Khu di tích lăng mộ các vua triều Lý (Từ Sơn, Bắc Ninh)

Khu di tích lăng mộ các vua triều Lý (Từ Sơn, Bắc Ninh)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Khu các lăng mộ các vị Vua triều Lý là quần thể di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với vùng đất Cổ Pháp xưa, nay thuộc địa bàn phường Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh. Đây không chỉ là chứng tích quan trọng phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của quê hương phát tích vương triều Lý mà còn là nơi đặt tôn miếu thờ các vị vua triều Lý, đồng thời là khu vực an táng các vị tiên vương và nhiều thành viên hoàng tộc nhà Lý.

Vùng đất Cổ Pháp – Đình Bảng từ lâu được xem là quê hương của Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) và là cái nôi sản sinh ra vương triều Lý – triều đại mở đầu thời kỳ phát triển rực rỡ của quốc gia Đại Việt thời trung đại. Tại đây hiện còn lưu giữ hệ thống lăng mộ, đền thờ và nhiều di tích liên quan đến các vị vua nhà Lý, góp phần phản ánh truyền thống lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc sắc của dân tộc.

Lịch sử và nhân vật

Việc xác lập khu Sơn lăng dưới thời Lý

“Sơn lăng cấm địa” được truyền lại là nơi an nghỉ cuối cùng của các vua triều Lý, hiện nằm tại khu Ao Sen thuộc cánh đồng Đình Bảng, nay thuộc phường Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh. Khu vực này cách Đền Đô khoảng 800 m về phía Đông Bắc và cách Thăng Long – Hà Nội khoảng 15 km về phía Bắc.

Sau khi lên ngôi và sáng lập triều Lý, năm 1010, vua Lý Thái Tổ nhận thấy kinh đô Hoa Lư không còn phù hợp với yêu cầu phát triển lâu dài của quốc gia nên quyết định dời đô ra Thăng Long. Theo các truyền thuyết và thư tịch cổ, trong quá trình chuẩn bị cho việc xây dựng cơ nghiệp lâu dài của vương triều, nhà vua đã cho lựa chọn vùng đất quê hương Cổ Pháp làm nơi xây dựng khu sơn lăng của hoàng tộc.

Theo ghi chép, vua Lý Thái Tổ đã cử viên quan phụ chính Lê Tái Nghiêm về châu Cổ Pháp cắm mốc, xác định khu đất cấm để xây dựng khu lăng mộ của triều đại, gọi là Thọ Lăng. Tương truyền, khu vực này có địa thế đặc biệt với tám dải đất cao và tám dòng nước tựa như những đầu rồng hướng về gò Phát Tích, nên được gọi là “Bát Long, Bát Thử”. Gò Phát Tích được dân gian truyền tụng là nơi an nghỉ của Thánh mẫu Phạm Thị Ngà – thân mẫu vua Lý Thái Tổ.

Tư liệu lịch sử ghi nhận khá sớm về sự kiện này. Việt sử thông giám Cương mục (bản dịch, Nxb. Văn – Sử – Địa, Hà Nội, 1957 – 1958, tr. 41) chép:

“Năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ Hoàng đế, năm Thuận Thiên thứ nhất (Tống, năm Đại Trung Tường Phù thứ 3) tháng 2 mùa xuân sang chơi châu Cổ Pháp, yết lăng Thái hậu, sai các quan đo đất vài mươi dặm đặt làm cấm địa thuộc sơn lăng, nhân dịp ấy ban tiền và lụa cho các kỳ lão”1.

Như vậy, ngay trong năm đầu tiên của triều đại, việc quy hoạch khu sơn lăng đã được nhà vua đặc biệt quan tâm nhằm tạo lập nơi an táng và thờ tự lâu dài cho hoàng tộc nhà Lý.

Ruộng sơn lăng và cơ sở kinh tế phục vụ việc thờ tự

Các nghiên cứu về chế độ ruộng đất thời phong kiến cho thấy khu sơn lăng nhà Lý được cấp một diện tích ruộng đất đáng kể để phục vụ việc hương khói và quản lý lăng tẩm.

