Thân thế
Nguyễn Cảnh Kiên xuất thân trong một gia đình có truyền thống võ tướng lâu đời, thuộc đời thứ bảy của dòng họ Nguyễn Cảnh. Ông nội là Phúc Khánh quận công Nguyễn Cảnh Huy, còn cha là Thượng thư Bộ Binh, Thái phó, Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan. Mẹ ông là người họ Nguyễn, con gái của Phấn Vũ hầu, quê ở xã Đỗ Liêu, huyện Thiên Lộc (nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).
Theo gia phả dòng họ, thủy tổ của chi họ này là Nguyễn Cảnh Lữ, người làng Thiên Lý, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vào cuối thời nhà Hồ, do tình hình loạn lạc, ông đã di cư vào Nghệ An sinh sống. Từ đó dòng họ tiếp tục phát triển qua nhiều thế hệ: Nguyễn Cảnh Lữ sinh Nguyễn Cảnh Luật, Cảnh Luật sinh Cảnh Cảnh, Cảnh Cảnh sinh Cảnh Huy, Cảnh Huy sinh Cảnh Hoan và Cảnh Hoan sinh ra Nguyễn Cảnh Kiên.
Đến đời ông nội là Nguyễn Cảnh Huy, dòng họ bắt đầu nổi bật trong chính trường khi ông theo phò Nguyễn Kim trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê và được triều đình trọng dụng. Từ đó về sau, con cháu trong họ Nguyễn Cảnh tiếp nối truyền thống, nhiều người trở thành võ tướng có tiếng dưới triều Hậu Lê, góp phần tạo nên danh tiếng cho dòng họ.
Làm tướng nhà Lê
Năm 1527, Mạc Đăng Dung giết vua Lê Cung Hoàng và cướp ngôi, lập ra vương triều Mạc. Không chấp nhận thần phục triều đại mới, cựu thần nhà Lê là An Thành hầu Nguyễn Kim đã chạy sang Sầm Châu, chiêu mộ hào kiệt và tôn lập Lê Duy Ninh lên ngôi, tức vua Lê Trang Tông (1533–1548), mở đầu thời kỳ Trung hưng của nhà Lê. Đến năm 1536, hai cha con Nguyễn Cảnh Huy và Nguyễn Cảnh Hoan đem thuộc hạ lên Sầm Châu theo phò Lê Trang Tông.
Sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm tướng, Nguyễn Cảnh Kiên từ nhỏ đã được giáo dục về binh nghiệp. Thuở trẻ ông theo cha là Nguyễn Cảnh Hoan chinh chiến trong các cuộc chiến chống quân Mạc, lập được nhiều chiến công nên được phong tước Nham Lĩnh hầu. Tháng 8 năm 1576, Nguyễn Cảnh Hoan rơi vào tay quân Mạc. Sau sự kiện này, Nguyễn Cảnh Kiên được điều về hoạt động dưới quyền chỉ huy của Dương Quận công Nguyễn Hữu Liêu.
Cũng trong năm 1576, quân Mạc do Khiêm vương Mạc Kính Điển và Thạch Quận công Nguyễn Quyện chỉ huy tiến đánh Thanh Hóa. Khi quân Mạc tiến vào sông Đồng Cổ, lực lượng nhà Lê do Trịnh Tùng cùng các tướng Hoàng Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu đem quân chặn đánh và đẩy lui được đối phương. Sau đó quân Mạc lại tiến đến Hà Đô, bày kế phục binh ngoài đê và sai Hoằng Quận công Lại Thế Mỹ ra khiêu chiến. Nguyễn Hữu Liêu sai Nguyễn Cảnh Kiên làm tiên phong nghênh địch.
Trong trận này, Nguyễn Cảnh Kiên bày trận “nhạn”, trực tiếp chỉ huy quân xung phong. Khi Lại Thế Mỹ ra sức thách thức, một tướng dưới quyền của Nguyễn Cảnh Kiên là Trọng Giang hầu đã dùng súng bắn trúng khiến Lại Thế Mỹ tử trận. Quân Mạc hoảng loạn tháo chạy. Thấy vậy, Nguyễn Quyện dẫn quân tới cứu viện nhưng trước khí thế tấn công mạnh mẽ của quân Lê do Nguyễn Cảnh Kiên chỉ huy đã phải rút lui. Quân Lê truy kích hơn mười dặm mới dừng. Với chiến công này, Nguyễn Cảnh Kiên được ban kim bài và gia phong chức Cẩm y vệ sự, Tín Quận công.
Ngày 16 tháng 9 năm 1576, Nguyễn Cảnh Hoan do không chịu quy phục nhà Mạc nên bị giết. Sự kiện này càng khiến Nguyễn Cảnh Kiên kiên quyết tiếp tục chiến đấu chống nhà Mạc. Đến năm 1583, khi quân Lê tiến quân đến Kinh Dự, Trịnh Tùng sai Nguyễn Hữu Liêu cùng Nguyễn Cảnh Kiên bí mật bắc cầu phao qua sông, bố trí quân mai phục rồi giả vờ rút lui. Quân Mạc mắc mưu tiến sâu vào trận địa phục kích và bị đánh bại, phải tháo chạy về kinh thành.
Đánh ra Thăng Long
Tháng 12 năm 1591, quân Lê – Trịnh tập trung binh lực, theo đường núi tiến ra Sơn Tây để tập kích Thăng Long. Khi ấy triều Mạc cho rằng biên giới đã yên ổn, không ngờ quân Thanh Hóa bất ngờ tiến đánh nên thanh thế rung động. Triều đình Mạc lập tức ban chiếu điều động binh mã của bốn trấn, bốn vệ và năm phủ để đối phó. Sau khi chỉnh đốn lực lượng, quân Mạc chủ động đưa quân ra khiêu chiến.
Ở phía quân Lê – Trịnh, Thái phó Dương Quận công Nguyễn Hữu Liêu chỉ huy tiền quân bày trận, sai thuộc tướng là Nguyễn Cảnh Kiên dẫn quân tinh nhuệ xung kích. Trong trận chiến ác liệt diễn ra ngay trước trận tiền, Nguyễn Cảnh Kiên dũng mãnh giao chiến và chém được hai tướng của quân Mạc là Khuông Định công và Tân Quận công. Trước sức tấn công mạnh mẽ ấy, quân Mạc dần dần lùi bước. Quân Nam thừa thắng truy kích, khiến quân Mạc mất tinh thần, cờ xí rối loạn. Khi đến cửa sông Hát, vua Mạc là Mạc Mậu Hợp (niên hiệu Hồng Ninh) phải vội vàng vượt sông chạy trốn.
