Công chúa Thiều Hoa

Công chúa Thiều Hoa

Thông tin cơ bản

Khái quát

Khi khảo sát các ngành nghề truyền thống, ta cần hiểu rằng, không phải chỉ khi có vị Tổ truyền nghề thì ở nước Nam ta mới có nghề ấy. Mà thật ra ngay từ thuở bình minh dựng nước, tổ tiên ta đã biết thành thạo các ngành nghề ấy. Đã đành các vị Tổ là người có công dạy nghề cho dân, nhưng những người thợ tài hoa có công cải tiến nghề, đem lại lợi ích cho cộng đồng thì cũng được tôn vinh là tổ nghề. GS Vũ Ngọc Khánh hoàn toàn có lý khi khẳng định:

Tổ nghề (tổ sư hay thánh sư) không nhất thiết là con người thực, do đó, gạt bỏ những nhân vật huyền thoại, là không đúng với thực tế, nhất là sự thực ở tấm lòng và ở cảm quan thẩm mỹ của người dân”. Tổ nghề dệt lụa là trong trường hợp này.

Nguồn gốc

Theo truyền thuyết thì công chúa Thiều Hoa, con gái thứ sáu của vua Hùng Vương chính là người đầu tiên tìm ra con tằm và phát minh ra nghề dệt lụa. Hiện nay, nhiều làng nghề dệt lụa truyền thống vẫn thờ bà và tôn bà là Tổ của nghề. Chuyện kể rằng: Công chúa là một người có tài sắc, hiền lành nhưng không chịu lấy chồng, biết nói chuyện với chim với bướm. Một ngày kia vào rừng, công chúa gặp hội bướm đủ sắc màu sặc sỡ, riêng bướm nâu chỉ đậu một chỗ ngắm bạn bè. Công chúa ngạc nhiên hỏi tại sao thì bướm nâu trả lời:

Em không quen bay lượn múa hát, em khác với các bạn bướm kia.

Công chúa hỏi gặng:

Khác như thế nào?

Bướm nâu nhỏ nhẹ:

Em không biết ăn lá lúa, lá ngô, chỉ ăn lá dâu để đẻ ra một loại trứng, trứng nở ra sâu. Sâu nhả ra sợi tơ vàng rất óng mượt.

Sợ công chúa không tin, bướm nâu bèn dẫn công chúa ra bãi dâu ở ven sông, thấy hàng ngàn con sâu đang làm kén. Có được những sợi tơ óng nuột, công chúa đã nghĩ ra cách đan những sợi tơ thành tấm vải mỏng và may áo mặc rất đẹp, rất mát. Công chúa đã đặt tên cho bướm nâu là ngài, sâu nhả tơ thì gọi là tằm và loại vải may xong gọi là lụa. Với truyền thuyết này chúng ta thấy na ná như chuyện kể về công chúa Si-linh-shi trên Trung Hoa được phong là thủy tổ nghề chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa. Chiết tự của chữ “tằm” là “thiên” và “trùng” – nghĩa là sâu trời, còn “dâu” từ chữ “tang” mà ra. Do đó khi nói tằm tang là để chỉ việc trồng dâu nuôi tằm. Truyền thuyết về công chúa Thiều Hoa cho thấy nghề dệt đã xuất hiện từ buổi bình minh dựng nước.

Nhân vật liên quan

Nghề này ngày càng phát triển và nhân dân đã dệt thêm nhiều huyền thoại để tôn vinh nghề. Tục truyền rằng, vào xuân 1011, vua Lý Thái Tổ ngự thuyền chơi trên sông Tô Lịch, khi thuyền đến bến Giang Tân (nay là làng Tân gần chợ Bưởi) thấy bến có căng một tấm lĩnh dệt hình con rồng uốn khúc. Nhà vua dừng thuyền lại hỏi, dân làng thưa là có biết hai nghề dệt lụa và làm giấy, nay tự dệt tấm lụa này để đón vua. Vua khen là làng có nghĩa và từ đó làng Dâu có tên là Nghĩa Đô; và xóm Bãi đổi tên là Bái Ân.

Một đêm trăng sáng, muôn mảnh ngọc sáng lấp loáng mặt sông, thuyền của chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) đang trôi. Đêm ấy, Nguyễn Phúc Lan (sau này là chúa Thượng) có theo hầu cha, nghe tiếng hát mà lòng rạo rực. Thế tử bèn dò theo tiếng hát để tìm rõ tung tích. Sau khi gặp nhau thì cô gái hái dâu quê ở huyện Diên Phước (Quảng Nam) trở thành Hiếu Chiêu Hoàng hậu vợ của Nguyễn Phúc Lan.

Còn Ỷ Lan Nguyên phi cũng vốn là người hái dâu, dệt lụa. Năm 1062, vua Lý Thánh Tông dự hội chùa Dâu (Thuận Thành) lúc mọi người đổ xô ra đón vua thì bà vẫn điềm nhiên hái dâu. Vua thấy làm lạ, cho gọi đến, thấy bà xinh đẹp lại ăn nói dịu dàng, thông minh, bèn đưa về cung phong làm Ỷ Lan phu nhân.

