Danh nhân Nguyễn Quý Đức là một trong ba vị được hậu thế tôn xưng là Tam Đại Vương của dòng họ Nguyễn Quý tại làng Thiên Mỗ (nay thuộc phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Ông là Thám hoa, Tể tướng nổi danh thời Lê – Trịnh, có công lớn với triều đình, với quốc học và văn hóa dân tộc. Bên cạnh sự nghiệp chính trị và giáo dục, cuộc đời ông còn gắn với nhiều huyền tích thiêng liêng, được dòng họ và người dân ghi nhớ, tôn thờ suốt hàng trăm năm.
Xuất thân, học vấn và sự nghiệp
Xuất thân
Nguyễn Quý Đức tên huý là Tộ, tên tự là Thể Nhân, hiệu là Đường Hiên, sinh giờ Thân, ngày 19 tháng 3 năm Mậu Tý niên hiệu Phúc Thái thứ 6 đời vua Lê Chân Tông (1648) tại làng Thiên Mỗ, nay là xã Đại Mỗ huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội. Thân phụ Nguyễn Quý Đức là Nguyễn Quý Cường thụy Phúc Chỉ từng đỗ Tường sinh, người khai khoa của dòng họ Nguyễn Quý, được triều đình phong tặng Tham chính Kinh Bắc, gia tặng Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Ngự sử đô đài, tước Miên Khánh hầu. Thân mẫu Nguyễn Quý Đức là Nguyễn thị, thụy là Từ Ý. Nguyễn Quý Đức là con trai thứ hai của Nguyễn Quý Cường.
Huyền thoại sao sáng sa vào vò nước
Thế phả còn tiếp tục ghi lại câu chuyện sinh thành đặc biệt của Danh nhân Nguyễn Quý Đức. Cha ông là người có chí học, tuy nghèo khó vẫn cố gắng mưu sinh bằng nghề bán dầu ở các chợ phiên làng bên. Ông thường đi chợ Vân Canh, phải gánh hàng đi từ sớm tới khuya. Một lần, khi qua xứ Đống Biện thuộc thôn Ba Lật (nay là xứ Phú Thứ), ông nghe văng vẳng trong đống gạch đá có tiếng người đọc sách rằng: “Đức giả hạnh giã, đức giả bản giã.” Cảm động, ông nói: “Học trò về với lão, sẵn có dầu đèn mà học, ở đây làm chi cho sương hàn rét mướt.”
Sau đó hai phiên không còn nghe tiếng đọc nữa.
Còn mẹ của ông, một đêm đi gánh nước ở giếng làng thì thấy một ngôi sao sáng sa vào vò nước. Cha ông dặn phải để riêng thùng nước đó cho mẹ dùng. Từ đó bà hoài thai đến 13 tháng mới sinh. Khi sinh, trong nhà sáng rực, lòng bàn tay đứa bé hiện quý tướng. Cha ông nhớ đến câu văn từng nghe khi xưa nên đặt tên con là Quý Đức.
Chuyện người phụ nữ uống nước có ngôi sao sa vào, hoài thai 13 tháng mới sinh ra Quý Đức không chỉ lưu truyền tại tổng Mỗ mà 150 năm sau còn được nhắc lại bởi ông Phạm Khắc Gia, người phường Đông Ngạc, từng là Tri phủ Thiệu Thiên (nay thuộc Thanh Hóa). Ông đã nhiều lần đến thăm nơi phát tích của Nguyễn Quý Đức, để lại bút tích ghi rõ: “ngôi sao sáng xuống đầu thai chính là sao Bắc Đẩu”.
Học vấn và sự nghiệp
Thần đồng Quý Đức
Từ thuở nhỏ, Nguyễn Quý Đức đã nổi tiếng là thần đồng. Một lần, ông đi chăn trâu và để trâu phá khu ruộng trồng khoai sọ của làng Cầu Đơ. Gặp khi có quan phủ đi qua, thấy vậy liền sai lính bắt trâu. Đến chiều, Nguyễn Quý Đức đến xin trâu. Quan phủ thấy cậu bé lanh lợi bèn thử tài đối đáp:
Khoai Đơ tươi tốt ơn về phủ.
Nguyễn Quý Đức lập tức đối lại:
Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi có nghè.