Cuốn Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI – XVIII (tập I, Trương Hữu Quýnh, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982) cho biết:

“Ruộng sơn lăng được đặt ra nhằm lấy thu hoạch chi phí vào việc thờ phụng tổ tiên của các họ vua, căn cứ vào nguồn sử liệu, chúng ta có thể thấy, ruộng sơn lăng gồm 2 phần: Một khu ruộng mộ và một khu ruộng thờ. Các vua nhà Lý đều được chôn ở địa phận lăng Cổ Pháp này. Do đó ở đây có 32 mẫu ruộng mộ (mỗi lăng 4 mẫu và một số ruộng thờ khá lớn)”.

Theo bia Cổ Pháp điện tạo bi dựng năm Hoằng Định thứ 5 (1605) tại Đền Đô, khu lăng miếu từng bị cường hào địa phương lấn chiếm và bỏ hoang trong thời gian dài. Sau đó, chúa Trịnh Tùng đã cho khôi phục lại chế độ ruộng thờ với quy mô lớn:

“Lấy 284 mẫu ruộng của xã làm ruộng thờ đền Đô như cũ…”.

Đến thế kỷ XIX, Đại Nam nhất thống chí tiếp tục mô tả khu vực này là:

“Khu đất rộng chừng trăm mẫu, cổ thụ um tùm, là cấm địa và là thang mộc ấp của nhà Lý”.

Trong Địa chí Hà Bắc (Ty Văn hóa – Thông tin – Thư viện tỉnh Hà Bắc, 1982, tr. 675) cũng ghi nhận:

“Vào những năm tháng đầu tiên của triều đại mình, Lý Công Uẩn đã về quê Đình Bảng cúng giỗ mẹ và cho xây đền thờ mẹ mình, định một khoảnh đất rộng cho việc xây dựng Thọ Lăng của triều đại mình và ‘phát tiền kho hai vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức tám Sở’”2.

Những tư liệu trên cho thấy khu Thọ Lăng không chỉ là nơi an táng các vị vua mà còn gắn với một hệ thống ruộng đất, cơ sở thờ tự và cảnh quan được quy hoạch tương đối hoàn chỉnh.

Thọ Lăng trong truyền thuyết và thư tịch cổ

Mặc dù tư liệu về ruộng đất thời Lý còn lại không nhiều, song nhiều ghi chép dân gian và thư tịch địa phương vẫn phản ánh khá rõ hình ảnh khu Thọ Lăng trong tâm thức cộng đồng.

Sách Hồng Kỳ của Đào Công Thành (Tiến sĩ, chức Thị lang Công hầu triều Minh Mệnh) mô tả:

“Đền ở phía Nam, đầu làng Đình Bảng, áp đường quốc lộ đi Kinh Bắc thời xưa. Trước cửa đền rồng có hồ bán nguyệt, ngoài hồ là sông Tiêu Tương được phát nguồn từ Cổ Hạc, thuộc tổng Thiên Đức, đi bằng xe ngựa theo đường đi Kinh Bắc đến ngay cửa thành ngoại đi thuyền đến hồ Sen vào ngay Cổ Rồng. Trước đền khoảng 800m là khu rừng nhân tạo thời Lý Thái Tổ, do quan Tả Thị lang Lê Tái Nghiêm kiến thiết khu rừng cấm gọi là rừng Thọ Lăng (Thọ Lăng có 8 vua), riêng bà Lý Chiêu Hoàng và bà Nguyên Phi Ỷ Lan cũng được táng vào lăng Thiên Đức lý do bà Lý Chiêu Hoàng cũng làm vua và bà Ỷ Lan cũng làm nhiếp chính). Khu rừng Thọ Lăng rộng 180m, dài 1.400m hình bầu dục”.

