Tên gọi và vị trí địa lý
Đền thờ Tể tướng Nguyễn Công Thái hay còn gọi là Nguyễn tướng công từ toạ lạc trong con ngõ nhỏ số 25, tổ 26, phường Hoàng Liệt Hà Nội, với diện tích 418,4m2. Ngôi đền trông ra hướng Tây, trước mặt là đường đi, phía sau và hai bên tiếp giáp với khu dân cư.
Lịch sử và nhân vật
Nguyễn Công Thái sinh ngày mùng Một tháng 10 năm Giáp Tý (1684) trong một gia đình có truyền thống Nho học tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Đàm, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 18 tuổi (1702), thi đỗ Giải nguyên. Năm 31 tuổi (1715), Nguyễn Công Thái đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân, khoa thi Ất Mùi, sau đó được triều đình bổ nhiệm làm Giám sát ngự sử Nghệ An, Giám sát ngự sử Thanh Hóa, Đốc đồng Hải Dương, Tham chính Kinh Bắc. Năm 1724, được điều về Kinh, thăng chức Đông Các Hiệu thư. Năm Bảo Thái thứ 9 (1728), Nguyễn Công Thái tuân chỉ nhà vua tới Tuyên Quang (núi Tụ Long) để giải quyết việc cắm mốc biên giới với Bắc triều (nhà Thanh). Lần đi này, Ông đã mang về cho đất nước phần đất có các mỏ khoáng sản (mỏ đồng Tụ Long), lấy lại được 40 dặm. Cũng năm đó, Ông đỗ khoa Đông Các, được Vua phong thưởng kiêm chức Đông các Hiệu thư, thăng chức Ngự sử phó đô Kim lãnh bá. Năm Quý Sửu 1733, thăng chức Tả thị lang bộ Công, nhập bồi tụng, sau đó được thăng Binh bộ Thị lang. Năm 1735, thăng chức Tả thị lang bộ Lại, đồng thời phụng mệnh đến Lạng Sơn tuyên dụ bọn giặc cỏ làm phản phải quy hàng. Năm Canh Thân (1740), bọn nịnh thần trong triều làm loạn, chúa Trịnh Giang ăn chơi sa đọa, đời sống nhân dân lầm than đói khổ. Nguyễn Công Thái bí mật cùng một số đại thần như Nguyễn Quý Kính, cùng Thái phi Vũ Thị đưa chúa Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang. Năm Tân Dậu (1741), phụng lệnh tới Thanh Hóa quản nội trấn cơ đánh giặc được phong tước Quận công. Năm Nhâm Tuất (1742), thăng chức Thượng thư bộ Binh, hộ giá chinh phạt phía Nam dẹp giặc, bảo vệ chủ quyền đất nước, được ban Quản Tiền xa đội hầu kiệu võng. Năm Quý Hợi (1743) được thăng Thượng thư bộ Lễ, vâng chỉ ra Sơn Nam đánh giặc Hoàng Công Chất, dẹp Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương.
Nguyễn Công Thái qua đời ngày 21 tháng 11 năm đó (1758), hưởng thọ 74 tuổi.
Theo gia phả họ Nguyễn, ngôi đền được chúa Trịnh Sâm cho xây dựng vào năm Mậu Dần (1758), triều vua Lê Hiển Tông để báo hiếu với Thầy. Từ năm Chiêu Thống thứ 3 (1788), ngôi nhà được dòng họ Nguyễn lập làm từ đường. Gian giữa thờ Tể tướng Nguyễn Công Thái, gian bên phải thờ trưởng họ và gian trái thờ ngoại tổ.