Quan phủ thấy đối nhanh lại có khẩu khí hơn người liền sai thả trâu và tỏ vẻ quý mến lắm.
Câu đối này dùng phép đồng âm: “phủ” vừa là tri phủ, vừa là hành động dùng rơm rạ giải lên trên gốc những cây khoai sọ để giữ độ ẩm cho đất và cũng là chất tạo mùn; “nghè” vừa chỉ việc lấy chày nên bó tơ trước khi dệt, để có sợi tơ trơn đều, khi diệt được tấm lĩnh mịn mặt; vừa là chỉ “ông nghè”. Câu đối vừa có ý nghĩa thực, lại khéo léo nói lên nghề dệt “lĩnh” truyền thống của làng Thiên Mỗ – nơi có câu: “The La, lĩnh Mỗ”.
Trong sách Gia thục quần thư tham khảo (quyển hạ tờ 62, sách thư viện KHXH ký hiệu A478) của Phạm Đình Hổ, cũng có chép đôi câu đối này, nhưng có chi tiết hơi khác: thủa trẻ Nguyễn Quý Đức đi học ở kinh đô Thăng Long, khi có việc thường hay qua Đa Sĩ, Kẻ Đơ, thuộc phủ Quốc Oai. Một hôm, giữa đường gặp quan phủ Quốc Oai quan phủ chỉ vào ruộng khoai ra cho Đức câu đối trên.
Sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề cũng ghi lại về thần đổng Quý Đức như sau:
Tương truyền từ hồi còn để chỏm, Đức đã nổi tiếng về văn hay chữ tốt. Một hôm sau buổi học sáng, lúc trở về qua một quán nước, Đức ghé vào chơi. Chợt có ông huyện đi qua cũng vào nghỉ.
Ông huyện thấy Đức mặt mũi sáng sủa, bèn hỏi rằng:
Cậu đã học sách gì rồi?
Đức đáp đã học hết sách luận ngữ. Ông huyện liền ra một vế đối, toàn dùng chữ của luận ngữ:
Thực vô cầu bão, cư vô cầu an, quân tử chí
(Ăn không cầu no, ở không cầu yên, say đạo học, đúng chí quân tử).
Đức ứng khẩu đối ngay, cũng dùng toàn chữ trong sách ấy:
Chiêu nhi bất lai, huy nhi bất khứ, xã tắc thần.
(Vẫy không chịu lại, xua không chịu đi, phò xã tắc dáng mặt bầy tôi).
Ông huyện rất kinh ngạc, không ngớt lời khen ngợi.
Sự nghiệp khoa bảng, quan lộ
Sự nghiệp học hành của ông khởi đầu sớm và hiển hách.
– Năm lên 8 tuổi (1655) theo học chú họ, tự là Đạo Thông, thụy là Đức Thuần, nguyên là tri huyện Vọng Doanh trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc tỉnh Nam Định). Quý Đức rất thông minh, sáng dạ nổi tiếng là “kỳ đồng” (cậu bé kỳ lạ).
– Năm 16 tuổi (1663) đỗ Hương cống khoa thi Hương. Sau được vào nhà Thái học theo học cụ Hội nguyên Tiến sĩ họ Lê, giữ chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, người làng Tam Lộng huyện Lôi Dương, Thanh Hoá.
– Năm 23 tuổi (1670) đỗ khoa thi Hoành từ năm Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời vua Lê Huyền Tông, được ban Thị nội văn chức.
– Năm 29 tuổi (1676) đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa thi Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Trị nguyên niên, được bổ chức Hàn lâm viện đãi chế.
– Năm 31 tuổi (1678) giữ chức Giám thí trường thi Nghệ An.
– Năm 33 tuổi (1680) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5 đời vua Lê Hy Tông, Quý Đức lĩnh chức Đốc đồng Cao Bằng, Thái Nguyên, phá giặc Mán Phù Cảnh, cả một dải biên cương phía Bắc trở lại thanh bình, vua thưởng 30 lạng bạc.
– Năm 34 tuổi (1681) thân phụ từ trần, Nguyễn Quý Đức về quê cư tang báo hiếu trong 3 năm từ năm Tân Dậu (1681) đến năm Giáp Tý (1684).
– Năm 37 tuổi (1684) thăng chức Thiêm sai Bồi tụng, Lễ khoa cấp sự trung.