Dân gian còn lưu truyền câu chuyện về di huấn của vua Lý Thái Tổ trước khi băng hà. Theo đó, nhà vua căn dặn không xây lăng bằng gạch đá mà chỉ đắp bằng đất vì mang lại ba điều lợi:

1 – Quân lính thời bình cũng phải ăn, nếu có thương nhớ nhà vua thì gánh đất đắp lên lăng, cao bao nhiêu thì quý bấy nhiêu. Đây là điều lợi thứ nhất.

2 – Khi lăng cao, cỏ mọc nhiều thì trâu bò, gia súc ăn cỏ ấy lớn béo cày ruộng tốt là điều lợi thứ hai.

3 – Các trẻ mục đồng ngồi lên lăng vua thì biết tên lăng của vua.

Do đó, các lăng được đắp đất rồi dựng miếu thờ phía trên thay vì xây dựng bằng vật liệu kiên cố.

Tình trạng khu lăng mộ và những giá trị còn lưu giữ

Cho đến nay, những ghi chép nêu trên vẫn chủ yếu dựa vào truyền thuyết, thư tịch cổ và tư liệu lịch sử. Khu vực được xác định là nơi an táng các vua triều Lý vẫn chưa trải qua những cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn, vì vậy cấu trúc bên trong các lăng đất hiện vẫn là một bí ẩn đối với giới nghiên cứu.

Đầu thế kỷ XVII, khi tiến hành trùng tu Đền Đô, triều Lê đã cho tôn tạo lại toàn bộ khu lăng mộ nhà Lý. Các lăng được đắp cao từ khoảng 5–10 m so với mặt ruộng, có hình dáng gần giống các gò đồi tự nhiên. Cây cỏ mọc phủ kín qua nhiều thế kỷ khiến toàn bộ khu vực mang dáng vẻ cổ kính, linh thiêng. Hệ thống đường đi rộng được mở quanh khu lăng cùng các lối dẫn vào từng lăng nhằm phục vụ việc tuần tra, bảo vệ. Từ đó, khu vực này được gọi là “Sơn lăng cấm địa”.

Sau đợt trùng tu Đền Đô năm 1605, triều Lê dựng bia đá để ghi lại công đức các vua triều Lý và ca ngợi vùng đất Cổ Pháp. Bài văn bia do Tiến sĩ Phùng Khắc Khoan phụng soạn, trong đó có đoạn:

“… Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa nhất Kinh Bắc, thủ sơn phát tích, nơi gối đầu của tám con rồng, hình tượng đẹp muôn hình muôn vẻ, vượng khí tốt, toát lên khí linh thiêng, cho nên nảy sinh ra tám vua triều Lý được lâu dài…”.

Những ghi chép lịch sử, văn bia và truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay đã góp phần khẳng định vai trò đặc biệt của khu Thọ Lăng – Sơn lăng cấm địa trong lịch sử triều Lý, đồng thời phản ánh nhận thức của các thế hệ người Việt về vùng đất phát tích của một trong những vương triều hưng thịnh nhất trong lịch sử dân tộc.

Kiến trúc thành phần

Các lăng mộ trong Khu lăng mộ các vị vua triều Lý

Nhiều thế kỷ qua, khu lăng mộ các vị vua triều Lý hiện còn lại là những gò đất nổi giữa cánh đồng canh tác thuộc xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đây được xem là phần còn lại của khu “Sơn lăng cấm địa”, nơi an táng các vị vua, hoàng hậu và một số thành viên hoàng tộc nhà Lý. Hiện nay, khu di tích còn ghi nhận các lăng mộ sau:

1. Lăng Lòng Chảo – Lăng vua Lý Thái Tổ

Lăng Lòng Chảo là nơi an nghỉ của vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), vị vua sáng lập triều Lý, ở ngôi 18 năm, thọ 55 tuổi (974–1028), giỗ ngày 3 tháng 3 Âm lịch.

Đại Việt Sử ký toàn thư chép ghi lại:

“Mùa Đông, tháng 10, táng (tiên đế) ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức, đặt thụy là Thần Vũ Hoàng đế, miếu hiệu là Thái Tổ”3.

