Tên di sản: Lễ hội chùa Láng
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Chùa Láng (Chiêu Thiền tự), phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (nay thuộc phường Láng, thành phố Hà Nội) ; chùa Nền, chùa Tam Huyền, chùa Duệ Tú, chùa Hoa Lăng và các làng thuộc vùng Láng xưa.
Thời gian tổ chức: Từ ngày 5 đến ngày 8 tháng Ba âm lịch hằng năm; ngày 7 tháng Ba là chính hội. Ngày 15 tháng Ba thực hiện lễ tạ và thay long bào bằng áo cà sa cho Đức Thánh.
Đối tượng thờ phụng: Phật, Thiền sư Từ Đạo Hạnh (Đức Thánh Láng, Đức Thánh Từ) và vua Lý Thần Tông.
Cộng đồng thực hành: Nhân dân Láng Thượng, Láng Trung, Láng Hạ cùng các làng kết chạ và cộng đồng lân cận như Thành Công, Yên Hòa, Dịch Vọng, Mọc; Ban tổ chức, các hàng đô, đội tế, đội rước và các phường nghệ thuật dân gian.
Nghi lễ đặc trưng: Rước Thánh về chùa Nền, cáo yết tại chùa Tam Huyền, giải y phục, khai quang, rước kiệu Thánh, đấu thần, tế Thánh, dẫn lục cúng và tế hạ hội.
Trò hội đặc trưng: Thổi cơm thi, đập niêu, chọi gà, cờ tướng, hội thơ, thư pháp cùng các hoạt động hát quan họ, chầu văn, cải lương và múa.
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4611/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Chùa Láng, tên chữ là Chiêu Thiền tự, được xây dựng vào thế kỷ XII dưới thời vua Lý Anh Tông. Đây là ngôi chùa có sự kết hợp giữa thờ Phật và thờ Thánh, gắn với những truyền thuyết về Thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông. Trong cấu trúc kiến trúc, chùa có hai lớp cổng với Nghi môn và tả – hữu vu thuộc không gian thờ Thánh, còn Tam quan thuộc không gian chùa. Sự phân định này phản ánh tính chất đặc biệt của di tích, nơi các yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại trong một không gian thờ tự.
Thiền sư Từ Đạo Hạnh và huyền tích hóa thân thành vua Lý Thần Tông
Thiền sư Từ Đạo Hạnh là nhân vật có vị trí đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng của cư dân vùng Láng. Trong truyền thuyết dân gian, Ngài vừa được tôn kính là một vị thiền sư, vừa được suy tôn là Đức Thánh Từ, gắn với những câu chuyện về phép thuật, sự tái sinh và công đức đối với nhân dân.
Một trong những huyền tích quan trọng nhất là câu chuyện Thiền sư Từ Đạo Hạnh hóa thân thành vua Lý Thần Tông. Chính quan niệm này đã tạo nên sự kết hợp giữa hình tượng nhà sư và bậc Thiên tử trong hệ thống nghi lễ chùa Láng.
Đặc điểm ấy được thể hiện rõ qua nghi thức thay áo cà sa bằng long bào cho tượng Đức Thánh vào đêm mùng 6 tháng Ba, cũng như việc các hương án được đặt dọc đường rước để bái vọng Ngài như thần dân nghinh đón nhà vua.
Trong dân gian, Thiền sư Từ Đạo Hạnh còn được coi là Tổ sư của nghề múa rối cổ truyền. Vì vậy, những truyền thuyết và nghi lễ tôn vinh Ngài không chỉ gắn với Phật giáo mà còn liên hệ với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật dân gian.
Ngôi chùa có sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian
Một nét đáng chú ý của chùa Láng là tượng Đức Thánh Láng có cốt bằng mây, với màu sơn gốc được mô tả là màu huyết dụ. Những đặc điểm về cốt tượng, màu tượng và truyền tích thờ phụng được tư liệu liên hệ với hệ thống tín ngưỡng Tứ pháp.