– Năm 39 tuổi (1686) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 6, đời vua Lê Hy Tông, mùa thu, tháng 9, Quý Đức được thăng Thiêm đô ngự sử.
– Năm 44 tuổi (1691) mùa xuân năm Tân Mùi được cử làm Chánh sứ dẫn đầu đoàn sứ bộ sang tuế cống triều Thanh, kết hợp đấu tranh với ngoại giao mềm mỏng để giành lại những vùng đất ở biên giới phía Bắc bị thổ quan nhà Thanh lấn chiếm.
+ Ngày 25-10-1691: Đoàn sứ bộ do Nguyễn Quý Đức làm chánh sứ đến Bắc Kinh
+ Ngày 4-11-1691: Đoàn sứ bộ được yết kiến vua Khang Hy nhà Thanh tại Thái Hoà môn
+ Hoàn thành tập thơ Hoa trình thi tập được vua Khang Hy ban bốn chữ vàng “Hoa quốc văn chương” (Văn chương làm rạng rỡ đất nước) cùng với câu đối: “Hy hiền, hy thánh, dĩ hy thiên hoằng khôi chí đạo; Thọ thân, thọ gia nhi thọ quốc bàng tác nhạ hành”.
– Năm 45 tuổi (1692) Nhâm Thân niên hiệu Chính Hoà thứ 13 đời vua Lê Hy Tông, dẫn đầu đoàn sứ bộ về nước, dâng tập thơ Hoa trình thi tập được ban khen “Quốc trân gia bảo” (Vật báu của nước, đồ quý của nhà), được thăng chức Hình bộ Tả thị lang, tước Liêm Đường nam.
+ Soạn bài văn bia “Hậu thần huệ điền tạo lập văn bi” cho bà Nhân Nguyễn Thị Lũ, vú nuôi của quận chúa Trịnh Thị Ngọc Phúc tại đền thôn Đông Hội xã Dương Vũ huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
– Năm 47 tuổi (1694) Giáp Tuất niên hiệu Chính Hoà 15 đời vua Lê Hy Tông được thăng Tả thị lang bộ Lại, Bồi tụng (có sách chép Tả thị lang bộ Lễ), cùng với các Tham tụng Lê Hy, Nguyễn Quán Nho bàn lập “Tu tri bạ”.
– Năm 48 tuổi (1695) Ất Hợi niên hiệu Chính Hoà 16 đời vua Lê Hy Tông được thăng Đô ngự sử.
– Năm 49 tuổi (1696) Bính Tý niên hiệu Chính Hoà 17 đời vua Lê Hy Tông do việc con em nhận hối lộ, Quý Đức đã phát hiện ra và đã đưa xử lý nhưng vẫn bị đình nghị phải biếm xuống ba cấp (có sách chép là 2 cấp) làm Tả thị lang bộ Binh.
– Năm 50 tuổi (1697) Đinh Sửu niên hiệu Chính Hoà 18 đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh Căn sai Quý Đức cùng Lê Hy biên soạn Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, q. XIX trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bao gồm lịch sử 13 năm từ đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671) đến đời vua Lê Gia Tông (1672-1675). Sách được hoàn thành, Trịnh Căn cho khắc in ban hành trong nước.
– Năm 51 tuổi (1698) Mậu Dần niên hiệu Chính Hoà 19, được thăng làm Tả thị lang bộ Lại.
– Năm 56 tuổi (1703) Quý Mùi niên hiệu Chính Hoà 24, Trịnh Căn chưa quyết định việc lập người nối ngôi chúa, hỏi ý kiến Quý Đức, ông thẳng thắn khuyên nên lập dòng đích là Trịnh Cương. Sau đó chúa Trịnh lại hỏi ý kiến Đặng Đình Tướng cũng được trả lời như Quý Đức. Trịnh Căn quyết lập Trịnh Cương.
– Năm 59 tuổi (1706) ông bỏ tiền trùng tu chùa Trùng Quang ngôi chùa lớn có từ đời Lý tại bản xã (công cuộc trùng tu còn tiếp tục đến đời cháu nội Công vị Nguyễn Quý Kính.
– Năm 61 tuổi (1708) Mậu Tý niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 4 đời vua Lê Dụ tông, được thăng chức Thượng thư bộ Hình, Tham tụng (có sách chép Thượng thư bộ Binh).
