌闻名。
民间流传的诗句描绘她的美丽:
真是国色天香
哦!茶芳村的美人娇媚
凤眉丹眼美丽
樱唇鲜艳红润
牙齿洁白如玉
云鬓轻垂肌肤粉红
她与莫登庸成婚时,莫尚寒微,家无田产。入门后,她勤劳经营,帮助丈夫学习,发挥武艺特长,擅长摔跤,并聘请师傅讲授兵书、兵法,为莫登庸的仕途与立业作出重大贡献。她的支持不仅使丈夫建功立业,还帮助其两位兄弟及儿子莫登颐(后为莫太宗)学有所成,获封爵位并享朝廷待遇。约1511年,莫登庸在妻家建立高府作为居住与学业场所,体现两人共同建设基业的紧密关系。
莫登庸登基后,武氏玉全被尊为太皇太后,掌管内宫,以威严、公正、睿智和仁慈著称。她的精明治理帮助莫朝避免了宗室与王族滥权现象,维护宫廷秩序与法制,这在其他封建王朝难以实现。她亦被视为莫登庸改革国家的“无名建筑师”,深谙民生并作出实质贡献。
对莫朝佛教振兴的贡献
太皇太后武氏玉全被视为模范,并率先动员宗室、官员行善,修缮寺庙、塑像、铸钟。据石碑记载,自1557年至1589年5月,她至少资助16座寺庙,主要分布在阳京、海阳、兴安、广宁与北宁地区,其中海防市就有9座寺庙。与其他贵族不同,她在佛事上出资最多,捐赠田产、金银最多。估计她捐出超过62亩田地,例如海防市安老的花新寺捐30亩,建柳寺23亩,广宁的保福寺捐6,000张金箔。同时,她还捐赠大量银钱、木材,并铸造多尊佛像。她特别关注偏远地区的寺庙,如1563年在家乡修缮巴贞寺,捐田1亩9分,用于供养三宝,显示她对寺庙的照顾区别明显于邻近寺庙。
高龄时,她在乡村寺庙修行,听经念佛,心念佛教振兴。她常“梦见寺庙修缮”,翌日即派人捐钱修建三门、慈雨楼,塑像并在1589年铸造哈楼寺4尊佛像。
光明寺(海阳嘉禄乡,1579年)石碑记载:
…今太皇太后为天子母,世间活佛,种植八福田,建佛寺以祈世代子孙贤良,堪为帝王之列
这一评价及明誓节(对神佛立誓)提醒官员“以公为公,以公为私,神明作证”,被官方认定为海防建瑞县和柳村无形文化遗产。佛教与佛法自此成为社会行为规范与精神指南。
太皇太后不仅是莫朝创业时期的“无名建筑师”,亦为社会关系与内外政务的思想家,深受佛教“因果、慈悲、喜舍”思想影响。茶芳寺莫太祖帽饰上的鸟,象征“清脆歌声宣讲法妙,众生闻之可悟佛法”,体现佛法渗透王室意识。
即便百岁高龄,太皇太后仍关心寺庙修缮、出资善业、激发王族、子孙佛心,因此被尊为“世间活佛”。其遗产成为后世楷模,展示慈悲、智慧、奉献精神和不懈善行,确立其在莫朝佛教振兴中的重要角色。
此外,她自1561年发起明誓节以反腐,颁布《明誓诏文》,要求官员重“公义、无私”,保护民利。此节每年农历正月十四在建瑞县和柳村其祠举行,2017年被认定为国家级非物质文化遗产。太皇太后终生不仅治理内宫有方,还在经济、文化、宗教上作出巨大贡献,成为智慧、德行与慈悲的典范。
她的业绩远超许多越南历史上的正室皇后,不仅助莫登庸建立王朝,也为后世树立修身、治家、参与社会事务的榜样,是莫朝最具影响力女性之一。
祭祀
太皇太后武氏玉全因其对莫朝及社会的重大贡献,尤其在佛教振兴、反腐及社会福利方面而被广泛祭祀。她被尊为“天下母仪”、“世间活佛”,倾其俸禄、财产供养三宝,并带动王族效仿。光明寺(海阳嘉禄,1579年)石碑记载她为“天子母,世间活佛”。1590年去世后,她因资助购田施贫、修寺塑像铸钟而被乡民奉为城隍。莫朝碑文称其为“圣朝圣母,正位东朝,化作南国,德比道山”。