Kiến trúc cảnh quan
Sang thời Nguyễn Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp là cháu đời thứ 4 của cụ Nguyễn Công Thái đã cho xây dựng thêm tòa Phương đình phía trước đền thờ. Năm 1888, đền thờ được trùng tu. Dấu vết của lần trùng tu này hiện còn lưu trên thượng lương nhà Phương đình với dòng chữ “Đồng Khánh tam niên tuế tại Mậu Tý quý đông” (tháng 12/1888). Tổng thể mặt bằng gồm: cổng đền, phương đình, đền chính, Tả mạc (nhà thờ Hậu), Hữu mạc (nhà thờ chi trưởng họ Nguyễn). Hệ thống di vật gồm hoành phi, câu đối, cửa võng, khám thờ, long ngai, hương án, bát hương, mâm bồng, đài nước, bi ký được tạo tác công phu. Đặc biệt là 3 tấm bia đá, trong đó có bia “Nguyễn Tướng Công từ” dựng năm Chiêu Thống thứ 3 (1788), được tạc bằng đá xanh, nét chữ khắc còn rõ, hoa văn sắc sảo. Nội dung bia về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Tể tướng Nguyễn Công Thái.
Nhà thờ hướng Tây- Nam, phía trước là đường làng, phía sau tiếp giáp với khu vườn của Nhà thờ danh nhân Nguyễn Trọng Hợp, hai bên tiếp giáp với khu dân cư. Toàn bộ khu nhà thờ bao gồm các hạng mục: cổng, bức bình phong, hai nhà tả hữu mạc, phương đình và nhà thờ.
Cổng nhà thờ: được xây với hai lớp cửa, trên một bình đồ dài 2,0 mét, rộng 1,6 mét; phía trên có mái tạo vòm cuốn. Phía ngoài, cạnh hai bên là hai cột trụ vuông, kích thước mỗi cạnh 0,4 mét, thân cột gắn các đôi câu đối bằng chữ Hán, đầu cột kiểu lồng đèn, đỉnh cột là hình hai con nghê hướng đầu về phía trước. Phía trên cửa đắp bốn chữ: “Nguyễn tướng công từ (từ đường tướng công họ Nguyễn).
Bức bình phong: xây bằng gạch, rộng 3 mét, cao 2,5 mét; hai bên bình phong là hai cột trụ vuông, kích thước mỗi cạnh 0,25 mét, trên đỉnh cột tạo dáng ngọn bút lông. Chính giữa bình phong là bức cuốn thư, phía trên trang trí để tài hoa văn triện, phía dưới trang trí để tài ngũ phúc khánh thọ (năm con dơi quay vào chữ thọ ở giữa, chữ thọ tròn được mở thủng khiến cho có thể nhìn thấy phía sau bình phong).
Hai nhà tả hữu vu: mỗi nhà gồm 3 gian, kích thước dài 7 mét, rộng 3 mét, cao 5 mét; nhà xây kiểu đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Hai ngôi nhà này xưa kia là nơi thờ hậu của dòng họ, ngày nay trong nhà vẫn có hai bệ thờ xây gạch.
Nhà phương đình: là một ngôi nhà vuông, nền cao hơn sân 0,35 mét, với hai cấp; cấp dưới rộng 3,4 mét, cấp trên rộng 3 mét. Bốn góc phương đình là bốn trụ vuông cao 2,5 mét, kích thước mỗi cạnh là 0,35 mét. Các cột trụ này cách nhau 2,0 mét; thân cột gắn câu đối ca ngợi công lao và tiết tháo của nhà Nho Nguyễn Công Thái. Phía trên các cột trụ để đỡ mái của phương đình là hai bộ vì gỗ kiểu giá chiêng, phần lòng giá chiêng che bằng hai ván gỗ, phía ngoài là những con rường cụt để đỡ hoành, các con rường được bào soi gờ và ăn mộng chắc chắn. Bốn mái của phương đình được lợp ngói ta; trên bờ dải có ghi niên đại tu sửa “Đồng Khánh tam niên” (1888).