– Năm 62 tuổi (1709) Kỷ Sửu niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 đời vua Lê Dụ Tông, được thăng chức Thượng thư bộ Hộ, Thiếu bảo tước Liêm Đường hầu kiêm Đông các Đại học sĩ, gia phong Tá lý công thần.
– Năm 64 tuổi (1711) Tân Mão niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7, Tham tụng Nguyễn Quý Đức khuyên Trịnh Cương nên đưa miếu thờ ông nội là Quốc Tế công (Trịnh Vĩnh) và bố là Tham Tể công (Trịnh Bính) rước vào chính cung. Trịnh Cương nghe theo.
+ Trong năm này ông tham gia bàn định với Trịnh Cương thực hiện chính sách quân điền. Đây là một chính sách kinh tế quan trọng trong cuộc cải cách kinh tế – tài chính của Trịnh Cương đầu thế kỷ XVIII.
+ Cũng năm này tạo tác và viết bài tự sự trên trên khánh đá chùa Trùng Quang
– Năm 65 tuổi (1712) Nhâm Thìn niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8, Tham tụng Nguyễn Quý Đức cùng Nguyễn Thế Bá dâng khải buộc các quan trấn thủ ở biên giới phải đến đóng ở trấn lỵ, đề nghị tách riêng vùng trấn Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) ra khỏi việc kiêm lĩnh của Hải Dương và chọn một viên quan có tài năng phẩm hạnh chuyên giữ trách nhiệm phòng ngự vùng biển xa xôi.
– Năm 67 tuổi (1714) Giáp Ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 10 vào ngày Nhâm Thìn tháng 10 (ngày 30-11- 1714) Nguyễn Quý Đức được thăng làm Thiếu phó.
+ Ông soạn văn bia chùa Hàm Long: Hàm Long tự bi ký, ghi lại việc Đại nguyên suý tổng quốc chính thượng phụ An vương Trịnh Cương cùng bà Thái phi họ Trương đã xuất tiền kho để sửa sang ngôi chùa đẹp Hàm Long ở phường Phục Cổ phía Đông kinh thành Thăng Long. Bia ca ngợi công đức của chúa Trịnh, ca ngợi đạo Phật cùng cảnh đẹp của chùa.
+ Tháng 10 năm Giáp Ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) Tham tụng Nguyễn Quý Đức, Đặng Đình Tướng… dâng khải đề nghị khi dùng chữ trong sắc mệnh ban cho các quan văn quan võ thì phải căn cứ vào phẩm chức cho phù hợp và để phân biệt cao thấp. Chúa Trịnh đồng ý giao cho các cơ quan chuyên môn thi hành.
+ Tháng 12 năm Giáp Ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) Tham tụng Nguyễn Quý Đức cùng Ngũ phủ đô đốc… dâng tờ khải: Khi ra trấn biên hoặc làm việc công thì quan văn và quan võ chức phẩm phải bình đẳng ngang nhau.
– Năm 69 tuổi (1716) Bính Thân niên hiệu Vĩnh Thịnh 12. Mồng 10 tháng 7 Hộ bộ Thượng thư kiêm Đông Các Đại học sĩ, hành Tham tụng sự, Thiếu phó, Liêm Đường hầu Nguyễn Quý Đức dâng tờ khải xin lập bia ghi Tiến sĩ các khoa thi từ khoa thi Bính Thân (1656) đến khoa thi Ất Mão (1715), xin trích tiền giao cho bộ Công lo liệu đứng làm, văn bia giao cho Hàn Lâm viện nghĩ soạn, quan Đông Các nhuận sắc lại. Chúa Trịnh đồng ý. Nguyễn Quý Đức đem việc đó tâu lên vua Lê Dụ Tông, nhà vua ban sắc chỉ xuống cho các nha môn thi hành.
– Năm 70 tuổi (1717) Đinh Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh 13. Lại bộ Thượng thư, Thiếu phó Nguyễn Quý Đức cho sao chép bộ Quần hiền phủ tập của Hoàng Sằn Phu và chỉ đạo việc dựng 21 tấm bia từ khoa thi Bính Thân (1655) đến khoa thi Ất Mão (1715). Ông nhuận sắc (hiệu đính) toàn bộ số văn bia trên. “Việc sửa sang học cung, dựng bia Tiến sĩ đều chính mình ông trông coi cho đến lúc xong”.