Hiện nay, lăng nằm tại cánh đồng Tầm Sậy, cao hơn mặt ruộng Đình Bảng, cách đường vào trại Ao Sen khoảng 300m. Lăng có dạng hình tròn, nguyên có diện tích khoảng 1 mẫu 3 sào Bắc Bộ. Xung quanh lăng là bờ đất cao phủ đầy cây dại, phần giữa trũng xuống và thường xuyên đọng nước phẳng lặng như mặt gương, vì vậy nhân dân địa phương gọi là Lăng Lòng Chảo. Do quá trình canh tác lâu dài làm xâm thực chân lăng, hiện diện tích còn khoảng 1 mẫu Bắc Bộ. Đường dẫn vào lăng nhỏ và gập ghềnh.

2. Lăng Cả – Lăng vua Lý Thái Tông

Lăng Cả nằm phía Bắc trại Ao Sen, là nơi an nghỉ của vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã), vị vua thứ hai triều Lý. Ông ở ngôi 27 năm (1028–1054), thọ 55 tuổi (1000–1054), giỗ ngày 1 tháng Giêng Âm lịch.

Đây là ngôi lăng lớn và cao nhất trong hệ thống lăng mộ các vua Lý hiện còn. Lăng cao khoảng 10m, diện tích còn lại khoảng 8 sào Bắc Bộ. Hình dáng lăng tròn, nhìn từ xa giống như một quả đồi nhỏ. Trên lăng hiện trồng nhiều cây bạch đàn, đường vào theo các bờ ruộng nhỏ tương đối khó đi.

3. Lăng Hai (Lăng Con) – Lăng vua Lý Thánh Tông

Lăng Hai, còn gọi là Lăng Con, là nơi an nghỉ của vua Lý Thánh Tông (Lý Nhật Tông). Ông trị vì 18 năm (1054–1072), thọ 50 tuổi (1023–1072), giỗ ngày 8 tháng 8 Âm lịch.

Lăng nằm cách Lăng Cả khoảng 30m, ở phía Bắc trại Ao Sen, cạnh đường nương dâu. Lăng có hình tròn, cao khoảng 5m. Do bị xâm lấn nhiều qua thời gian, diện tích hiện còn hơn 3 sào Bắc Bộ. Trên lăng hiện chủ yếu là cây xoan và cây bạch đàn.

4. Lăng Con Voi – Lăng vua Lý Nhân Tông

Đây là nơi an nghỉ của vua Lý Nhân Tông (Thái tử Càn Đức), vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử triều Lý. Ông ở ngôi 56 năm (1072–1128), thọ 63 tuổi (1066–1127), giỗ ngày 15 tháng 7 Âm lịch.

Lăng có hình tròn, cao hơn mặt ruộng khoảng 3m, diện tích hiện còn trên 1 sào Bắc Bộ. Trên lăng hiện trồng nhiều cây ăn quả như nhãn, mít và một số loại cây bản địa khác.

5. Lăng Đường Do – Lăng vua Lý Thần Tông

Lăng Đường Do nằm trên cánh đồng cùng tên, gần Lăng Lòng Chảo, phía Tây thôn Ao Sen. Đây là nơi an nghỉ của vua Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán). Ông ở ngôi 10 năm (1128–1138), thọ 23 tuổi (1116–1138), giỗ ngày 26 tháng 9 Âm lịch.

Lăng hiện bị xâm lấn nhiều, diện tích còn khoảng 1 sào Bắc Bộ. Lăng có dạng hình tròn theo kiểu chóp đất, đỉnh cao khoảng 2,5m, phần chân cao khoảng 70cm so với mặt ruộng. Trên lăng hiện trồng cây bạch đàn. Do nằm gần kênh Nam nên việc tiếp cận thuận tiện hơn các lăng khác.

6. Lăng Đường Thuẫn – Lăng vua Lý Anh Tông

Lăng Đường Thuẫn nằm phía Đông xóm Cao Lâm, trên khu đồng Đường Thuẫn. Đây là nơi an nghỉ của vua Lý Anh Tông (Lý Thiên Tộ). Ông ở ngôi 37 năm (1138–1175), thọ 40 tuổi (1136–1175), giỗ ngày 5 tháng 7 Âm lịch.