祭祀主要在其家乡海防市建瑞县茶芳村举行,她的塑像供奉于村祠。莫、武两家子孙在古寨莫氏祠堂(五端社,建瑞县)内建莫朝圣母庙,祭祀其灵位及历代正室皇后,并表彰家族杰出女性。她隐居茶芳寺时常听经念佛,寺中亦为安葬之地,并保存其坐禅石雕壁画,列为国宝。她也是莫朝佛教振兴运动的重要象征,资助16座寺庙,并在茶芳、和柳(建瑞)及明福(仙郎)寺塑像供奉。每年农历6月13、14日于莫朝圣母庙举行盛大祭祀,由越南莫氏会、海防市武-武氏宗亲会及茶芳武氏宗亲会参加。
茶香寺(嘉隆时改名茶芳寺,后恢复原名)保存1565年8月26日立碑,记载太皇太后与谦王莫敬典、十余宗王、公主及官员共同建设寺庙事迹:
太皇太后、谦王各献10两银。礼王、顺王各献5两。荣国太夫人9两5钱。静国太夫人10两。保家太长公主10贯。福仪太长公主1两8钱。寿方太长公主2两8钱。福成太长公主。崇国公5两。文国公9两5钱。宁国公2两。朝郡公1两。富郡公1两。郑郡公2根紫檀木。岩郡公1两。康郡公1两。安郡公1两,耳环1对。微郡公1两,耳环1对。阳郡公1两。绥郡公1两,青威侯1两。
立碑于Thuan Phuc初年8月26日。
信田:丙寅闰10月8日,太皇太后捐出府内购得及新购1亩9分田作天福寺三宝。
誓言
与她相关的重要非物质遗产之一为明誓节,庄严立誓以反腐、保护民利,要求官员重公义。太皇太后创立该节,以饮血誓盟,传达诚信、公平精神。每年农历正月十四在建瑞县和柳村她的祠堂举行,2017年被认定为国家级非物质文化遗产。19世纪阮朝赐四字金匾“美俗可封”,以表彰她留给后世的道德与精神价值。
参考文献
- Vũ Thị Ngọc Toàn, Wikipedia.
- Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, trên trang haiphong.gov.vn, đăng tải ngày 25/10/2012.
- Lễ giỗ Thái hoàng Thái hậu Mạc triều Vũ Thị Ngọc Toàn năm Bính Thân – 2016, trên trang http://hovuvovietnam.com/.
- Thái hoàng Thái hậu vũ Thị Ngọc Toàn người dốc toàn tâm sức cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo thời kỳ nhà Mạc, trên trang www.vvhp.vn, đăng tải ngày 27/09/2023.
- GS.TS. Lê Thị Quý, Ngày xuân với Hội “Minh thề” chống tham nhũng nổi tiếng của Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thời Mạc, trên trang doithoaiphattrien.vn, đăng tải ngày 14/02/2025.
Tiếng Pháp (Français’)
Informations générales
Son nom complet est Vu Thi Nhu Ngoc (宇氏玉全, 1485–1590), également connue sous les titres d’Impératrice Vu (宇皇后) ou d’Impératrice Tra Huong (茶香皇后). Elle était l’épouse légitime de l’empereur fondateur Mac Thai To et un modèle de matriarche exemplaire lors des débuts de la dynastie Mac.