+ Sau khi dựng xong bia, trùng tu điện Đại Thành cùng hai bên tả vu, hữu vu của Quốc Tử Giám, ông được mời giảng Kinh Dịch trước tiên.
+ Tháng 5, Tham tụng Nguyễn Quý Đức cùng thự phủ Đặng Đình Tướng soạn bài châm “Biết người” (Tri nhân châm) dâng lên Trịnh Cương.
+ Tháng 10 mùa đông, Tham tụng Thượng thư bộ Binh kiêm Đông các Đại học sĩ, Thiếu bảo, Liêm quận công Nguyễn Quý Đức Ông làm bài khải xin trí sĩ, dâng thư tới ba lần mới được chúa Trịnh Cương ưng thuận. Quý Đức được gia phong Thái phó, Quốc lão, Tá lý công thần, tham dự triều chính, được ban hai bài thơ, lại cho ngựa xe và ruộng lộc điền, ân điển ban thưởng rất trọng hậu. Giới thân sĩ đều cho là vẻ vang.
Theo Đại Việt sử ký tục biên (Bản dịch, 1991):
Chúa gia phong Thái phó Quốc lão tham dự triều chính, ban cho hai bài thơ, rồi ngựa, xe và ruộng lộc điền, ân biển ban tặng rất trọng hậu. Giới tấn thân đều cho là vẻ vang.
Quý Đức có hai bài thơ để lại từ biệt cho các vị quan cùng triều, thơ theo thể “Tiến thoái cách”. Khi đó các quan hoạ lại để mừng Quý Đức có đến hàng trăm, hàng nghìn bài.
Nguyễn Quý Đức về trí sĩ tại quê nhà xã Thiên Mỗ huyện Từ Liêm, ngâm thơ thưởng trăng với những người bạn thơ văn cùng triều đã về trí sĩ như Đặng Đình Tướng, Nguyễn Đương Bao tại Lạc Thọ đình dưới tán cây xum xuê. Có câu thơ “chèo thuyền chơi sông Ninh, thả diều đồng làng Mỗ”.
Năm ông 72 tuổi (1719) Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 15 đời vua Lê Dụ Tông. Đón vua Lê tại Lạc Thọ đình, được khen thưởng hậu. Ông tặng dân làng 10 mẫu ruộng và trích bốn mẫu để lập chợ Khánh Nguyên (tức chợ Đại Mỗ ngày nay).
Năm 73 tuổi (1720)
- Tháng 4 ông soạn bài văn bia “Thái phụ Nguyễn Thị, trị sản chí phú tự sự bi ký” ca ngợi công lao của bà Nguyễn Thị Thuyết, người có tài sản rất giàu có hiến cho nhà nước 500 mẫu ruộng, bắc cầu làm đường, lập bến đò, hiến cho bản xã hàng trăm mẫu ruộng được phong chức Thạc Nhân. Bia dựng tại từ chi thôn Đông, xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương
- Tháng 5 ngày 14 Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức mất hưởng thọ 73 tuổi. Triều đình thương tiếc truy tặng Thái tể, truy phong Đại vương, ban tên thụy Trịnh Mục, sai quan trông coi việc tang, dân ba thôn thờ làm phúc thần. Mộ táng tại Bạch tượng đồi thôn Ỷ La, đây là khu đất rộng 4 mẫu, xung quanh có lập mốc làm địa giới, giao cho một họ dân gốc họ Tào trông nom được sử dụng đất ấy để sinh sống.
Cụ mất, năm sau Tân Sửu (1721) nhân dân ở hương ấp nhớ ơn cụ thời ở làng đói cho cơm ăn, rét cho áo mặc, xây cầu mở chợ, làm chùa lập ấp cho người ngụ cư. Cùng đến từ đường xin phụng nghinh cụ lên chợ Khánh Nguyên dựng nhà thảo xá bái yết tế lễ thực là long trọng, rồi mở trò chèo hát vui chơi. Chức sắc trong làng thấy là sự lệ tốt đẹp, ghi nhận vào hương ước định lệ lấy ngày Rằm tháng Hai mở “Hội nhà thờ” hội kéo dài từ ba đến năm ngày
Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí nhận định:
Ông là người khoan hậu, trầm tĩnh. Ngày thường, thù tiếp ai thì dễ dàng vui vẻ. Khi bàn luận trước mặt chúa, việc gì chưa thỏa đáng, ông có giữ ý kiến mình, bàn đến ba, bốn lần không ai ngăn được.