Đêm ba mươi Tết năm ấy, Dương Quận công Nguyễn Hữu Liêu đem quân tiến đến chân thành Thăng Long, cho bắn liền bảy phát súng làm hiệu rồi phóng hỏa đốt các khu nhà dưới chân thành. Lửa cháy rực trời khiến kinh thành náo động. Vua Mạc vội sai thu gom vàng bạc châu báu, tập trung tại cửa quân để chờ trời sáng tìm đường tháo chạy.
Sau Tết Nguyên đán năm 1592, quân Lê – Trịnh tiếp tục mở các đợt tấn công quyết liệt. Ngày mồng 6 tháng Giêng, Trịnh Tùng đốc quân vượt sông Tô Lịch đến cầu Nhân Mục (xứ Xạ Đôi) thì hạ trại, chia quân nhiều hướng tiến công, hẹn trong ngày phải phá được thành Thăng Long. Phía quân Mạc, tướng Nguyễn Quyện bố trí quân mai phục tại khu vực ngoài cửa cầu Dền. Khi Trịnh Tùng bắn ba phát pháo hiệu, các tướng lập tức đồng loạt tiến công. Thái phó Nguyễn Hữu Liêu sai Nguyễn Cảnh Kiên làm tiên phong. Ông dẫn quân xông lên đến cầu Dừa, đặt đại bác ngay trên đường lớn bắn phá mở đường đột kích.
Trước sức tấn công dữ dội, các tướng Mạc là Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên không chống nổi, quân lính tan rã bỏ chạy. Tướng Mạc Ngọc Liễn hoảng sợ tìm đường thoát thân. Kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa khi cung điện bị đốt phá, phố xá cháy rực. Trịnh Tùng tiếp tục thúc quân phá cầu Dền, khiến quân mai phục của Nguyễn Quyện trở tay không kịp và bị tiêu diệt gần hết. Nguyễn Quyện cùng hai con là Bảo Trung và Nghĩa Trạch chạy về doanh trại nhưng sau đó đều bị bắt. Vua Mạc phải bỏ chạy về trấn thủ Hà Bắc. Quân Lê – Trịnh đại thắng. Sau trận này, triều đình luận công ban thưởng, Tín Quận công Nguyễn Cảnh Kiên được thăng chức Đô đốc thiêm sự.
Tháng 4 năm 1593, vua Lê trở lại kinh thành Thăng Long và tổ chức ban thưởng cho các tướng lĩnh có công. Nguyễn Cảnh Kiên được gia phong Đô đốc Đồng tri. Về sau, do công lao ngày càng lớn, ông tiếp tục được phong nhiều danh hiệu cao quý như Hiệp mưu công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Đô đốc Nam quân Đô đốc phủ, rồi thăng lên Dương võ uy dũng công thần.
Dù là võ tướng nổi tiếng, Nguyễn Cảnh Kiên vẫn kế thừa nghề y của gia tộc. Ông đặc biệt tinh thông y thuật, chữa được nhiều chứng bệnh khó. Từ các công thần trong triều đến dân chúng thường tìm đến nhà ông xin thuốc, xe ngựa ra vào đông đúc. Nhờ tài năng cả về quân sự lẫn y thuật, ông càng được triều đình trọng vọng, được phong thêm các chức như Hiệp mưu Dương võ uy dũng công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Nam quân phủ Tả Đô đốc, kiêm chức Tri Thái y viện chưởng viện sự và Tế sinh đường sứ, tước Thư Quận công. Người dân thường gọi ông với cái tên thân mật là “Thầy Thư”.
Năm 1601, Trịnh Tùng phát động chiến dịch Đông chinh nhằm truy quét tàn dư nhà Mạc. Phía Mạc sai Nam Quận công và Nga Quận công đem quân chống cự nhưng không địch nổi, phải tháo chạy. Nguyễn Cảnh Kiên cùng hai con là Nguyễn Cảnh Hải và Nguyễn Cảnh Hà hợp lực truy kích đến thôn Cổ Lệnh Thượng (xã Cổ Lệnh), phóng hỏa đốt toàn bộ chiến thuyền của quân Mạc. Nam Quận công rơi vào thế cùng quẫn đã tự cắt cổ nhảy xuống sông tự vẫn. Quân Lê thừa thắng giết luôn Nga Quận công và bắt sống các tướng Tào Quận công cùng Vị Quận công.
Cũng trong tháng 3 năm 1601, Mạc Kiến Thống chiếm cứ vùng Hải Dương. Quân Lê sai Hoàng Đình Ái đem quân đi đánh dẹp, trong đó Nguyễn Cảnh Kiên giữ vai trò tiên phong. Ông dẫn hai con là Nguyễn Cảnh Đại và Nguyễn Cảnh Hà tiến đến sông Bạt Kiều, cho bắc cầu phao vượt sông, tiến quân vào địa giới Thanh Lâm. Quân Lê chia nhiều hướng tiến công, truy kích quân Mạc đến huyện Kim Thành và phá hủy toàn bộ doanh trại của đối phương. Lực lượng Mạc do các tướng Triều Lộc và Phú Ninh chỉ huy nhanh chóng tan rã, Mạc Kiến Thống phải bỏ chạy. Quân Lê thu được khoảng năm mươi chiến thuyền cùng rất nhiều vũ khí.
Cuối đời
Tháng 8 năm 1601, các quan triều đình rước Kính Tông Huệ Hoàng đế trở về Thăng Long. Sau khi ổn định triều chính, triều đình xét công ban thưởng cho các quan văn võ. Nhờ nhiều năm xông pha trận mạc, lập được nhiều chiến công, Nguyễn Cảnh Kiên được gia phong các chức tước: Hiệp mưu công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tả Đô đốc, đồng thời kiêm quản việc y dược với chức Tri Thái y viện chưởng viện sự, kiêm Tế sinh đường sứ, và được phong tước Thiếu bảo Thư Quận công.
Tháng 8 năm 1615, Thiếu bảo Thư Quận công Nguyễn Cảnh Kiên cùng Hình bộ Thượng thư kiêm Đông các học sĩ Mỹ Khê hầu Nguyễn Lễ ra đón đoàn sứ bộ do Phùng Khắc Khoan dẫn đầu sau khi đi sứ nhà Minh trở về.
Tháng 2 năm 1618, Mạc Kính Khoan cháu của Mạc Kính Cung, xưng vương ở vùng Vũ Nhai (Thái Nguyên), quân lính thường xuyên quấy nhiễu và cướp phá. Triều đình cử Thái phó Thanh Quận công Trịnh Tráng đem quân đi dẹp. Dưới quyền Trịnh Tráng có các tướng như Thư Quận công Nguyễn Cảnh Kiên, Lễ Quận công Nguyễn Văn Giao, Bạt Quận công, Hữu Quận công Tạ Thế Phúc, Đặng Quận công Nguyễn Khải, Phụ Quận công Nguyễn Hắc, cùng Đốc thị Lễ bộ Tả thị lang Phương Lan hầu Nguyễn Thực. Đồng thời, Thái bảo Vạn Quận công Trịnh Xuân cũng được lệnh đem quân phối hợp tấn công. Nghe tin đại quân kéo đến, quân họ Mạc hoảng sợ bỏ chạy. Nhân cơ hội đó, Trịnh Tráng bí mật sai Phú Lộc hầu tập kích, chém được Lập Quận công của nhà Mạc.