Lăng có hình tứ giác, diện tích hiện còn trên 2 sào Bắc Bộ và cao hơn mặt ruộng khoảng 1m. Chính giữa lăng, người dân địa phương đã đắp thêm một mô đất hình tròn đường kính khoảng 10m, cao 2m. Phần chân lăng bị san gạt nhiều để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trên lăng hiện chủ yếu trồng cây bạch đàn.

7. Lăng Thủ Sơn – Lăng vua Lý Cao Tông

Lăng Thủ Sơn nằm trên cánh đồng cùng tên, cách làng Đường Thuẫn khoảng 200m. Đây là nơi an nghỉ của vua Lý Cao Tông (Lý Long Trát/Cán). Ông ở ngôi 35 năm (1175–1210), thọ 38 tuổi (1173–1210), giỗ ngày 28 tháng 10 Âm lịch.

Lăng có hình tứ giác, tuy nhiên do bị xâm lấn mạnh nên diện tích hiện chỉ còn khoảng 1 sào Bắc Bộ.

8. Lăng Long Trì – Lăng vua Lý Huệ Tông

Lăng Long Trì nằm phía sau khu Đầu Rồng, cách Đền Đô khoảng 300m, trên cánh đồng Gậm Bầu thuộc khu Cửa Mả. Đây là nơi an nghỉ của vua Lý Huệ Tông (Lý Hạo Sảm). Ông ở ngôi 14 năm (1210–1224), thọ 30 tuổi (1194–1226), giỗ ngày 20 tháng 12 Âm lịch.

Lăng có hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 16m, tổng diện tích khoảng 256m². Năm 1995, địa phương đã tiến hành tôn tạo lại, nâng chiều cao lăng lên khoảng 2m so với mặt ruộng.

9. Lăng Cửa Mả – Lăng vua Lý Chiêu Hoàng

Lăng Cửa Mả nằm trên cánh đồng cùng tên, là nơi an nghỉ của Lý Chiêu Hoàng (Lý Chiêu Thành) – vị nữ hoàng duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Bà ở ngôi 2 năm (1224–1225), thọ 62 tuổi (1217–1278), giỗ ngày 23 tháng 9 Âm lịch và hiện được thờ riêng tại Đền Rồng.

Lăng có hình vuông, diện tích khoảng 240m², cao hơn mặt ruộng khoảng 2m. Công trình đã được địa phương tôn tạo lại vào năm 1995.

10. Lăng Phát Tích – Lăng Thánh mẫu Phạm Thị

Lăng Phát Tích nằm trên cánh đồng Thủ Sơn, tương truyền là nơi an nghỉ của Thánh mẫu Phạm Thị, thân mẫu vua Lý Công Uẩn. Bà được coi là người sinh ra vị vua khai sáng triều Lý, giỗ ngày 7 tháng Giêng Âm lịch.

Lăng nằm gần Lăng Thủ Sơn, có hình vuông, diện tích còn lại khoảng 240m², cao hơn mặt ruộng trên 1m. Đường vào lăng hiện vẫn là các lối đi nhỏ trên bờ ruộng.

11. Lăng Nương Dâu – Lăng Nguyên Phi Ỷ Lan

Lăng Nương Dâu là nơi yên nghỉ của Nguyên Phi Ỷ Lan, một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử triều Lý. Lăng nằm tại khu Ao Sen, phía Đông Nam đầu trại Ao Sen, cách Lăng Cả và Lăng Hai khoảng 300m.

Lăng có hình tứ giác, diện tích trên 1 sào Bắc Bộ, nằm cạnh đường đi và cao hơn mặt ruộng khoảng 0,5m. Xung quanh lăng đã bị xâm thực mạnh, có nơi sâu tới 3m. Trên lăng hiện trồng chủ yếu cây bạch đàn, xoan và một số cây bàng. Chính giữa lăng, địa phương đã đắp thêm một mô đất hình vuông, mỗi cạnh khoảng 9m, cao hơn mặt ruộng 3m.