Ngôi đền thờ chính: có kết cấu ba gian hai đĩ, tường xây kiểu đầu hồi bít đốc. Ngôi nhà có kích thước chiều dài là 9,0 mét, chiều rộng 5,2 mét, chiều cao 5,0 mét, chiều rộng mỗi gian là 2,5 mét. Nền nhà cao hơn sân 0,4 mét, được lát bằng đá hoa. Hiên ngôi nhà thờ rộng 0,75 mét. Phía ngoài là hai cột trụ vuông cao 3,0 mét, mỗi cạnh rộng 0,45 mét, đỉnh cột trang trí hoa văn lá lật, thân cột được gắn các đôi câu đối bằng chữ Hán. Bốn bộ vì đỡ mái ngôi nhà kết cấu kiểu kèo cầu quá giang, song mỗi quá giang đều có 2 cột đỡ. Cột đỡ có đường kính 0,25 mét, được kê trên những chân tảng đá tròn, đường kính 0,35 mét và cao hơn nền nhà 0,5 mét. Các bộ vì chủ yếu giữ chức năng chịu lực, không có trang trí hoạ tiết điêu khắc.
Đặc biệt, tại nhà thờ hiện còn lưu giữ được nhiều di vật có giá trị: hệ thống văn bia, hoành phi, câu đối và cuốn thế phả họ Nguyễn ở Kim Lũ- Thanh Trì do tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp biên soạn. Đáng lưu ý là tấm bia “Thượng thư Tể tướng công từ bi ký” do người con trai thứ 7 của Nguyễn Công Thái là Nguyễn Huy Tú soạn vào năm Chiêu Thống thứ 3 (1789), văn bia ghi chép khá kỹ về tiểu sử và hành trạng của Nguyễn Công Thái (từ tên tự, tên hiệu, học hành, thi cử, quan tước cho đến tính cách của cụ). Những di vật này luôn được con cháu trong dòng họ và nhân dân trong vùng trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị.
Xếp hạng
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định số 1900/QĐ-BVHTTDL ngày 29/6/2021 về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Công Thái, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
- Khánh Chi, 2021, Đền thờ và Lăng mộ Nguyễn Công Thái, thành phố Hà Nội, Cục Di sản văn hóa, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/den-tho-va-lang-mo-nguyen-cong-thai-thanh-pho-ha-noi-3385
- Nguyễn Thị Phượng, 2010, Di tích Nhà thờ danh nhân Nguyễn Công Thái, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/Tap%20chi%20DSVH/So%2032/3219_Di%20tich%20nha%20tho%20danh%20nhan%20Nguyen%20Cong%20Thai.pdf
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Temple of Grand Chancellor Nguyen Cong Thai
Location
The Temple of Grand Chancellor Nguyen Cong Thai, also known as Nguyen Tuong Cong Tu, is located in a small alley at No. 25, Residential Group 26, Dai Kim Ward, Hoang Mai District, Hanoi. It covers an area of 418.4 square meters. The temple faces west, with a road in front, while its rear and sides are adjacent to residential areas.
History and the Honored Figure
Nguyen Cong Thai was born on the first day of the 10th lunar month in the year of Giap Ty (1684), into a Confucian scholarly family in Kim Lu village, Thanh Dam district, Son Nam Thuong region. At the age of 18 (1702), he ranked first in the regional examination (Giai Nguyen). At 31 (1715), he obtained the Third-Rank Doctorate (Tien si) in the At Mui examination. He was subsequently appointed to positions such as Supervising Censor in Nghe An and Thanh Hoa, Provincial Inspector of Hai Duong, and Vice Governor of Kinh Bac.
In 1724, he was recalled to the capital and promoted to Dong Cac Hieu thu. In the 9th year of the Bao Thai era (1728), he was ordered by the king to go to Tuyen Quang (Tu Long mountain) to resolve border demarcation issues with the Qing dynasty. During this mission, he successfully secured territory containing valuable mineral resources (notably the Tu Long copper mine), reclaiming 40 dam of land. That same year, he passed the Dong Cac examination and was awarded the additional title Dong Cac Hieu thu, later promoted to Vice Chief Censor with the title Kim Lanh Ba.