Đến năm 1619, do tuổi cao và nhiều năm chinh chiến khắp các đạo, sức lực Nguyễn Cảnh Kiên dần suy yếu và lâm bệnh nặng. Nhà vua sai Trung sứ mang sắc dụ cùng năm trăm quan tiền đến ban cấp để chữa bệnh, lại nhiều lần sai người tới thăm hỏi. Tuy vậy, ngày 4 tháng 8 năm 1619, ông qua đời tại tư dinh, hưởng thọ 67 tuổi. Khi hay tin, triều đình cho bãi triều ba ngày, sai quan Bộ Lễ mang lễ vật đến viếng, ban thêm hai chiếc hốt vàng và ba nghìn quan tiền cổ. Đồng thời truy phong ông các danh hiệu: Hiệp mưu Dương vũ Uy dũng Dực vận Tán trị công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quốc Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thự phủ sự Tri Thái y viện chưởng viện sự, Thiếu phó, Tả Tư không, Thư Quận công. Triều đình còn sai thủy quân và bộ binh cùng mười lăm chiến thuyền hộ tống linh cữu đưa về quê quán, an táng tại xứ Mô Sơn, thôn Cẩm Hoa Thượng, xã Đô Lương, huyện Nam Đường (nay thuộc xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
Hậu duệ
Sau khi ông mất con cháu tiếp tục nối nghiệp làm tướng trong triều Hậu Lê. Ông có bốn con trai đều làm tướng cùng triều và hai người con gái:
Nguyễn Cảnh Đại: Thự vệ sự, Dương Nghĩa hầu.
Nguyễn Cảnh Hà: Thiếu phó, Tả Tư Mã, Thắng Quận công, Phò mã.
Nguyễn Cảnh Cống: Tham đốc, Đô Úy, Lỵ Quận công, Phò mã
Nguyễn Cảnh Ất: Hiển Nghĩa hầu.
Nguyễn Thị Ngọc (hiệu Nhất Nương) chồng là Uy lộc hầu.
Nguyễn Thị Ngọc Quý.
Do có nhiều công lao, hai con trai ông là Thiếu phó, Tả Tư mã, Đô úy, Thắng quận công Nguyễn Cảnh Hà và Tham đốc, Đô úy, Lỵ quận công Nguyễn Cảnh Cống được Bình An vương Trịnh Tùng gả con gái.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Thai Bao Thu Quan Cong Nguyen Canh Kien (1553–1619)
Background
Nguyen Canh Kien was born into a family with a long tradition of military service, belonging to the seventh generation of the Nguyen Canh lineage. His grandfather was Phuc Khanh Quan Cong Nguyen Canh Huy, and his father was Nguyen Canh Hoan, who held the positions of Minister of War (Thuong thu Bo Binh), Thai pho, and Tan Quoc Cong. His mother was from the Nguyen family, the daughter of Phan Vu Hau, originally from Do Lieu commune, Thien Loc district (now Can Loc district, Ha Tinh province).
According to the genealogy of the lineage, the founding ancestor of this branch was Nguyen Canh Lu, a native of Thien Ly village, Dong Trieu district, Quang Ninh province. At the end of the Ho dynasty, due to turmoil and warfare, he migrated to Nghe An to settle. From that point the lineage continued through several generations: Nguyen Canh Lu gave birth to Nguyen Canh Luat; Canh Luat gave birth to Canh Canh; Canh Canh gave birth to Canh Huy; Canh Huy gave birth to Canh Hoan; and Canh Hoan gave birth to Nguyen Canh Kien.
By the time of his grandfather Nguyen Canh Huy, the family began to gain prominence in political affairs when he followed and supported Nguyen Kim in the cause of restoring the Later Le dynasty and was highly valued by the court. From then on, descendants of the Nguyen Canh family continued this tradition, with many becoming renowned military generals under the Later Le dynasty, contributing to the reputation of the lineage.
Serving as a General of the Le Dynasty
In 1527, Mac Dang Dung killed Emperor Le Cung Hoang and usurped the throne, establishing the Mac dynasty. Refusing to submit to the new regime, the former Le loyalist An Thanh Hau Nguyen Kim fled to Sam Chau, recruited talented men, and enthroned Le Duy Ninh as emperor, known as Le Trang Tong (1533–1548), thereby beginning the Le Restoration period. In 1536, Nguyen Canh Huy and his son Nguyen Canh Hoan brought their followers to Sam Chau to support Le Trang Tong.
Born into a family that had served as military commanders for generations, Nguyen Canh Kien was trained in military affairs from an early age. In his youth he followed his father Nguyen Canh Hoan in campaigns against Mac forces, achieving many military successes and being granted the title Nham Linh Hau. In the eighth lunar month of 1576, Nguyen Canh Hoan fell into the hands of the Mac army. After this event, Nguyen Canh Kien was reassigned to operate under the command of Duong Quan Cong Nguyen Huu Lieu.
Also in 1576, Mac forces led by Khiem Vuong Mac Kinh Dien and Thach Quan Cong Nguyen Quyen advanced to attack Thanh Hoa. When the Mac army entered the Dong Co River, the Le forces led by Trinh Tung together with the generals Hoang Dinh Ai and Nguyen Huu Lieu blocked and repelled them. The Mac army later advanced to Ha Do, setting up an ambush outside the dike and sending Hoang Quan Cong Lai The My to provoke battle. Nguyen Huu Lieu appointed Nguyen Canh Kien as the vanguard to confront the enemy.
In this battle, Nguyen Canh Kien arranged his troops in a “wild goose” formation and personally commanded the assault. When Lai The My aggressively challenged the opposing forces, a subordinate of Nguyen Canh Kien named Trong Giang Hau fired a gun and struck Lai The My, killing him. The Mac army fell into panic and retreated. Seeing this, Nguyen Quyen led reinforcements to rescue them but, facing the powerful attack of the Le forces commanded by Nguyen Canh Kien, he was forced to withdraw. The Le army pursued the enemy for more than ten miles before halting. For this achievement, Nguyen Canh Kien was awarded a golden plaque and promoted to the position of Cam y ve su, with the title Tin Quan Cong.