Origine
L’Impératrice Mère Vu Thi Ngoc Toan était originaire d’une région rurale riche en traditions et réputée pour la beauté et la culture de ses habitants. Elle est née au village de Tra Huong (également appelé village du Thé), district de Nghi Duong, préfecture de Kinh Mon, province de Hai Duong — aujourd’hui le hameau de Tra Phuong, commune de Thuy Huong, district de Kien Thuy, ville de Hai Phong. Le nom du village Tra Huong fut changé en Tra Phuong en 1813 sous la dynastie Nguyen par respect du nom sacré de l’empereur.
Elle était la fille de Vu Quoc Hung et de Vu Kim Hoan, appartenant à la famille Vu du village du Thé, une lignée reconnue comme noble du district de Nghi Duong, existant depuis au moins l’époque post-Ly. Dès son jeune âge, elle était célèbre dans toute la région pour sa beauté « nationale et céleste », avec des sourcils délicats et des yeux en forme de phénix, un visage éclatant comme une fleur, des cheveux soyeux et une démarche gracieuse, si bien que la population la considérait comme une beauté incomparable. Le terroir de Tra Phuong était réputé comme « terre spirituelle donnant des talents » et ses champs, en forme de miroir, peigne et couteau, étaient considérés comme des symboles sacrés contribuant à la grâce et à la beauté des femmes locales.
Ainsi, le dicton « Co Trai de vương, Tra Phuong Cong chua » est devenu une fierté locale, lié à sa renommée. Épouse légitime de Mac Thai To, Mac Dang Dung, elle l’accompagna dès ses humbles débuts, alors qu’il était pêcheur et issu d’une famille pauvre. Selon la généalogie des Mac de Co Trai, c’est elle qui l’accompagna, le soutint et l’encouragea à étudier et à bâtir sa carrière, contribuant à son accession au trône.
Vie
L’Impératrice Mère Vu Thi Ngoc Toan est née en 1485 et décédée en 1590 à Dong Kinh, à l’âge d’environ 104-105 ans, ayant vécu sous cinq empereurs de la dynastie Mac. Elle appartenait à la célèbre famille Vu, reconnue comme noble, et naquit dans une région réputée pour produire des personnes vertueuses et talentueuses. Dès son jeune âge, elle fut renommée pour sa beauté « qui fait pencher les royaumes ».
Les poèmes populaires décrivent sa beauté :
Véritable beauté nationale et céleste
O ! fille de Tra Phuong si gracieuse
Sourcils délicats, yeux de phénix
Lèvres roses éclatantes
Dents blanches comme jade
Cheveux soyeux flottant sur une peau claire
Elle épousa Mac Dang Dung alors qu’il était encore pauvre pêcheur. À la maison, elle travaillait dur, commerçait et soutenait son mari dans ses études, son entraînement martial et l’apprentissage des arts militaires. Elle contribua grandement à sa carrière et à l’établissement de la dynastie. Grâce à elle, ses frères et son fils Mac Dang Doanh (futur Mac Thai Tong) purent aussi étudier, recevoir des titres et des privilèges. Vers 1511, Mac Dang Dung établit la résidence Phu Cao chez sa femme, démontrant leur lien étroit dans la construction de leur carrière.
Lorsque Mac Dang Dung devint empereur, elle fut nommée Impératrice Mère et géra le palais avec autorité, intégrité, discernement et bienveillance. Sa gouvernance permit à la dynastie Mac de maintenir l’ordre et la loi dans le palais, ce que peu de dynasties pouvaient accomplir. Elle fut considérée comme « l’architecte silencieuse » des réformes du pays, attentive au bien-être du peuple et contribuant concrètement aux affaires de l’État.