In 1733, he was promoted to Left Vice Minister of Public Works and entered the council of state affairs, later becoming Vice Minister of War. In 1735, he served as Left Vice Minister of Personnel and was sent to Lang Son to persuade rebel groups to surrender.
In 1740, amid political turmoil caused by corrupt courtiers and the decadence of Lord Trinh Giang, which led to widespread hardship, Nguyen Cong Thai secretly collaborated with other high officials such as Nguyen Quy Kinh and Queen Mother Vu Thi to replace Trinh Giang with Trinh Doanh.
In 1741, he was sent to Thanh Hoa to command internal military forces and suppress rebellions, for which he was granted the noble title Quan Cong. In 1742, he was promoted to Minister of War, accompanying the ruler in southern campaigns to suppress insurgents and defend national sovereignty, and was granted command over elite guard units. In 1743, he became Minister of Rites and was dispatched to Son Nam to suppress the rebellion of Hoang Cong Chat, as well as Nguyen Cu and Nguyen Tuyen in Hai Duong.
According to the Nguyen family genealogy, the temple was built in 1758 (year of Mau Dan), during the reign of King Le Hien Tong, by order of Lord Trinh Sam in gratitude to his teacher. From the 3rd year of the Chieu Thong era (1788), the site was converted into the Nguyen family ancestral hall. The central chamber worships Grand Chancellor Nguyen Cong Thai; the right chamber honors the head of the lineage, and the left chamber venerates maternal ancestors.
Nguyen Cong Thai passed away on the 21st day of the 11th lunar month in 1758, at the age of 74.
Architecture and Landscape
During the Nguyen dynasty, his fourth-generation descendant, Doctor Nguyen Trong Hop, added a phuong dinh (square pavilion) in front of the temple. In 1888, the temple was renovated, as recorded on a beam inscription reading: “Dong Khanh tam nien, year of Mau Ty, late winter” (December 1888).
The overall layout includes: the entrance gate, screen wall, square pavilion, main sanctuary, left annex (for later worship), and right annex (for the main lineage branch). The site preserves numerous artifacts such as horizontal lacquered boards, parallel couplets, ornamental door hangings, altars, throne seats, incense tables, incense burners, offering trays, water pedestals, and stone steles.
Notably, there are three stone steles, including one titled “Nguyen Tuong Cong Tu,” erected in 1788, carved from green stone with clearly preserved inscriptions and refined decorative motifs. The inscription records the life and career of Nguyen Cong Thai.
The complex faces southwest, with a village road in front and a garden behind belonging to the ancestral house of Nguyen Trong Hop, while both sides adjoin residential areas.
- Entrance Gate: Built with two layers of doors, measuring 2.0 meters long and 1.6 meters wide, topped with an arched roof. On either side stand square pillars (0.4 meters each side), inscribed with Sino-Vietnamese couplets. The tops are shaped like lanterns, crowned with figures of nghe (mythical beasts). Above the gate is the inscription “Nguyen Tuong Cong Tu.”
- Screen Wall: Constructed of brick, 3 meters wide and 2.5 meters high, flanked by square pillars topped with brush-shaped finials. The center features a scroll motif, decorated above with seal patterns and below with the “Five Blessings Longevity” motif—five bats surrounding the character for longevity.
- Left and Right Annexes: Each has three bays (7m x 3m x 5m), built in gable-end style with traditional tile roofing. Originally used for ancestral worship, they still contain brick altars.
- Square Pavilion (Phuong Dinh): A square structure elevated above the courtyard, supported by four pillars (2.5 meters high), each inscribed with couplets praising Nguyen Cong Thai’s virtue and achievements. The wooden frame is constructed in the gia chieng style, with sturdy beams and traditional tiled roofing.
- Main Sanctuary: A three-bay, two-wing structure (9.0m x 5.2m x 5.0m), with a raised stone floor and a 0.75-meter-wide veranda. The pillars are decorated with floral motifs and couplets. The roof frame uses a keo cau qua giang structure supported by columns set on stone bases. The structure emphasizes load-bearing function with minimal decorative carving.