Lễ hội diễn ra vào tháng Ba âm lịch, thời điểm gắn với nhu cầu cầu mưa, cầu mùa của cư dân nông nghiệp. Trong cách lý giải văn hóa dân gian, thời điểm tổ chức lễ hội có những nét tương đồng với các lễ thức đón mùa và cầu nước của cư dân Đông Nam Á, trong đó có Tết Chol Chnam Thmay của cộng đồng Khmer.
Tuy nhiên, điểm đặc sắc của hội chùa Láng không nằm ở các nghi thức Phật giáo thông thường mà ở cuộc rước Đức Thánh Từ và những tục hèm gắn với truyền thuyết về Ngài. Các nghi lễ rước, đấu thần và thay y phục cho tượng phản ánh một hệ thống tín ngưỡng dân gian được cộng đồng Kẻ Láng duy trì qua nhiều thế hệ.
Tục hèm liên quan đến Đức Thánh Từ
Trong đời sống thờ phụng, người dân vùng Láng lưu giữ những tục kiêng liên quan đến Thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông.
Theo tục truyền, chùa Láng không thờ Ngũ hổ và đoàn rước Thánh cũng không sử dụng hình tượng hổ. Các gia đình làng Láng xưa còn kiêng chơi tranh hổ, thờ Ngũ hổ. Tục kiêng này được giải thích bằng truyền thuyết về căn bệnh “hóa hổ” của vua Lý Thần Tông, người được coi là hóa thân của Đức Thánh Từ.
Bên cạnh đó, người dân còn có tục kiêng đặt tên trùng với tên húy Loan của Đức Tổ Mẫu và tên Hạnh của Đức Thánh.
Những tục hèm này cho thấy truyền thuyết về Thiền sư Từ Đạo Hạnh không chỉ hiện diện trong nghi lễ tại chùa mà còn ảnh hưởng đến tập quán sinh hoạt và cách ứng xử của cộng đồng cư dân địa phương.
Hội lớn của vùng Kẻ Láng bên sông Tô Lịch
Lễ hội chùa Láng thực chất là hội xuân của cả một vùng cư dân rộng lớn dọc hai bên bờ sông Tô Lịch. Không gian hội xưa bao gồm ba thôn Láng Thượng, Láng Trung và Láng Hạ, trải dài từ khu vực Cầu Giấy đến cầu Mọc ngày nay.
Ngoài ba làng Láng, lễ hội còn có sự tham gia của các cộng đồng lân cận như Dịch Vọng, Yên Hòa, Mọc và những làng có quan hệ kết chạ.
Theo tục xưa, hội chùa Láng là một đại hội có quy mô lớn nên không phải năm nào cũng tổ chức. Có khi mười đến mười lăm năm mới mở đại hội một lần, thường vào thời điểm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và đời sống nhân dân sung túc. Những kỳ đại hội có thể kéo dài đến cả tháng, với nhiều cuộc rước và hoạt động lễ hội diễn ra tại các ngôi chùa trong vùng.
Ngày nay, lễ hội được tổ chức thường niên từ ngày 5 đến ngày 8 tháng Ba âm lịch, duy trì những nghi thức tiêu biểu của hội truyền thống.
Chuẩn bị đội hình rước và lễ vật dâng Thánh
Để tổ chức lễ hội, cộng đồng tuyển chọn những người đảm nhiệm các vị trí trong đội hình rước và tế lễ.
Theo tư liệu, thành phần tham gia gồm bốn ông thủ kiệu, trong đó có hai thủ kiệu ngoại và hai thủ kiệu nội; 24 trai tráng thuộc hàng đô ngoại, 16 trai tráng thuộc hàng đô nội, cùng sáu ông cai đám.
Ngoài ra còn có đội tế, đội cờ, đội nữ múa sênh tiền, đội bát bửu, đội rồng, đội sư tử, đội trống và phường bát âm. Các hàng đô là những thanh niên trẻ, khỏe mạnh, được lựa chọn để đảm nhiệm việc rước kiệu và thực hành các nghi thức liên quan.