On the sixteenth day of the ninth lunar month of 1576, Nguyen Canh Hoan was executed because he refused to submit to the Mac dynasty. This event further strengthened Nguyen Canh Kien’s determination to continue fighting against the Mac. In 1583, when Le forces advanced to Kinh Du, Trinh Tung ordered Nguyen Huu Lieu and Nguyen Canh Kien to secretly build a pontoon bridge across the river, set up an ambush, and then feign retreat. The Mac army fell into the trap, advanced deeply into the ambush position, and was defeated, retreating back to the capital.
Campaign Toward Thang Long
In the twelfth lunar month of 1591, the Le–Trinh forces concentrated their troops and advanced through the mountains toward Son Tay to launch a surprise attack on Thang Long. At that time the Mac court believed the frontier was secure and did not expect a sudden attack from the Thanh Hoa army, so their authority was shaken. The Mac court immediately issued an edict mobilizing troops from four provinces, four guards, and five military commands to respond. After reorganizing their forces, the Mac army proactively advanced to provoke battle.
On the Le–Trinh side, Thai pho Duong Quan Cong Nguyen Huu Lieu commanded the vanguard army and deployed the formation, assigning his subordinate Nguyen Canh Kien to lead elite troops in the assault. In the fierce battle that took place in front of the lines, Nguyen Canh Kien fought bravely and killed two Mac generals, Khuong Dinh Cong and Tan Quan Cong. Under this powerful attack, Mac forces gradually retreated. The southern army pursued their advantage, causing the Mac troops to lose morale and their banners to fall into disorder. When they reached the Hat River gate, the Mac ruler Mac Mau Hop (reign title Hong Ninh) had to hastily cross the river to escape.
On the night of the thirtieth day of the Lunar New Year that year, Duong Quan Cong Nguyen Huu Lieu led troops to the foot of the Thang Long citadel, fired seven cannon shots as a signal, and set fire to houses below the city walls. The flames illuminated the sky and threw the capital into chaos. The Mac ruler hurriedly ordered the gathering of gold, silver, and jewels at the military gate, waiting for daylight to find a route of escape.
After the Lunar New Year of 1592, the Le–Trinh forces continued to launch fierce attacks. On the sixth day of the first lunar month, Trinh Tung urged the army to cross the To Lich River and camp at Nhan Muc bridge (area of Xa Doi), dividing the troops to attack from multiple directions with the goal of breaking the Thang Long citadel that day. On the Mac side, the general Nguyen Quyen arranged an ambush outside Den bridge. When Trinh Tung fired three cannon signals, the generals simultaneously launched their attack. Thai pho Nguyen Huu Lieu appointed Nguyen Canh Kien as the vanguard. He led his troops forward to Dua bridge and positioned artillery directly on the main road to bombard and open the way for the assault.
Facing the fierce attack, the Mac generals Bui Van Khe and Tran Bach Nien could not withstand it; their troops collapsed and fled. The Mac general Mac Ngoc Lien fled in panic. The Thang Long capital sank into smoke and fire as palaces were burned and streets blazed. Trinh Tung continued pressing the attack at Den bridge, causing Nguyen Quyen’s ambush forces to be unable to react and to be almost completely destroyed. Nguyen Quyen and his two sons Bao Trung and Nghia Trach fled back to camp but were later captured. The Mac ruler fled to Ha Bac. The Le–Trinh army achieved a great victory. After this battle, when the court assessed merits and granted rewards, Tin Quan Cong Nguyen Canh Kien was promoted to the position of Do doc thiem su.
In the fourth lunar month of 1593, the Le emperor returned to the capital Thang Long and organized a ceremony to reward meritorious generals. Nguyen Canh Kien was promoted to Do doc Dong tri. Later, as his achievements continued to grow, he was granted many prestigious titles such as Hiep muu cong than, Dac tien Phu quoc Thuong tuong quan, Ta Do doc Nam quan Do doc phu, and later elevated to Duong vo uy dung cong than.
Although he was a famous military general, Nguyen Canh Kien also inherited the medical tradition of his family. He was especially skilled in medicine and was able to cure many difficult illnesses. From meritorious officials in the court to common people, many came to his house seeking medicine, and carriages constantly came and went. Thanks to his talents in both military affairs and medicine, he was even more highly respected by the court. He was additionally granted titles such as Hiep muu Duong vo uy dung cong than, Dac tien Phu quoc Thuong tuong quan Nam quan phu Ta Do doc, and concurrently served as Tri Thai y vien chuong vien su and Te sinh duong su, with the noble title Thu Quan Cong. Among the people he was affectionately called “Thay Thu.”
In 1601, Trinh Tung launched the Eastern Campaign to eliminate the remaining Mac forces. The Mac side sent Nam Quan Cong and Nga Quan Cong to resist but they were defeated and forced to retreat. Nguyen Canh Kien, together with his two sons Nguyen Canh Hai and Nguyen Canh Ha, pursued them to Co Lenh Thuong village (Co Lenh commune) and set fire to all the Mac warships. Nam Quan Cong, driven into desperation, cut his own throat and jumped into the river to commit suicide. The Le forces then killed Nga Quan Cong and captured the generals Tao Quan Cong and Vi Quan Cong alive.
Also in the third lunar month of 1601, Mac Kien Thong occupied the Hai Duong region. The Le forces sent Hoang Dinh Ai to suppress him, with Nguyen Canh Kien serving as the vanguard. He led his two sons Nguyen Canh Dai and Nguyen Canh Ha to the Bat Kieu River, built a pontoon bridge to cross, and advanced into Thanh Lam territory. The Le army attacked from several directions, pursuing Mac forces to Kim Thanh district and destroying their entire camp. The Mac troops commanded by the generals Trieu Loc and Phu Ninh quickly collapsed, and Mac Kien Thong fled. The Le army captured about fifty warships and a large quantity of weapons.
Final Years
In the eighth lunar month of 1601, court officials escorted Kinh Tong Hue Hoang De back to Thang Long. After stabilizing the government, the court reviewed merits and rewarded civil and military officials. Because of many years of campaigning and numerous military achievements, Nguyen Canh Kien was granted the titles Hiep muu cong than, Dac tien Phu quoc Thuong tuong quan, Do doc phu Ta Do doc, while also managing medical affairs as Tri Thai y vien chuong vien su and concurrently Te sinh duong su, and he was granted the noble title Thieu bao Thu Quan Cong.
In the eighth lunar month of 1615, Thieu bao Thu Quan Cong Nguyen Canh Kien, together with Minister of Justice and Dong cac academician My Khe Hau Nguyen Le, went to welcome the diplomatic mission led by Phung Khac Khoan returning from the Ming dynasty.