Phía trước lăng, nhân dân địa phương dựng một nhà bia tưởng niệm, gắn tấm bia đá ghi rõ:

“Lăng Ỷ Lan Nguyên phi, nguyên quán hương Thổ Lỗi (Siêu Loại, Hà Bắc – nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) tạ thế 25/7 năm Đinh Dậu (1117), dâng thụy là Phù Thanh lệnh nhân – Hoàng Thái hậu”.

Nhà bia tưởng niệm

Nhà bia được xây dựng theo kiểu thức đơn giản. Phần bệ thờ hình chữ nhật dài 1,8m, rộng 85cm, cao 85cm. Phía trên là tường gắn bia, có mái hai tầng với tám đao cong đơn giản, lợp ngói mũi hài truyền thống. Trước bia đặt bình hương phục vụ việc tưởng niệm và dâng hương của nhân dân, du khách khi đến tham quan khu lăng mộ.

Hiện vật

Hệ thống hiện vật còn lưu giữ tại di tích đền Đô và Khu lăng mộ các vị vua triều Lý hiện không còn nhiều do tác động của thời gian, chiến tranh và những biến động lịch sử kéo dài qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, những hiện vật còn lại vẫn mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tín ngưỡng, góp phần phản ánh truyền thống thờ phụng vương triều Lý cũng như quá trình bảo tồn di tích qua các thời kỳ.

Tiêu biểu trong số đó là 8 bài vị thờ các vị vua triều Lý, được chế tác bằng gỗ, sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ thuật thời Lê. Các bài vị được đặt trang trọng trong không gian thờ tự, ghi danh hiệu của các vị hoàng đế triều Lý, thể hiện sự tôn kính của hậu thế đối với triều đại đã có công khai mở và xây dựng nền quốc gia Đại Việt độc lập, hùng mạnh.

Bên cạnh đó, di tích còn lưu giữ một số đồ thờ tự bằng đồng như đỉnh đồng, hạc đồng cùng nhiều hiện vật phục vụ nghi lễ tín ngưỡng. Những hiện vật này không chỉ có giá trị sử dụng trong hoạt động thờ cúng mà còn phản ánh trình độ đúc đồng và nghệ thuật trang trí truyền thống của người Việt qua các thời kỳ lịch sử.

Ngoài ra, tại di tích còn bảo tồn một số bát, đĩa gốm có niên đại thời Lê, là những tư liệu vật chất góp phần làm sáng tỏ đời sống văn hóa, tín ngưỡng và sinh hoạt của cộng đồng cư dân gắn với khu vực đền Đô và khu sơn lăng nhà Lý.

Đặc biệt, hiện vật có giá trị nổi bật nhất là bia đá niên đại năm 1604, do Tiến sỹ Phùng Khắc Khoan phụng soạn nhằm ca ngợi công đức của các vị vua triều Lý và ghi lại lịch sử phục dựng, tôn tạo khu di tích dưới thời Lê Trung Hưng. Bia có kích thước cao 1,82m, rộng 1,03m, dày 0,175m, được chế tác bằng đá nguyên khối. Trên trán bia chạm khắc hình rồng chầu mặt nguyệt với đường nét tinh xảo, thể hiện trình độ nghệ thuật điêu khắc đá đặc sắc của thời kỳ này. Nội dung văn bia không chỉ là nguồn sử liệu quý giá phục vụ nghiên cứu lịch sử triều Lý, mà còn góp phần khẳng định vị thế của vùng đất Cổ Pháp – Đình Bảng, quê hương phát tích của vương triều Lý trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Mặc dù số lượng hiện vật còn lại không nhiều, nhưng những di vật hiện hữu tại đền Đô và Khu lăng mộ các vị vua triều Lý vẫn là những chứng tích quý báu, góp phần bảo tồn ký ức lịch sử về một trong những triều đại rực rỡ nhất của lịch sử Việt Nam.