Lễ vật dâng cúng Đức Thánh cũng được chuẩn bị công phu, đặc biệt là mâm cỗ chay mang ý nghĩa biểu tượng về vũ trụ và uy danh của Đức Thánh.
Mâm cỗ sử dụng gam màu vàng làm chủ đạo, vừa gợi màu vàng của bậc Thiên tử, vừa liên hệ với sắc vàng trong Phật giáo. Trong đó, bánh khảo tượng trưng cho Trung ương Hoàng đế, còn bốn cặp bánh chưng, bánh dày tượng trưng cho bốn vị Tứ trấn Thiên Vương.
Theo truyền tích, bốn vị Thiên Vương từng cảm động trước công đức trì niệm của Thiền sư Từ Đạo Hạnh mà giáng xuống xin được Ngài sai bảo. Những lễ vật này vì thế không chỉ mang ý nghĩa dâng cúng mà còn thể hiện các quan niệm biểu tượng gắn với huyền tích về Đức Thánh.
Ngày mùng 5 tháng Ba – rước Thánh về chùa Nền
Ngày 5 tháng Ba âm lịch, dân làng tổ chức rước kiệu Thánh và bát hương từ chùa Láng đến chùa Nền.
Theo truyền thống, chùa Nền được xem là địa điểm gắn với nơi sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Vì vậy, cuộc rước mang ý nghĩa đưa Đức Thánh trở về thăm lại nơi “chôn rau cắt rốn”, tưởng nhớ nguồn gốc và những dấu tích liên quan đến cuộc đời Ngài.
Sau khi thực hiện các nghi thức tại chùa Nền, đến buổi chiều, đoàn rước đưa kiệu Thánh trở về chùa Láng.
Cuộc rước mở đầu cho chuỗi hoạt động lễ hội, đồng thời tạo nên mối liên hệ giữa chùa Láng với những địa điểm thờ tự gắn với tiểu sử và truyền thuyết về Đức Thánh Từ.
Ngày mùng 6 tháng Ba – rước bát hương về chùa Tam Huyền
Sáng ngày 6 tháng Ba, các cụ cao niên tổ chức rước bát hương theo kiệu Long đình từ chùa Láng xuống chùa Tam Huyền, nơi thờ Đức Thánh phụ Từ Vinh, thân phụ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Tại chùa Tam Huyền, đoàn thực hiện nghi thức cáo yết, dâng hương tưởng nhớ thân phụ Đức Thánh. Sau khi hoàn tất lễ, bát hương được rước trở về chùa Láng và đưa vào cung.
Tiếp đó, những thanh niên được tuyển chọn vào các hàng đô tập trung tại nhà bát giác để thực hiện việc hoành kiệu, tức lắp đặt và chuẩn bị kiệu rước.
Buổi chiều, nhân dân ba làng Láng Thượng, Láng Trung và Láng Hạ chuẩn bị lễ vật, sắp đặt trong kiệu rồi tổ chức rước lên chùa. Những nghi thức này thể hiện sự tham gia chung của các cộng đồng làng Láng trong việc chuẩn bị cho ngày chính hội.
Nghi thức giải y phục lúc nửa đêm
Một trong những nghi thức đặc biệt nhất của lễ hội chùa Láng là lễ Giải y phục, được thực hiện vào đúng 12 giờ đêm ngày mùng 6 tháng Ba.
Trước khi tiến hành, nhà sư thực hiện lễ Khao thỉnh, xin phép Đức Thánh cho vào cung làm lễ. Những người được giao nhiệm vụ tiến hành bao sái tượng bằng nước hoa bưởi, sau đó thay áo cà sa của nhà sư bằng long bào của bậc Thiên tử.
Để bảo đảm sự trang nghiêm, chỉ một số ít người được phép có mặt trong cung khi nghi thức diễn ra.