The temple preserves many valuable artifacts, including inscriptions, lacquered boards, couplets, and the Nguyen family genealogy of Kim Lu–Thanh Tri, compiled by Doctor Nguyen Trong Hop. Particularly noteworthy is the stele “Stele of the Temple of the Grand Chancellor,” composed in 1789 by Nguyen Huy Tu, Nguyen Cong Thai’s seventh son, which provides a detailed account of his life, career, and character. These artifacts are carefully preserved by descendants and local residents.
Recognition
The Ministry of Culture, Sports and Tourism issued Decision No. 1900/QD-BVHTTDL on June 29, 2021, recognizing the Tomb and Temple of Nguyen Cong Thai in Dai Kim Ward, Hoang Mai District, Hanoi, as a National Historical Site.
References
- Khánh Chi, 2021, Đền thờ và Lăng mộ Nguyễn Công Thái, thành phố Hà Nội, Cục Di sản văn hóa, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/den-tho-va-lang-mo-nguyen-cong-thai-thanh-pho-ha-noi-3385
- Nguyễn Thị Phượng, 2010, Di tích Nhà thờ danh nhân Nguyễn Công Thái, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/Tap%20chi%20DSVH/So%2032/3219_Di%20tich%20nha%20tho%20danh%20nhan%20Nguyen%20Cong%20Thai.pdf
Tiếng Pháp
Temple du Grand Chancelier Nguyen Cong Thai
Localisation
Le temple dédié au Grand Chancelier Nguyen Cong Thai, également appelé Nguyen tuong cong tu, est situé dans une petite ruelle au numéro 25, groupe résidentiel 26, quartier Dai Kim, arrondissement Hoang Mai, à Hanoi. Il couvre une superficie de 418,4 m². Le temple est orienté vers l’Ouest, avec une voie d’accès à l’avant et des zones résidentielles à l’arrière et sur les côtés.
Histoire et personnage vénéré
Cong Thai naquit le premier jour du dixième mois de l’année Giap Ty (1684), dans une famille de tradition confucéenne du village de Kim Lu, district de Thanh Dam, province de Son Nam Thuong. À 18 ans (1702), il obtint le premier rang aux examens (Giai Nguyen). À 31 ans (1715), il réussit le doctorat du troisième rang lors de l’examen At Mui, puis fut nommé successivement inspecteur impérial à Nghe An et Thanh Hoa, administrateur à Hai Duong et Tham chinh à Kinh Bac.
En 1724, il fut rappelé à la cour et promu compilateur à l’Académie Dong Cac. En 1728 (9e année de Bao Thai), il fut chargé par le roi de se rendre à Tuyen Quang (montagne Tu Long) pour régler la délimitation des frontières avec la dynastie Qing. Lors de cette mission, il récupéra pour le pays une région riche en ressources minières (mine de cuivre de Tu Long), soit environ 40 lieues de territoire. La même année, il fut promu vice-censeur en chef avec le titre de Kim Lanh ba.
En 1733, il devint vice-ministre des Travaux publics, puis entra au Conseil. Il fut ensuite promu vice-ministre de la Guerre. En 1735, il devint vice-ministre de l’Intérieur et fut envoyé à Lang Son pour persuader les rebelles de se soumettre.
En 1740, dans un contexte de troubles politiques sous le seigneur Trinh Giang, il participa secrètement, avec Nguyen Quy Kinh et la reine mère Vu Thi, à l’accession au pouvoir de Trinh Doanh. En 1741, il fut envoyé à Thanh Hoa pour réprimer des révoltes et reçut le titre de Quan cong. En 1742, il fut promu ministre de la Guerre, participant aux campagnes militaires au Sud pour défendre la souveraineté nationale. En 1743, il devint ministre des Rites et fut chargé de réprimer les rébellions à Son Nam et Hai Duong.