Ông làm văn không cần trau chuốt mà ý sâu. Triều đình có chế tác gì lớn phần lớn do tay ông thảo. Ông làm Tể tướng 10 năm, về chính sự chuộng khoan hậu, đám hậu tiến phần nhiều do ông cất nhắc. Việc sửa sang hậu cung, dựng bia tiến sĩ đều mình ông trông coi cho đến lúc xong. Bàn đến ông thì ai cũng khen.
Trong 40 năm làm quan, trong đó có đến 10 năm giữ chức Tể tướng, Nguyễn Quý Đức luôn được biết đến là vị quan thanh liêm, chính trực, cẩn trọng trong dùng người và gần gũi với dân chúng. Ông để lại dấu ấn lớn trong công cuộc trị quốc an dân, được dân gian ca ngợi:
Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hưu tức
(Tể tướng Quý Đức, thiên hạ yên vui).
Dấu ấn và di sản
Tể tướng và công cuộc giáo dục nhân tài
Sau khi đỗ Thám hoa, Nguyễn Quý Đức được trọng dụng trong triều và từng bước đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có chức Tể tướng. Ông không chỉ nổi bật trong vai trò chính trị mà còn là một nhà giáo dục uyên bác, nhà thơ xuất sắc và là người có ảnh hưởng sâu sắc đến giới trí thức đương thời.
Một giai thoại nổi tiếng cho thấy tài năng ứng đối và hiểu biết sâu rộng của ông. Trong một lần Chúa Trịnh Cương đọc bài thơ Lăng mẫu tống sứ giả của Lê Thánh Tông, thấy thiếu hai câu luận (câu 5 và 6), liền sai các quan văn bổ sung nhưng không ai nghĩ ra. Bài thơ gốc như sau:
Đình phô đằng đẵng ngựa rời chân
Nỗi mẹ con rày gửi sứ quân
Nhớ Hán lòng còn son một tấm
Thương Lăng tóc đã bạc mười phân
…
Mình thiếp lá vàng cồn mỏng mảnh
Về thời khuyên nó nghĩa quân thần.
Nguyễn Quý Đức liền ứng khẩu đọc hai câu sau theo đúng như lối thơ Nôm thời Hồng Đức, câu 5, 6 thường chỉ có 6 chữ:
Niềm trung hiếu khôn hai vẹn
Hội công danh dễ mấy lẩn.
Chúa Trịnh khen ngợi và ban thưởng hai hốt bạc.
Là người đứng đầu Quốc Tử Giám trong hơn 10 năm, Nguyễn Quý Đức hết sức coi trọng việc chọn lọc và đào tạo nhân tài. Có lần ông ra đề văn “Chiếu của Hán Quang Vũ triệu Nghiêm Tử Lăng”, có sĩ tử Nguyễn Mậu Thuởng viết được các quan khen:
Cừu khinh khinh, xa thốc thốc, ngoại khuyết hi cộng tệ chi bằng,
Vân thương thương, thủy ương ương, Đồng giang thiểu giao du chi khách.(Áo cừu nhẹ nhàng, xe chạy rầm rập, phía ngoài cung điện nhà vua hiếm thấy những bạn bè cùng mặc chung áo rách,
Mây rờn rợn, nước mênh mông, sông Đông giang thiếu khách qua lại chơi bời).
Riêng Nguyễn Quý Đức cho là lối văn chỉ chải chuốt bên ngoài, còn nội dung không có gì mới, không phải là lời nói của bậc vương giả. Ông liền soạn một bài, trong có câu:
Thử nhất thời, bỉ nhất thời, vô đồ mộ Sào Do chi tịch thế,
Xuất thị đạo, xử thị đạo, khả đương sư Y Lã chi phụ nhân.(Đó một thời, đây một thời, đừng bắt chước lối trốn đời của Sào Do,
Giúp đời cho đúng đạo, tránh đời cũng đúng đạo, nên coi Y Doãn, Lã Vọng làm thầy).