Lễ Giải y phục mang ý nghĩa tái hiện huyền tích Thiền sư Từ Đạo Hạnh tái sinh thành vua Lý Thần Tông. Từ hình tượng một vị thiền sư khoác áo cà sa, Đức Thánh được mặc long bào, biểu thị thân phận Thiên tử trong truyền thuyết.
Sau khi hoàn tất nghi thức Giải y phục và Khai quang, người dân mới được phép chiêm ngưỡng Đức Thánh từ phía bên ngoài.
Đến ngày 15 tháng Ba âm lịch, cộng đồng mới tổ chức lễ tạ, giải bỏ triều phục và mặc lại áo cà sa nhà Phật cho Đức Thánh. Trình tự thay y phục rồi hoàn phục thể hiện rõ sự kết hợp giữa hình tượng Thiền sư và nhà vua trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Từ.
Ngày mùng 7 tháng Ba – cuộc rước Đức Thánh Láng
Sáng ngày 7 tháng Ba, lễ rước kiệu Đức Thánh từ chùa Láng ra đường lớn được tổ chức long trọng, trở thành hoạt động trung tâm của ngày chính hội.
Sau hồi trống lệnh đầu tiên, các thành viên trong đoàn rước tập trung chuẩn bị. Đến hồi trống tiếp theo, các đô tùy ngoại, đầu đội mũ quả dưa, mình đóng khố bao, quàng chéo vai khăn nhiễu điều, đi thành hai hàng vào rước tượng Đức Thánh.
Tượng Thánh được đưa ra sập đá trước Tam quan để chồng đòn kiệu. Khi tiếng trống tiếp tục vang lên, các đô tùy ngoại rước kiệu ra cửa Tam quan, chờ các làng kết chạ như Láng Hạ, Thành Công, Yên Hòa đưa kiệu Long đình đến nhập đoàn.
Đoàn rước có nhiều loại nghi trượng, gồm cờ, trống, chiêng, voi bành, ngựa gỗ, lọng che, siêu đao, họa kích, tàn vàng, chấp kích, cùng đội sênh tiền, ông Lệnh cầm cờ vía và phường bát âm.
Đội hình rước thể hiện sự trang trọng của nghi thức nghinh đón Đức Thánh, đồng thời tái hiện hình ảnh đoàn nghi trượng dành cho bậc Thiên tử trong quan niệm truyền thống.
Hương án dọc đường rước và nghi thức bái vọng Thiên tử
Một nét riêng của cuộc rước chùa Láng là dọc đường đi, cứ cách vài chục mét lại có một hương án được đặt bên đường.
Trên hương án có đèn, nhang và lễ vật; một vị bô lão túc trực để thực hiện nghi thức bái lễ khi kiệu Đức Thánh đi qua.
Theo quan niệm dân gian, việc đặt hương án và bái vọng đoàn rước tượng trưng cho cảnh thần dân nghinh đón và bái vọng Thiên tử. Nghi thức này gắn với huyền tích Thiền sư Từ Đạo Hạnh hóa thân thành vua Lý Thần Tông.
Sau khi đi một vòng theo tuyến rước, đoàn đưa kiệu trở về chùa Láng và an vị tại nhà bát giác. Chủ tế đánh trống báo hiệu ngày chính hội bắt đầu.
Nhân dân các làng lần lượt vào chùa dâng hương, theo thứ tự Láng Thượng, Láng Hạ, Thành Công và Yên Hòa.
Tục đấu thần giữa Từ Đạo Hạnh và pháp sư Đại Điên
Một trong những hình thức trình diễn làm nên nét độc đáo của hội chùa Láng là tục đấu thần, gắn với truyền thuyết về cuộc đối đầu giữa Thiền sư Từ Đạo Hạnh và pháp sư Đại Điên.