Contribution à la renaissance du bouddhisme sous la dynastie Mac
L’Impératrice Mère Vu Thi Ngoc Toan est un modèle de vertu et un pionnier dans le soutien des membres de la famille royale et des fonctionnaires à financer et restaurer des pagodes, à orner des statues et à fondre des cloches bouddhistes. Les inscriptions montrent qu’entre 1557 et mai 1589, elle fit des donations directes à au moins 16 pagodes, principalement dans les régions de Duong Kinh, Hai Duong, Hung Yen, Quang Ninh et Bac Ninh, dont 9 à Hai Phong. Contrairement à d’autres nobles, elle offrit les plus grandes quantités de terres, d’or et d’argent pour des œuvres bouddhistes. On estime qu’elle donna plus de 62 mau de terres, par exemple 30 mau à la pagode Hoa Tan, 23 mau à la pagode Thien Phuc, et 6 000 feuilles d’or à la pagode Bao Phuc. Elle contribua également en argent, bois et statues. Elle privilégia particulièrement les lieux défavorisés, comme la pagode Ba Danh (1563), où elle offrit 1 mau 9 sao de terres pour le culte, contrairement aux pagodes voisines plus favorisées.
Même centenaire, elle continuait à superviser les travaux de restauration, faisant don de fonds et incitant la famille royale à pratiquer le bouddhisme, étant considérée comme un « Bouddha vivant sur Terre ». Elle fonda le festival Minh The en 1561 pour lutter contre la corruption, exigeant des fonctionnaires honnêteté et justice. Ce festival annuel a lieu au temple qui lui est dédié à Hoa Lieu, Kien Thuy, et a été reconnu patrimoine immatériel national en 2017.
Adoration
L’Impératrice Mère Vu Thi Ngoc Toan est vénérée pour ses contributions à la dynastie Mac, à la société, au bouddhisme, à la lutte contre la corruption et au bien-être communautaire. Elle est honorée avec des titres prestigieux comme « Mẫu nghi thiên hạ » (Mère suprême de l’Empire) et « Bouddha vivant ». Les généalogies Mac et Vu ont érigé le Temple de la Sainte Mère de la dynastie Mac dans l’enceinte de la résidence historique de Co Trai (Ngũ Doan, Kien Thuy) pour vénérer son esprit et celui des impératrices légitimes.
Elle est enterrée au temple Tra Phuong, qui conserve une sculpture en pierre la représentant en méditation, reconnue trésor national. Elle est également représentée dans le mouvement de renaissance bouddhiste sous la dynastie Mac, avec des donations à 16 pagodes et des statues érigées comme divinités bouddhistes. Chaque année, son anniversaire est célébré solennellement, par exemple les 13 et 14 juin du calendrier lunaire au temple de la Sainte Mère de la dynastie Mac, avec la participation des descendants et associations familiales.
Une des pierres d’inscription du temple Tra Huong (Tra Phuong) date du 26 août 1565, documentant sa contribution avec d’autres princes et fonctionnaires à la construction et au financement des pagodes. Elle fit également don de terres pour le culte et la subsistance du temple, sous peine de sanction divine pour ceux qui les endommageraient.
Le festival Minh The, fondé par elle, est un héritage immatériel important, promouvant l’honnêteté, la justice et la protection des droits du peuple.
Références
- Vũ Thị Ngọc Toàn, Wikipedia.
- Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, trên trang haiphong.gov.vn, đăng tải ngày 25/10/2012.
- Lễ giỗ Thái hoàng Thái hậu Mạc triều Vũ Thị Ngọc Toàn năm Bính Thân – 2016, trên trang http://hovuvovietnam.com/.
- Thái hoàng Thái hậu vũ Thị Ngọc Toàn người dốc toàn tâm sức cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo thời kỳ nhà Mạc, trên trang www.vvhp.vn, đăng tải ngày 27/09/2023.
- GS.TS. Lê Thị Quý, Ngày xuân với Hội “Minh thề” chống tham nhũng nổi tiếng của Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thời Mạc, trên trang doithoaiphattrien.vn, đăng tải ngày 14/02/2025.