Selon la généalogie familiale, le temple fut construit en 1758, sous le règne du roi Le Hien Tong, sur ordre du seigneur Trinh Sam, en hommage à son maître. À partir de 1788, il devint le sanctuaire ancestral de la famille Nguyen.
Nguyen Cong Thai mourut le 21e jour du 11e mois de l’année 1758, à l’âge de 74 ans.
Architecture et paysage
Sous la dynastie Nguyen, Nguyen Trong Hop, docteur et descendant de la quatrième génération, fit construire un pavillon Phuong Dinh devant le temple. En 1888, le site fut restauré, comme en témoigne une inscription sur la poutre faîtière.
L’ensemble architectural comprend : le portail, le paravent, le pavillon Phuong Dinh, le sanctuaire principal, ainsi que les bâtiments latéraux (Ta mac et Huu mac). Le site conserve de nombreux objets anciens : panneaux horizontaux, distiques parallèles, autels, trônes rituels, brûle-parfums, plateaux d’offrandes et stèles en pierre.
Parmi celles-ci, trois stèles en pierre sont particulièrement remarquables, dont la stèle « Nguyen Tuong Cong Tu » datant de 1788, gravée avec finesse et relatant la vie et la carrière de Nguyen Cong Thai.
Le temple est orienté sud-ouest, avec une route à l’avant et des zones résidentielles autour.
- Le portail : construit avec deux portes, surmonté d’une voûte, flanqué de piliers décorés de distiques en caractères chinois et ornés de figures de nghê.
- Le paravent : décoré de motifs symboliques tels que les cinq chauves-souris entourant le caractère de longévité.
- Les bâtiments latéraux : chacun comporte trois travées, autrefois dédiés au culte des ancêtres de la lignée.
- Le pavillon Phuong Dinh : structure carrée avec quatre piliers portant des inscriptions louant les vertus de Nguyen Cong Thai.
- Le sanctuaire principal : bâtiment de trois travées, construit en maçonnerie, avec une charpente en bois traditionnelle.
Le site conserve également des documents précieux, notamment des stèles, des inscriptions et une généalogie familiale rédigée par Nguyen Trong Hop. Une stèle importante, intitulée « Thuong thu Te tuong cong tu bi ky » (1789), rédigée par Nguyen Huy Tu, retrace en détail la vie et la carrière du personnage.
Classement
Le ministère de la Culture, des Sports et du Tourisme a classé en 2021 (décision n°1900/QĐ-BVHTTDL du 29 juin 2021) le site comprenant le tombeau et le temple de Nguyen Cong Thai comme monument historique national.