In the second lunar month of 1618, Mac Kinh Khoan, grandson of Mac Kinh Cung, proclaimed himself king in the Vu Nhai region (Thai Nguyen), and his troops frequently harassed and plundered the area. The court appointed Thai pho Thanh Quan Cong Trinh Trang to lead a campaign against him. Under Trinh Trang’s command were generals including Thu Quan Cong Nguyen Canh Kien, Le Quan Cong Nguyen Van Giao, Bat Quan Cong, Huu Quan Cong Ta The Phuc, Dang Quan Cong Nguyen Khai, Phu Quan Cong Nguyen Hac, and Inspector of the Ministry of Rites Ta thi lang Phuong Lan Hau Nguyen Thuc. At the same time, Thai bao Van Quan Cong Trinh Xuan was also ordered to coordinate the attack. Hearing that the main army was approaching, the Mac troops panicked and fled. Taking advantage of this, Trinh Trang secretly ordered Phu Loc Hau to launch a surprise attack, killing Lap Quan Cong of the Mac.
By 1619, due to old age and many years of campaigning across various regions, Nguyen Canh Kien’s strength gradually declined and he became seriously ill. The king sent a court messenger carrying an imperial decree together with five hundred strings of coins to assist with his medical treatment and repeatedly sent people to inquire about his health. Nevertheless, on the fourth day of the eighth lunar month of 1619, he died at his private residence at the age of sixty-seven. When the news reached the court, the court suspended audiences for three days, sent officials from the Ministry of Rites with offerings to mourn, and granted two additional golden tablets and three thousand ancient coins. At the same time, he was posthumously awarded the titles Hiep muu Duong vu Uy dung Duc van Tan tri cong than, Dac tien Phu quoc Thuong tuong quan, Nam quoc Do doc phu Ta Do doc, Thu phu su Tri Thai y vien chuong vien su, Thieu pho, Ta Tu khong, Thu Quan Cong. The court also ordered naval and infantry troops with fifteen warships to escort his coffin back to his homeland, where he was buried at Mo Son area, Cam Hoa Thuong village, Do Luong commune, Nam Duong district (now Trang Son commune, Do Luong district, Nghe An province).
Descendants
After his death, his descendants continued the tradition of serving as generals under the Later Le court. He had four sons who all became generals of the same dynasty, and two daughters:
Nguyen Canh Dai: Thu ve su, Duong Nghia Hau.
Nguyen Canh Ha: Thieu pho, Ta Tu Ma, Thang Quan Cong, Pho ma.
Nguyen Canh Cong: Tham doc, Do uy, Ly Quan Cong, Pho ma.
Nguyen Canh At: Hien Nghia Hau.
Nguyen Thi Ngoc (title Nhat Nuong), married Uy Loc Hau.
Nguyen Thi Ngoc Quy.
Because of his great contributions, two of his sons — Thieu pho, Ta Tu ma, Do uy, Thang Quan Cong Nguyen Canh Ha and Tham doc, Do uy, Ly Quan Cong Nguyen Canh Cong — were given daughters in marriage by Binh An Vuong Trinh Tung.
References
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
Tiếng Pháp
Thai Bao Thu Quan Cong Nguyen Canh Kien (1553 – 1619)
Origines familiales
Nguyen Canh Kien est né dans une famille possédant une longue tradition de généraux militaires, appartenant à la septième génération de la lignée Nguyen Canh. Son grand-père était Phuc Khanh quan cong Nguyen Canh Huy, tandis que son père était Thuong thu Bo Binh, Thai pho, Tan quoc cong Nguyen Canh Hoan. Sa mère appartenait au clan Nguyen, fille de Phan Vu hau, originaire du village de Do Lieu, district de Thien Loc (aujourd’hui district de Can Loc, province de Ha Tinh).
Selon la généalogie familiale, l’ancêtre fondateur de cette branche est Nguyen Canh Lu, originaire du village de Thien Ly, district de Dong Trieu, province de Quang Ninh. À la fin de la dynastie Ho, en raison des troubles politiques, il migra vers Nghe An pour s’y établir. La lignée se développa ensuite à travers plusieurs générations : Nguyen Canh Lu donna naissance à Nguyen Canh Luat ; Canh Luat donna naissance à Canh Canh ; Canh Canh donna naissance à Canh Huy ; Canh Huy donna naissance à Canh Hoan ; et Canh Hoan donna naissance à Nguyen Canh Kien.
À l’époque de son grand-père Nguyen Canh Huy, la famille commença à se distinguer dans la vie politique lorsque celui-ci suivit Nguyen Kim dans l’entreprise de restauration de la dynastie Le et fut estimé par la cour. Par la suite, les descendants de la famille Nguyen Canh poursuivirent cette tradition : plusieurs d’entre eux devinrent des généraux renommés sous la dynastie Le postérieure, contribuant à la réputation de la lignée.
Général au service de la dynastie Le
En 1527, Mac Dang Dung tua le roi Le Cung Hoang et s’empara du trône, fondant la dynastie Mac. Refusant de se soumettre à ce nouveau régime, l’ancien ministre de la dynastie Le, An Thanh hau Nguyen Kim, se réfugia à Sam Chau, rassembla des hommes de talent et intronisa Le Duy Ninh comme empereur, connu sous le nom de Le Trang Tong (1533–1548), ouvrant ainsi la période de restauration de la dynastie Le. En 1536, le père et le fils Nguyen Canh Huy et Nguyen Canh Hoan se rendirent à Sam Chau avec leurs partisans pour soutenir Le Trang Tong.
Né dans une famille de généraux, Nguyen Canh Kien fut éduqué dès son jeune âge dans l’art militaire. Dans sa jeunesse, il accompagna son père Nguyen Canh Hoan dans les campagnes contre les forces Mac. Grâce à ses nombreux exploits militaires, il reçut le titre de Nham Linh hau. En août 1576, Nguyen Canh Hoan fut capturé par les troupes Mac. Après cet événement, Nguyen Canh Kien fut placé sous le commandement de Duong Quan cong Nguyen Huu Lieu.
Cette même année 1576, les forces Mac dirigées par Khiem vuong Mac Kinh Dien et Thach Quan cong Nguyen Quyen lancèrent une attaque contre Thanh Hoa. Lorsque l’armée Mac pénétra dans le fleuve Dong Co, les troupes de la dynastie Le commandées par Trinh Tung, assisté des généraux Hoang Dinh Ai et Nguyen Huu Lieu, parvinrent à les repousser. Les Mac avancèrent ensuite vers Ha Do, préparèrent une embuscade à l’extérieur de la digue et envoyèrent Hoang Quan cong Lai The My provoquer le combat. Nguyen Huu Lieu ordonna alors à Nguyen Canh Kien de conduire l’avant-garde pour affronter l’ennemi.