Dưới đời vua Lê Thánh Tông, có vợ chồng ông Trần Vĩ đã già mà chưa có con, luôn khấn nguyện Trời Phật ban con. Một hôm ông nằm mộng thấy mình bay lên trời, Ngọc Hoàng cho biết là công chúa Liễu Hạnh đã xuống trần rồi, còn một công chúa nữa nên cho đầu thai vào nhà Trần Vĩ. Sau giấc mộng này, vợ chồng ông sinh con và đặt tên là Quỳnh Hoa. Lớn lên Quỳnh Hoa mở mang nghề trồng dâu nuôi tằm, giúp cho đời sống nhân dân sung túc. Khi mất bà được tôn là bà chúa tằm, được tôn thành hoàng ở Nghi Tàm và các vùng lân cận.

Ở làng Trinh Tiết (thuộc Hà Đông cũ) lại tôn bà Trần Thị Thanh là Tổ nghề của làng – vì đã có công đưa nghề này từ đất Ái châu về vùng ven sông Đáy này – từ thế kỷ VI sau công nguyên.

Cũng theo truyền thuyết thì Tổ nghề dệt thao ở làng Triều Khúc là do Vũ sứ thần đã truyền lại cho dân. Vũ sứ thần là Vũ Uy, ông sống dưới thời Cảnh Hưng (1740-1786), sau khi đi sứ ở Trung Quốc đã học nghề làm quai thao về truyền cho dân làng. Do đó, dân làng Triều Khúc đã tôn ông là Tổ của nghề.

Nếu Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan sau khi tiếp thu ở Trung Quốc, về nước dạy cho dân nghề dệt lượt mà dân làng Bùng tôn là Tổ của nghề thì ông Trần Quý lại được tôn là Tổ nghề dệt gấm. Qua sáng kiến của ông và bàn tay tài hoa của thợ dệt La Khê, một tấm gấm rực rỡ đã ra đời. Từ đó dệt gấm La Khê nổi tiếng trong cả nước.

Nhưng làng Vạn Phúc lại thờ ông Tổ nghề dệt gấm của làng mình là Đỗ Văn Sửu.

Còn Tổ của nghề dệt lĩnh là ai? Theo gia phả họ Lý thì tại làng dệt Trích Sài có ba anh em Lý Khắc Quý đem theo nghề dệt lĩnh truyền cho dân địa phương. Trong khi đó, lại có một truyền thuyết khác cho rằng bà Phạm Thị Ngọc Đô đã đem kỹ thuật dệt lĩnh truyền thống của Chàm ra truyền bá cho dân làng.

Giá trị văn hóa

Huyền thoại về công chúa Thiều Hoa cho thấy nghề dệt thời đó rất được trọng vọng.

Lụa này thật lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống, các cô ưa dùng.

Ca dao có câu:

Thuyền rồng mái đấy đi đâu
Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình.

Hiện nay ở Chiêm Sơn (Duy Xuyên) có lăng thờ cô hái dâu năm xưa – mà đêm ngày còn văng vẳng tiếng hò trong trẻo:

Duy Xuyên có lụa mỹ miều
Buổi mai mắc cửi, buổi chiều tơ giăng.

Từ xưa nghề này đã được tôn vinh qua những câu ca dao sau:

Muốn ăn cơm tám canh cần
Về làng Trinh Tiết chăn tằm với anh.

Lại có câu:

The La, lụa Vạn, vải Canh
Nhanh chân đi bán ai sành thì mua.

Hoặc:

The La, lĩnh Bưởi, sồi Bùng
Lụa Vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên.

Hoặc:

Văn Lãng có gốc cây đề
Có ao tắm mát có nghề quay to
Quay tơ ta mắc ra mành
Em quay anh dệt giăng thành lụa Vân.

Còn bài vè nghề bông vải ở Nghệ An – Hà Tĩnh thì miêu tả tỉ mỉ công việc kéo sợi, hồ sợi, dàn sợi lên khung cửi rồi dệt thành tấm vải:

Sợi vải ngang xấu tốt
Cũng phải rúc vào trong
Cũng phải suốt vào lông
Thoi đưa đi đưa lại
Bà ngồi dệt mãi
Có khó nhọc hay không?
Tay bắt thoi lượn vòng
Chân tay bà không nghỉ…

Cũng tại Nghệ An còn có câu ca dao dí dỏm:

Cái chân thì đạp dọc
Cái thoi thì lọc xọc đâm ngang
Bao giờ anh cưới được nàng
Để anh đạp dọc đâm ngang với mình.

Có thể nói nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt cửi ở nước ta có một thời rất được trọng vọng. Ngay cả bậc đại quý tộc là vua Lê Thánh Tông khi tả về cảnh dệt cửi cũng ngụ ý nói đến một vấn đề lớn lao trong vũ trụ:

Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt;
Gót vàng dận đạp máy âm dương.
Còn dân trong nghề thì nói một cách mộc mạc nhưng không kém phần tự hào:
Tằm chăn ba lứa thuận hòa
Tiền dư, thóc tích, cửa nhà cao sang.