Sự kiện và lễ hội

Gắn liền với vùng đất phát tích của vương triều Lý, đền Đô và Khu lăng mộ các vị vua triều Lý không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử đặc biệt mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng địa phương. Trải qua nhiều thế kỷ, các nghi lễ thờ phụng các vị vua triều Lý cùng những phong tục truyền thống vẫn được bảo tồn và duy trì, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân Đình Bảng.

Hằng năm, tại Đình Bảng diễn ra ba lễ hội truyền thống lớn, gắn với các nhân vật và sự kiện lịch sử của vương triều Lý, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương tham gia.

Hội chùa

Hội chùa được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch tại Chùa Dận (Ứng Tâm tự), nhân ngày giỗ của bà Phạm Thị – thân mẫu của vua Lý Công Uẩn. Đây là dịp để nhân dân tưởng nhớ công lao của người đã sinh thành vị hoàng đế khai sáng triều Lý, đồng thời cầu mong một năm mới bình an, mưa thuận gió hòa và cuộc sống no đủ. Các nghi lễ dâng hương, tế lễ được tổ chức trang trọng, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn và lòng tri ân đối với tiền nhân.

Hội đình

Hội đình diễn ra vào ngày 15 tháng Hai âm lịch tại đình Đình Bảng. Đây là lễ hội mở đầu cho các hoạt động tế Thánh và nghi thức đón chạ giữa hai địa phương Đình Bảng và Cẩm Giang, một phong tục có nguồn gốc từ sau chiến thắng quân Minh vào thế kỷ XV. Lễ hội được tổ chức trong hai ngày chính, từ ngày 14 đến ngày 15 tháng Hai âm lịch.

Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian truyền thống như các trò chơi dân gian, giao lưu văn nghệ và các sinh hoạt cộng đồng, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Kinh Bắc.

Hội đền Đô

Hội đền Đô được tổ chức vào ngày 15 tháng Ba âm lịch tại đền Đô. Theo quan niệm của nhân dân địa phương, đây là ngày kỷ niệm sự kiện vua Lý Công Uẩn đăng quang, mở đầu cho triều đại Lý và thời kỳ phát triển thịnh vượng của quốc gia Đại Việt.

Đây là lễ hội có quy mô lớn nhất trong năm tại khu di tích, với nhiều nghi lễ truyền thống như lễ dâng hương, lễ rước, tế lễ tưởng niệm các vị vua triều Lý cùng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và sinh hoạt cộng đồng. Lễ hội thu hút đông đảo nhân dân, du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, chiêm bái, tìm hiểu lịch sử và tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân.

Thông qua các lễ hội truyền thống này, những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng gắn với vương triều Lý tiếp tục được bảo tồn, phát huy, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ di sản văn hóa cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Xếp hạng

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, tín ngưỡng và vai trò là vùng đất phát tích của vương triều Lý – triều đại mở đầu thời kỳ phát triển rực rỡ của quốc gia Đại Việt, Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam. Ghi nhận những giá trị tiêu biểu đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 xếp hạng Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) là Di tích quốc gia đặc biệt.

Chú thích

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, Nxb. Văn – Sử – Địa, Hà Nội, 1957–1958, tr. 41
  2. Ty Văn hóa – Thông tin – Thư viện tỉnh Hà Bắc, Địa chí Hà Bắc, Hà Bắc, 1982, tr. 675
  3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 252

Tham khảo

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (1957–1958), Việt sử thông giám cương mục (bản dịch), Hà Nội: Nxb. Văn – Sử – Địa.  
  2. Trương Hữu Quýnh (1982), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI – XVIII, tập I, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội. 
  3. Ty Văn hóa – Thông tin – Thư viện tỉnh Hà Bắc (1982), Địa chí Hà Bắc, Hà Bắc. 
  4. Đào Công Thành. Hồng Kỳ. Biên soạn dưới triều Minh Mệnh, thế kỷ XIX. 
  5. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I. Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)