Dans cette bataille, Nguyen Canh Kien déploya la formation militaire dite « nhan » et mena personnellement l’assaut. Lorsque Lai The My provoqua le combat avec arrogance, un officier sous le commandement de Nguyen Canh Kien, Trong Giang hau, l’abattit d’un coup de fusil. Les troupes Mac furent prises de panique et s’enfuirent. Nguyen Quyen tenta alors d’apporter des renforts, mais face à la vigueur de l’offensive menée par Nguyen Canh Kien, il dut battre en retraite. Les troupes Le poursuivirent l’ennemi sur plus de dix lieues avant de s’arrêter. Pour ce mérite, Nguyen Canh Kien reçut un insigne d’or et fut promu Cam y ve su, Tin Quan cong.
Le 16 septembre 1576, Nguyen Canh Hoan, refusant de se soumettre à la dynastie Mac, fut exécuté. Cet événement renforça la détermination de Nguyen Canh Kien à poursuivre la lutte contre les Mac. En 1583, lorsque les troupes Le avancèrent vers Kinh Du, Trinh Tung ordonna à Nguyen Huu Lieu et Nguyen Canh Kien de construire secrètement un pont flottant pour traverser la rivière, d’organiser une embuscade puis de simuler une retraite. Les forces Mac tombèrent dans le piège, pénétrèrent profondément dans la zone d’embuscade et furent vaincues, se retirant vers la capitale.
Offensive vers Thang Long
En décembre 1591, les forces Le – Trinh concentrèrent leurs troupes et avancèrent par la route montagneuse vers Son Tay afin de lancer une attaque surprise contre Thang Long. À ce moment-là, la cour Mac pensait que la frontière était pacifiée et ne s’attendait pas à l’attaque soudaine des troupes venues de Thanh Hoa ; l’événement provoqua un grand émoi. La cour Mac ordonna immédiatement la mobilisation des armées des quatre trấn, quatre vệ et cinq phủ pour faire face. Après avoir réorganisé leurs forces, les Mac prirent l’initiative d’engager le combat.
Du côté Le – Trinh, Thai pho Duong Quan cong Nguyen Huu Lieu commandait l’avant-garde et ordonna à son officier Nguyen Canh Kien de mener l’assaut avec une troupe d’élite. Dans la bataille acharnée qui se déroula devant les lignes, Nguyen Canh Kien combattit avec bravoure et tua deux généraux Mac : Khuong Dinh cong et Tan Quan cong. Sous cette pression, les troupes Mac reculèrent progressivement. Les forces du Sud poursuivirent l’ennemi, provoquant la confusion dans les rangs Mac. Arrivés à l’embouchure du fleuve Hat, le roi Mac, Mac Mau Hop (ère Hong Ninh), dut traverser précipitamment la rivière pour fuir.
La nuit du dernier jour de l’année lunaire, Duong Quan cong Nguyen Huu Lieu conduisit ses troupes au pied de la citadelle de Thang Long, fit tirer sept coups de canon comme signal, puis incendia les habitations situées au pied des remparts. Les flammes illuminèrent le ciel et semèrent la panique dans la capitale. Le roi Mac ordonna alors de rassembler l’or et les trésors à la porte militaire afin de préparer la fuite au lever du jour.
Après le Nouvel An de 1592, les troupes Le – Trinh poursuivirent leurs offensives. Le sixième jour du premier mois, Trinh Tung franchit la rivière To Lich et établit son camp près du pont Nhan Muc (region Xa Doi). Les forces furent divisées en plusieurs directions pour attaquer la citadelle de Thang Long. Les Mac, commandés par Nguyen Quyen, avaient disposé une embuscade près du pont Den. Lorsque Trinh Tung tira trois coups de canon en signal, les généraux lancèrent simultanément l’attaque. Nguyen Huu Lieu nomma Nguyen Canh Kien commandant de l’avant-garde. Celui-ci mena ses troupes jusqu’au pont Dua et installa des canons sur la grande route pour ouvrir la voie à l’assaut.
Face à l’offensive violente, les généraux Mac Bui Van Khe et Tran Bach Nien furent incapables de résister ; leurs troupes se dispersèrent et prirent la fuite. Le général Mac Ngoc Lien chercha à s’échapper. La capitale Thang Long fut plongée dans la fumée et les flammes lorsque les palais et les quartiers furent incendiés. Trinh Tung poursuivit l’attaque et fit détruire le pont Den, surprenant l’embuscade de Nguyen Quyen et la détruisant presque entièrement. Nguyen Quyen et ses deux fils Bao Trung et Nghia Trach furent capturés. Le roi Mac s’enfuit vers la région de Ha Bac. Les forces Le – Trinh remportèrent une grande victoire. Après la bataille, Nguyen Canh Kien fut promu Do doc thiem su.
En avril 1593, le roi Le retourna à Thang Long et récompensa les généraux méritants. Nguyen Canh Kien fut promu Do doc Dong tri. Par la suite, en raison de ses nombreux mérites, il reçut encore plusieurs titres honorifiques tels que Hiep muu cong than, Dac tien Phu quoc Thuong tuong quan, Ta Do doc Nam quan Do doc phu, puis Duong vo uy dung cong than.
Bien qu’étant un général renommé, Nguyen Canh Kien perpétua également la tradition médicale de sa famille. Il était particulièrement habile dans l’art de guérir et pouvait soigner de nombreuses maladies difficiles. Des dignitaires de la cour jusqu’aux gens du peuple venaient chez lui demander des remèdes, si bien que les charrettes et les chevaux affluaient sans cesse. Grâce à son talent à la fois militaire et médical, il gagna encore davantage l’estime de la cour, qui lui conféra de nouveaux titres et fonctions, notamment Tri Thai y vien chuong vien su et Te sinh duong su, avec le titre de Thu Quan cong. Les habitants l’appelaient familièrement « Thay Thu ».
Les dernières années
En 1601, Trinh Tung lança la campagne dite Dong chinh pour éliminer les restes des forces Mac. Les Mac envoyèrent Nam Quan cong et Nga Quan cong pour résister, mais ils furent battus et durent fuir. Nguyen Canh Kien, accompagné de ses fils Nguyen Canh Hai et Nguyen Canh Ha, poursuivit l’ennemi jusqu’au village de Co Lenh Thuong (commune de Co Lenh), où ils incendièrent toute la flotte de guerre des Mac. Acculé, Nam Quan cong se suicida en se tranchant la gorge avant de se jeter dans la rivière. Les troupes Le tuèrent Nga Quan cong et capturèrent les généraux Tao Quan cong et Vi Quan cong.