Và nghề dệt đã phát triển đến sự hoàn hảo tinh xảo, ca dao cũ ở làng La Khê, Vạn Phúc đã miêu tả về nhiều mặt hàng:

Thợ làm ra đủ thứ hàng
Hàng đơn, hàng kép dọc ngang tinh tường
Lượt, là, lĩnh, lụa, xuyến, lương
Ấy là những thức mặc thường của ta
Thơ trơn, này lại thứ hoa
Quế, vân, gấm, vóc, băng, sa, kỳ cẩu…

Thiết nghĩ, dù ông Tổ nghề dệt là ai đi nữa, thì trong tâm thức của người Việt – một dân tộc thủy chung, trước sau như một luôn ý thức “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” – đối với những ai đã có công truyền nghề, dạy nghề thì nhân dân nơi ấy đều nhớ đến công ơn.

Dấu ấn hiện nay

Đến nay, mặt hàng lụa Vạn Phúc vẫn là “thương hiệu” nổi tiếng. Trên Website Du lịch Hà Tây ghi nhận:

Làng lụa Vạn Phúc (thị xã Hà Đông) được biết đến như là một làng nghề dệt lụa đẹp với nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất nước ta. Từ chất liệu tằm tơ với công nghệ cổ truyền, người Vạn Phúc đã dệt nên nhiều loại lụa quý, được chọn may quốc phục cho triều đình – đặc biệt dưới các đời vua chúa nhà Nguyễn; hai lần được người Pháp mang đi “đấu xảo” tại Paris và Marseille (1931, 1938), lụa Vạn Phúc – còn gọi là lụa Hà Đông – nổi tiếng thế giới từ đó.

Nghệ thuật trang trí và hoa văn trên lụa Vạn Phúc được xem như mẫu mực của phong cách tạo hình trên chất liệu mỏng, bằng sợi của các nghệ nhân và nghệ sĩ dân gian Việt Nam. Thợ Vạn Phúc rút sợi nõn, se tơ, hồ sợi, dệt thành các thứ lụa, gấm, vóc, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, đũi… với các hình chim muông, hoa lá rất cầu kỳ, kể cả hình “lưỡng long chầu nguyệt” dài đến 20m trên mặt lụa. Ngoài mịn mặt, mát tay, rũ, mềm, hoa văn sang trọng…, lụa Vạn Phúc còn nổi tiếng bởi lụa Vân, mặt lụa phẳng mà như có mây cuộn vào trong – một kỹ thuật tinh tế mà ngoài Vạn Phúc không đâu dệt nổi. Sự độc đáo của lụa Vạn Phúc còn ở chỗ rất khó có được những tấm lụa hoàn toàn giống nhau, bởi mùa nắng tơ có độ óng ánh sắc sảo, mùa mưa sắc óng dịu nhẹ, khiến màu lụa có trong, có trầm, có thanh, có đậm. Mùa đông mặc vào thấy ấm áp, mùa hè thấy mát mẻ, mỗi người mặc vào đẹp mỗi vẻ, khiến người Vạn Phúc rất đỗi tự hào.

Từ cuối thế kỷ XVIII, Phạm Đình Hổ đã nhận xét ở Thăng Long:

Phường Diên Hưng (Hàng Ngang) và phường Đồng Lạc (Hàng Đào) là phố hàng áo bán các thứ tơ, lụa vóc, nhiễu rất nhiều”. Trong Tụng Tây Hồ, Phạm Huy Lượng có miêu tả bằng hình ảnh rất tươi, rất đẹp: “Liễu bờ kia tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm” và “Bến giặt tơ người vốc nước còn khuya, gương thiềm dựng trên tay lóng lánh.

Văn bia của làng dệt the La Khê dựng năm 1719, có những câu thấu lý đạt tình:

Từng bảo rằng lấy đạo nghiệp dạy người thì gọi là thầy. Dù là thợ nhỏ nghề mọn thì cũng như vậy. Cho nên những người có nghề đều thấy cái được của mình mà nghĩ đến việc đền ơn đáp nghĩa. Nay phường dệt xã La Khê nghĩ tới các tiên sinh phương Bắc đến ngụ cư trong hương ấp, đã đem nghề dệt the truyền cho tổ tiên ta. Tập cho cách làm thợ, trao cho khung dệt, nghề nghiệp hình thành, truyền đến đời con đời cháu ngày càng mở rộng, kỹ thuật càng tinh xảo, nhờ đó công việc sản xuất dễ dàng, nhờ đó của nhà khang trang, con người được thỏa mái, của cải thừa thải, lễ nghĩa hưng khỏi. Nghề được mở rộng, công thực lớn lao. Nghĩ lại công đức của các vị tiên sư không thể không tuyên dương rộng rải. Vì thế cùng nhau làm thành quy ước: hàng năm ngày 3 tháng 2 tiết thanh minh; và ngày 13 tháng 8 là ngày giỗ Tổ, các phường canh cùng nhau hội họp chuẩn bị trâu, rượu, gạo nếp, gạo tẻ làm lễ kính tế để thể hiện tấm lòng nhớ về cội nguồn.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2009), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 1 – Các vị tổ ngành nghề Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh bìa Chốn Thiêng (1)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)