Références
- Khánh Chi, 2021, Đền thờ và Lăng mộ Nguyễn Công Thái, thành phố Hà Nội, Cục Di sản văn hóa, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/den-tho-va-lang-mo-nguyen-cong-thai-thanh-pho-ha-noi-3385
- Nguyễn Thị Phượng, 2010, Di tích Nhà thờ danh nhân Nguyễn Công Thái, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/Tap%20chi%20DSVH/So%2032/3219_Di%20tich%20nha%20tho%20danh%20nhan%20Nguyen%20Cong%20Thai.pdf
Tiếng Trung
阮公泰宰相祠
位置
阮公泰宰相祠(Nguyen Cong Thai),又称“阮将公祠”,位于河内市黄梅郡大金坊第26组25号一条小巷内,占地面积418.4平方米。祠堂坐西向东,前临道路,后及两侧毗邻居民区。
历史与祭祀人物
阮公泰生于甲子年十月初一(1684年),出身于山南上镇清潭县金缕村一个具有儒学传统的家庭。18岁(1702年)中解元,31岁(1715年)登乙未科第三甲进士出身。其后历任乂安、清化监察御史,海阳督同,京北参政。
1724年调回京师,升东阁校书。保泰九年(1728年),奉命赴宣光(聚龙山)处理与北朝(清朝)的边界划界事务,此行收回约四十里土地,并取得聚龙铜矿资源。同年再登东阁科,晋升御史副都,封金领伯。
1733年(癸丑)升工部左侍郎,入陪从,后升兵部侍郎。1735年升吏部左侍郎,并奉命赴谅山招抚叛乱。1740年(庚申),朝政混乱、郑江荒淫,民生困苦,阮公泰与阮贵敬(Nguyen Quy Kinh)等大臣及武氏太妃共同拥立郑营(Trinh Doanh)取代郑江。
1741年(辛酉),奉命赴清化统辖军务,平乱有功,封郡公。1742年升兵部尚书,随驾南征,镇压叛乱、保卫国土。1743年升礼部尚书,奉命赴山南镇压黄公质叛乱,并平定海阳阮俱、阮选之乱。
据阮氏家谱记载,祠堂建于戊寅年(1758年),由郑森(Trinh Sam)在黎显宗(Le Hien Tong)朝下令修建,以报师恩。1788年(昭统三年),阮氏族人改建为宗祠,中间供奉阮公泰,右侧祀宗族长,左侧祀外祖。
阮公泰于1758年十一月二十一日去世,享年74岁。
建筑与景观
至阮朝时期,阮重合(Nguyen Trong Hop)(其第四代后裔)在祠前增建方亭。1888年重修,其痕迹仍存于方亭上梁题记“同庆三年岁在戊子季冬”。
整体布局包括:祠门、方亭、正祠、左廊(后祠)、右廊(宗族长房祠)。现存文物有匾额、对联、木雕门帘、神龛、龙座、香案、香炉、供盘、水台及碑刻等,工艺精美。尤为重要的是三通石碑,其中《阮将公祠碑》立于1788年,青石雕刻,字迹清晰,纹饰精致,记载阮公泰生平事迹。
祠堂整体朝西南,前为村路,后邻阮重合纪念祠园,左右为居民区。建筑包括:大门、照壁、左右廊、方亭及正祠。
祠门:双重门结构,长2.0米、宽1.6米,上覆拱形屋顶。外侧两方柱立对联,柱顶作灯笼形,并饰双猊。门额题“阮将公祠”。
照壁:砖砌,高2.5米、宽3米,两侧立柱呈毛笔形。中央为卷书式装饰,上饰篆纹,下饰“五福捧寿”(五蝠环绕“寿”字,中空可透视)。
左右廊房:各三间,长7米、宽3米、高5米,为封山墙硬山顶瓦屋,旧为族祠附属空间,今仍存砖砌供台。
方亭:方形建筑,台基高出庭院0.35米,分两级。四角立柱高2.5米,柱身刻对联,颂扬阮公泰功德。屋架为木构“价 chiêng”式,结构严谨,屋顶覆瓦,脊部题“同庆三年”(1888)。
正祠:三间两厦结构,长9米、宽5.2米、高5米,台基高0.4米,铺石地面。檐前立柱高3米,刻汉字对联。梁架为过梁式结构,承重为主,无雕饰。
祠内保存大量珍贵文物,包括碑刻、匾额、对联及由进士阮重合编纂的金缕阮氏族谱。尤为重要的是《尚书宰相公祠碑记》,由其第七子阮辉秀(Nguyen Huy Tu)撰于1789年,详载其生平、学业、仕途与品行。这些文物一直为族人与当地居民珍视保护。
评级
2021年6月29日,越南文化体育与旅游部颁布第1900/QĐ-BVHTTDL号决定,将河内市黄梅郡大金坊阮公泰陵墓及祠堂列为国家级历史文化遗迹。
參考
- Khánh Chi, 2021, Đền thờ và Lăng mộ Nguyễn Công Thái, thành phố Hà Nội, Cục Di sản văn hóa, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/den-tho-va-lang-mo-nguyen-cong-thai-thanh-pho-ha-noi-3385
- Nguyễn Thị Phượng, 2010, Di tích Nhà thờ danh nhân Nguyễn Công Thái, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/Tap%20chi%20DSVH/So%2032/3219_Di%20tich%20nha%20tho%20danh%20nhan%20Nguyen%20Cong%20Thai.pdf