Toujours en mars 1601, Mac Kien Thong occupa la région de Hai Duong. Les forces Le envoyèrent Hoang Dinh Ai pour mener la campagne, avec Nguyen Canh Kien comme avant-garde. Accompagné de ses fils Nguyen Canh Dai et Nguyen Canh Ha, il traversa la rivière Bat Kieu par un pont flottant et pénétra dans la région de Thanh Lam. Les troupes Le attaquèrent sur plusieurs fronts, poursuivirent les Mac jusqu’au district de Kim Thanh et détruisirent entièrement leurs camps, capturant une cinquantaine de navires de guerre et de nombreuses armes.
En août 1601, les dignitaires de la cour ramenèrent Kinh Tong Hue Hoang de vers Thang Long. Après la stabilisation du gouvernement, la cour récompensa les mérites des fonctionnaires civils et militaires. En raison de ses exploits militaires, Nguyen Canh Kien reçut plusieurs titres honorifiques, dont Hiep muu cong than, Dac tien Phu quoc Thuong tuong quan, Do doc phu Ta Do doc, et conserva en même temps ses responsabilités médicales avec les fonctions de Tri Thai y vien chuong vien su et Te sinh duong su, avec le titre de Thieu bao Thu Quan cong.
En août 1615, Thieu bao Thu Quan cong Nguyen Canh Kien et Hinh bo Thuong thu kiem Dong cac hoc si My Khe hau Nguyen Le accueillirent la mission diplomatique conduite par Phung Khac Khoan à son retour de la dynastie Ming.
En février 1618, Mac Kinh Khoan, petit-fils de Mac Kinh Cung, se proclama roi dans la région de Vu Nhai (Thai Nguyen) et ses troupes pillèrent fréquemment les environs. La cour envoya Thai pho Thanh Quan cong Trinh Trang pour mener la répression. Sous son commandement se trouvaient plusieurs généraux, dont Thu Quan cong Nguyen Canh Kien, Le Quan cong Nguyen Van Giao, Bat Quan cong, Huu Quan cong Ta The Phuc, Dang Quan cong Nguyen Khai, Phu Quan cong Nguyen Hac, ainsi que Doc thi Le bo Ta thi lang Phuong Lan hau Nguyen Thuc. En apprenant l’arrivée de la grande armée, les forces Mac s’enfuirent. Profitant de l’occasion, Trinh Trang envoya secrètement Phu Loc hau lancer une attaque surprise et tuer Lap Quan cong des Mac.
En 1619, en raison de son âge avancé et de nombreuses années de campagnes militaires, la santé de Nguyen Canh Kien déclina et il tomba gravement malade. Le roi envoya un émissaire impérial avec un décret et cinq cents quan de monnaie pour financer son traitement, et envoya plusieurs fois des messagers s’enquérir de sa santé. Malgré cela, le 4 août 1619, il mourut dans sa résidence privée à l’âge de 67 ans. À l’annonce de sa mort, la cour suspendit les audiences pendant trois jours, envoya des officiels du ministère des Rites avec des offrandes funéraires, et lui conféra à titre posthume de nombreux titres honorifiques. Son cercueil fut escorté par des troupes navales et terrestres avec quinze navires de guerre jusqu’à son lieu d’inhumation à Mo Son, village de Cam Hoa Thuong, commune de Do Luong, district de Nam Duong (aujourd’hui commune de Trang Son, district de Do Luong, province de Nghe An).
Descendance
Après sa mort, ses descendants continuèrent à servir comme généraux sous la dynastie Le postérieure. Il eut quatre fils, tous généraux de la cour, et deux filles :
- Nguyen Canh Dai : Thu ve su, Duong Nghia hau.
- Nguyen Canh Ha : Thieu pho, Ta Tu Ma, Thang Quan cong, Pho ma.
- Nguyen Canh Cong : Tham doc, Do Uy, Ly Quan cong, Pho ma.
- Nguyen Canh At : Hien Nghia hau.
- Nguyen Thi Ngoc (titre Nhất Nuong), mariée à Uy Loc hau.
- Nguyen Thi Ngoc Quy.