Trong những kỳ đại hội xưa, sau khi rước Thánh qua các địa điểm gắn với cuộc đời Ngài, đoàn kiệu thực hiện nghi thức độ hà, tức lội qua sông Tô Lịch, để đến chùa Duệ Tú. Những người đảm nhiệm việc rước kiệu là các trai tráng chưa vợ, gia đình không có tang.
Tại khu vực chùa Duệ Tú, đoàn thực hiện nghi thức “đấu pháo”, còn gọi là lễ “đấu thần”, tái hiện sự đối đầu giữa Đức Thánh Từ và pháp sư Đại Điên trong truyền thuyết dân gian.
Sau nghi thức này, đoàn rước tiếp tục đến chùa Hoa Lăng rồi quay trở về chùa Láng.
Tục đấu thần là một biểu hiện rõ nét của tính chất tín ngưỡng dân gian trong lễ hội. Thay vì chỉ tưởng niệm Thiền sư bằng những nghi thức dâng hương, cộng đồng còn tái hiện một tình tiết quan trọng trong truyền thuyết về Ngài thông qua hình thức trình diễn nghi lễ.
Theo tư liệu, đây là nét đặc sắc của những kỳ đại hội truyền thống; không nên đồng nhất toàn bộ hành trình độ hà, đấu thần và rước qua các chùa với chương trình tổ chức thường niên hiện nay.
Lễ tế Đức Thánh và nghi thức Dẫn lục cúng
Sau cuộc rước sáng mùng 7, các cụ ông trong đội tế thực hiện lễ tế Đức Thánh Láng, tưởng nhớ và tôn vinh công đức Thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Trong nghi lễ, văn tế được tuyên đọc rồi đem hóa sau khi hoàn tất các thủ tục cúng tế. Buổi chiều, đội tế nữ chùa Láng tiếp tục thực hiện nghi thức dâng hương, tế Thánh.
Tối cùng ngày, các pháp sư tổ chức nghi thức Dẫn lục cúng tại chùa, cầu nguyện cho quốc thái dân an, nhân dân bình yên và hạnh phúc.
Nghi thức sử dụng sáu lễ vật, gồm nhang, đăng, hoa, trà, quả và thực. Đây là một trong những hoạt động thể hiện sự hiện diện của các yếu tố nghi lễ Phật giáo trong không gian hội chùa Láng, bên cạnh những tục rước và trình diễn tín ngưỡng dân gian.
Ngày mùng 8 tháng Ba – hội làng và tục thổi cơm thi
Sáng ngày 8 tháng Ba, các đoàn tế lễ và dâng hương từ những khu vực lân cận tiếp tục đến chùa Láng để thực hiện nghi thức tế Thánh.
Buổi chiều là thời gian diễn ra nhiều trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa, gồm thổi cơm thi, đập niêu, chọi gà, thi đấu cờ tướng, hội thơ, hội thư pháp, cùng các chương trình hát quan họ, chầu văn, cải lương và múa.
Trong số đó, thổi cơm thi được xem là một trò hội đặc sắc.
Các đội tham gia thi tài nấu cơm, thể hiện sự khéo léo và khả năng phối hợp trong công việc. Nồi cơm ngon nhất được lựa chọn để dâng lên Đức Thánh, tạo nên sự kết hợp giữa hoạt động vui chơi và nghi thức dâng lễ.
Đến chiều tối, các cụ ông tổ chức lễ tế hạ hội, chính thức khép lại những ngày hội chính.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử – truyền thuyết: Lễ hội gắn với Thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông, hai nhân vật có vị trí quan trọng trong lịch sử và đời sống tín ngưỡng thời Lý. Các nghi thức rước Thánh về chùa Nền, chùa Tam Huyền và thay áo cà sa bằng long bào góp phần duy trì những huyền tích về cuộc đời và sự hóa thân của Đức Thánh Từ.