En raison des nombreux mérites de leur père, deux de ses fils, Nguyen Canh Ha et Nguyen Canh Cong, furent mariés aux filles de Binh An vuong Trinh Tung.
Références bibliographiques
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
Tiếng Trung
太保書郡公阮景堅(Nguyen Canh Kien,1553—1619)
身世
阮景堅(Nguyen Canh Kien)出身於一個具有悠久武將傳統的家族,為阮景氏第七世後裔。其祖父為福慶郡公阮景輝(Nguyen Canh Huy),父親為兵部尚書、太傅、晉國公阮景歡(Nguyen Canh Hoan)。其母為阮氏,乃粉武侯之女,籍貫於天祿縣杜寮社(今屬河靜省干祿縣)。
據族譜記載,此支阮景氏之始祖為阮景呂(Nguyen Canh Lu),廣寧省東朝縣天里村人。胡朝末年因天下動亂,遂遷居乂安。此後家族世代繁衍:阮景呂生阮景律(Nguyen Canh Luat),景律生景景(Canh Canh),景景生景輝(Canh Huy),景輝生景歡(Canh Hoan),景歡生阮景堅。
至祖父阮景輝之時,家族開始在政壇嶄露頭角。景輝曾隨安城侯阮金(Nguyen Kim)輔佐黎室中興,深受朝廷重用。自此之後,阮景氏子孫承繼武業,多人成為後黎朝著名武將,逐漸形成顯赫門第。
為黎朝將
1527年,莫登庸(Mac Dang Dung)弒黎恭皇帝(Le Cung Hoang)而篡位,建立莫朝。舊黎臣安城侯阮金(Nguyen Kim)不願臣服,遂奔至岑州,招集豪傑,奉立黎維寧(Le Duy Ninh)為帝,即黎莊宗(Le Trang Tong,1533—1548),開啟黎朝中興時期。至1536年,阮景輝與阮景歡父子率部至岑州歸附。
阮景堅生於武將世家,自幼接受兵法教育。年少時隨父阮景歡征戰抗莫,多有戰功,遂被封為巖嶺侯。1576年八月,阮景歡落入莫軍之手。此後阮景堅被調至陽郡公阮有僚(Nguyen Huu Lieu)麾下效力。
同年,莫軍由謙王莫敬典(Mac Kinh Dien)與石郡公阮倦(Nguyen Quyen)率領進攻清化。當莫軍進入同古江時,黎軍由鄭松(Trinh Tung)與黃廷愛(Hoang Dinh Ai)、阮有僚等將領迎擊並將其擊退。莫軍又進至河都,設伏於堤外,派宏郡公賴世美(Lai The My)出陣挑戰。阮有僚命阮景堅為先鋒迎敵。
此戰中,阮景堅布「雁陣」,親自率軍衝鋒。當賴世美激戰之際,阮景堅部將重江侯以火銃擊中之,使其當場身亡。莫軍驚亂潰逃。阮倦率軍來援,然在阮景堅指揮下的黎軍猛烈攻勢之下只得撤退。黎軍追擊十餘里方止。因功,阮景堅獲賜金牌,加授錦衣衛事、信郡公。
1576年九月十六日,阮景歡因拒不降莫而被殺。此事更堅定阮景堅抗莫之志。1583年,黎軍進至京預時,鄭松命阮有僚與阮景堅暗中架設浮橋渡河,佈置伏兵並佯退。莫軍中計深入,遂被伏擊擊敗,倉皇退回京城。
攻出昇龍
1591年十二月,黎—鄭軍集中兵力,自山路進軍山西,意圖突襲昇龍。當時莫朝以為邊境安定,未料清化軍突至,聲勢震動。莫廷急調四鎮、四衛、五府兵力應對,整頓後主動出戰。
黎—鄭軍方面,由太傅陽郡公阮有僚統領前軍列陣,命部將阮景堅率精兵突擊。激戰之中,阮景堅勇猛衝殺,斬莫將匡定公與新郡公二人。莫軍逐漸敗退,南軍乘勝追擊,莫軍軍心大亂。至喝江口時,莫帝莫茂洽(Mac Mau Hop,年號洪寧)倉皇渡河逃走。
該年除夕夜,陽郡公阮有僚率軍逼近昇龍城下,連發七炮為號,縱火焚燒城下民居,火光沖天,京城震動。莫帝急令收集金銀財寶,集中於軍門,準備天明逃走。
1592年正月後,黎—鄭軍持續猛攻。初六日,鄭松率軍渡蘇瀝江至仁目橋(射隊處),分兵多路進攻,約定當日必破昇龍城。莫將阮倦於殿橋外設伏。當鄭松發三炮為號,各軍齊攻。太傅阮有僚命阮景堅為先鋒。阮景堅率軍至椰橋,於大道設大炮轟擊,突破防線。
莫將裴文溪與陳百年無力抵抗,軍潰而逃;莫將莫玉璉亦倉皇逃遁。昇龍城陷入火海,宮殿與街市皆被焚毀。鄭松繼續攻破殿橋,使阮倦伏兵措手不及幾乎全滅。阮倦與其二子保忠、義澤逃回營地後亦被擒。莫帝逃往河北鎮。黎—鄭軍大勝。戰後論功行賞,信郡公阮景堅升任都督僉事。
1593年四月,黎帝回駕昇龍並大行封賞。阮景堅加授都督同知。其後因功績日隆,又先後加封為協謀功臣、特進輔國上將軍、南軍都督府左都督,後升為揚武威勇功臣。
阮景堅雖為名將,亦繼承家族醫術,醫術尤為精湛,能治多種疑難疾病。朝中功臣及百姓常至其家求醫,車馬盈門。因兼具軍事與醫術之才,朝廷更加倚重,授以協謀揚武威勇功臣、特進輔國上將軍南軍府左都督,並兼知太醫院掌院事、濟生堂使,封書郡公。百姓親稱其為「師書」。
東征與晚年
1601年,鄭松(Trinh Tung)發動東征以掃蕩莫氏餘黨。莫朝遣南郡公與俄郡公迎戰,但不敵而敗。阮景堅與其二子阮景海(Nguyen Canh Hai)、阮景河(Nguyen Canh Ha)追擊至古令上村(古令社),焚毀莫軍全部戰船。南郡公走投無路,自刎投河而死;黎軍又斬俄郡公,並俘虜曹郡公與位郡公。
同年三月,莫建統(Mac Kien Thong)據海陽。黎軍命黃廷愛率軍征討,阮景堅為先鋒,率子阮景大(Nguyen Canh Dai)與阮景河至跋橋江,架設浮橋渡河,進入清林地界。黎軍分路進攻,追擊莫軍至金城縣並焚毀其營寨。莫將朝祿與富寧之軍迅速潰散,莫建統逃走。黎軍獲得約五十艘戰船及大量兵器。
晚年
1601年八月,朝臣迎敬宗惠皇帝(Le Kinh Tong)回昇龍。朝廷論功封賞,阮景堅加授協謀功臣、特進輔國上將軍、都督府左都督,並兼知太醫院掌院事、濟生堂使,封少保書郡公。
1615年八月,少保書郡公阮景堅與刑部尚書兼東閣學士美溪侯阮禮(Nguyen Le)出迎由馮克寬(Phung Khac Khoan)率領、出使明朝歸國的使節團。
1618年二月,莫敬寬(Mac Kinh Khoan),莫敬恭之孫,在武崖(太原)稱王,屢次騷擾劫掠。朝廷命太傅清郡公鄭壯(Trinh Trang)率軍討伐,其麾下將領有書郡公阮景堅、禮郡公阮文交(Nguyen Van Giao)、拔郡公、祐郡公謝世福(Ta The Phuc)、鄧郡公阮愷(Nguyen Khai)、附郡公阮赫(Nguyen Hac),以及禮部左侍郎、督市芳蘭侯阮實(Nguyen Thuc)。同時太保萬郡公鄭春(Trinh Xuan)亦奉命出兵。莫軍聞大軍至,驚懼潰逃。鄭壯遂密令富祿侯突襲,斬莫立郡公。
至1619年,阮景堅因年老且多年征戰,體力漸衰而患重病。皇帝遣中使持詔並賜五百貫錢為醫藥費,多次派人探視。然而1619年八月四日,阮景堅於私第逝世,享年六十七。
朝廷聞訊,罷朝三日,命禮部官員攜祭品弔唁,並賜金笏二枚與銅錢三千貫。追贈其號:協謀揚武威勇翼運贊治功臣、特進輔國上將軍、南國都督府左都督、署府事知太醫院掌院事、少傅、左司空、書郡公。並命水陸軍與十五艘戰船護送靈柩歸葬於乂安省南堂縣都良社錦華上村墓山之地(今屬乂安省都良縣長山社)。
後裔
阮景堅逝世後,其子孫繼續在後黎朝為將。其有四子二女:
- 阮景大(Nguyen Canh Dai):署衛事,揚義侯。
- 阮景河(Nguyen Canh Ha):少傅、左司馬、勝郡公、駙馬。
- 阮景貢(Nguyen Canh Cong):參督、都尉、利郡公、駙馬。
- 阮景乙(Nguyen Canh At):顯義侯。
- 阮氏玉(Nguyen Thi Ngoc,號一娘),嫁於威祿侯。
- 阮氏玉貴(Nguyen Thi Ngoc Quy)。
由於功勳卓著,其二子——少傅、左司馬、都尉、勝郡公阮景河(Nguyen Canh Ha)與參督、都尉、利郡公阮景貢(Nguyen Canh Cong)——皆被平安王鄭松(Trinh Tung)招為女婿。
參考資料
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.