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội thể hiện sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, trong đó Đức Thánh Từ vừa được tôn kính là Thiền sư, vừa được thờ phụng như một vị Thánh và được gắn với hình tượng Thiên tử. Những tục hèm liên quan đến hổ, tên húy và các nghi thức rước, tế cho thấy hệ thống niềm tin được cộng đồng duy trì qua nhiều thế hệ.
Giá trị nghi lễ – biểu tượng: Nghi thức Giải y phục lúc nửa đêm mùng 6 tháng Ba, sử dụng nước hoa bưởi để bao sái tượng và thay áo cà sa bằng long bào, là một thực hành đặc sắc của lễ hội. Bên cạnh đó, cuộc rước với nghi trượng Thiên tử, các hương án bái vọng dọc đường và tục đấu thần thể hiện những lớp ý nghĩa biểu tượng gắn với truyền thuyết về Đức Thánh Từ.
Giá trị văn hóa nông nghiệp: Lễ hội diễn ra vào tháng Ba âm lịch, gắn với thời điểm cư dân nông nghiệp chuẩn bị bước vào mùa vụ và những mong ước về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Các hình thức diễn xướng như đấu thần, múa rồng – sư tử và những yếu tố tín ngưỡng phồn thực phản ánh mối liên hệ giữa sinh hoạt lễ hội với đời sống sản xuất của cư dân vùng Kẻ Láng.
Giá trị nghệ thuật – diễn xướng: Lễ hội bảo lưu nhiều hình thức trình diễn dân gian như múa sênh tiền, múa rồng – sư tử, múa con đĩ đánh bồng, đấu thần và các hoạt động âm nhạc truyền thống. Phần hội còn có hát quan họ, chầu văn, cải lương, hội thơ và thư pháp, tạo nên một không gian văn hóa phong phú của cộng đồng.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội có sự tham gia của nhiều làng thuộc vùng Láng và các địa phương lân cận, từ việc tuyển chọn hàng đô, chuẩn bị kiệu, lễ vật đến tổ chức rước và tế Thánh. Sự phối hợp giữa các làng góp phần duy trì quan hệ kết chạ, củng cố tình đoàn kết và trao truyền những phong tục truyền thống.
Giá trị đạo lý – nhân văn: Những cuộc rước Đức Thánh về chùa Nền thăm nơi sinh, xuống chùa Tam Huyền tưởng nhớ thân phụ Từ Vinh thể hiện đạo lý hướng về cội nguồn và lòng hiếu kính. Việc tưởng nhớ công đức Thiền sư Từ Đạo Hạnh cũng góp phần giáo dục các thế hệ về truyền thống tôn kính tiền nhân và gìn giữ di sản quê hương.
Điểm đặc biệt nhất của Lễ hội chùa Láng nằm ở sự kết hợp giữa huyền tích Thiền sư Từ Đạo Hạnh hóa thân thành vua Lý Thần Tông và hệ thống nghi lễ rước Thánh của cộng đồng Kẻ Láng. Từ cuộc rước Thánh về chùa Nền thăm nơi sinh, nghi thức cáo yết tại chùa Tam Huyền để tưởng nhớ thân phụ Từ Vinh, đến lễ Giải y phục đúng nửa đêm mùng 6 tháng Ba, thay áo cà sa bằng long bào, mỗi hoạt động đều tái hiện một phương diện trong truyền thuyết về Đức Thánh Từ. Đặc biệt, cuộc rước chính hội với 24 đô ngoại, 16 đô nội, các nghi trượng Thiên tử và những hương án bái vọng dọc đường, cùng tục độ hà qua sông Tô Lịch và đấu thần với pháp sư Đại Điên trong những kỳ đại hội xưa, đã tạo nên bản sắc riêng của lễ hội. Những nghi thức ấy không chỉ tôn vinh Đức Thánh Láng mà còn phản ánh đời sống tín ngưỡng, truyền thống cầu mùa và mối liên kết lâu đời giữa các làng hai bên bờ sông Tô Lịch. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội chùa Láng được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4611/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019.
Nguồn ảnh: Sưu tầm