Ở Quốc Tử Giám hơn mười năm, công giáo dục của ông rất lớn đào tạo được nhiều nhân tài giúp ích cho nước nhà.
Khi làm Tế tửu Quốc Tử Giám, một lần ngồi cùng các quan ra đề cho sĩ tử tập tại nhà Minh Luân, ông nghe tiếng mọt nghiến cột gỗ liền ngẫu hứng khẩu chiếm:
Khai thông khổng khiếu hiền nhân trí
(Chí người hiền: khai thông năng khiếu)
Và được Thám hoa Vũ Thạch đối lại:
Hoá dục côn trùng tạo hoá công
(Công thợ tạo: hoá dục côn trùng)
Các học quan đánh giá câu của Nguyễn Quý Đức thể hiện khí độ Tể tướng, còn câu của Vũ Thạch là phong thái người thầy đào tạo trò giỏi.
Với tầm nhìn văn hóa sâu rộng, ông trực tiếp giám sát việc tuyển chọn giám sinh, đích thân chọn thầy giảng và kiểm tra ở các trấn. Năm 1716, ông đề nghị triều đình cho trùng tu Quốc Tử Giám, xây dựng gần như mới toàn bộ. Kinh phí do triều đình cấp chỉ vỏn vẹn 1.000 quan, ông đã tự quyên góp và bỏ tiền cá nhân để hoàn thiện công trình. Nhờ sự chỉ đạo sát sao của ông, Quốc Tử Giám được dựng lại với quy mô mới gồm: Đại Thành điện, hai dãy Tả vu, Hữu vu.
Năm 1717, ông tiếp tục giám sát việc dựng 20 tấm bia Tiến sĩ ghi danh những người đỗ đạt từ khoa 1656 đến khoa 1715. Nhiều tấm bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội ngày nay vẫn còn ghi rõ tên ông trong vai trò người nhuận sắc bài minh, bên cạnh các tác giả như Bùi Sĩ Tiêm, Dương Bật Trạc, Nguyễn Kiều, Nguyễn Nham, Nguyễn Quý Ân…
- Thịnh Đức tứ niên Bính Thân khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1656)
- Vĩnh Thọ nhị niên Kỷ Hợi khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1659) Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân con trai Nguyễn Quý Đức soạn văn bia.
- Vĩnh Thọ tứ niên Tân Sửu khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1661).
- Cảnh Trị nhị niên Giáp Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1664).
- Cảnh Trị ngũ niên Đinh Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1667).
- Cảnh Trị bát niên Canh Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1670).
- Dương Đức nhị niên Quý Sửu khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1673). Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân soạn văn bia.
- Vĩnh Trị nguyên niên Bính Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1676). Khoa thi Nguyễn Quý Đức đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (tức Thám hoa).
- Vĩnh Trị ngũ niên Canh Thân khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1680).
- Chính Hoà tử niên Quý Hợi khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1683).
- Chính Hoà lục niên Ất Sửu khoa Tiến sĩ để danh ký (Khoa thi năm 1685)
- Chính Hoà cửu niên Mậu Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1688) Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân soạn văn bia.
- Chính Hoà thập nhị niên Tân Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1691)
- Chính Hoà thập ngũ niên Giáp Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1694.)
- Chính Hoà thập bát niên Đinh Sửu khoa Tiến sĩ đề danh ký.(Khoa thi năm 1697)
- Chính Hoà nhị thập nhất niên Canh Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1700)
- Chính Hoà nhị thập tứ niên Quý Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1703) Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân soạn văn bia.
- Vĩnh Thịnh nhị niên Bính Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1706)
- Vĩnh Thịnh lục niên Canh Dần khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1710)
- Vĩnh Thịnh bát niên Nhâm Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1712)
- Vĩnh Thịnh thập nhất niên Ất Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1715) Khoa thi Nguyễn Quý Ân con trai Nguyễn Quý Đức đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng giáp)
Nguyễn Quý Đức không chỉ là bậc trọng thần mà còn là nhà giáo dục tiêu biểu, để lại dấu ấn sâu sắc trong việc kiến tạo hệ thống đào tạo nhân tài cho quốc gia dưới thời Lê – Trịnh.
Tư tưởng sử học và công trình biên soạn
Nguyễn Quý Đức cũng để lại dấu ấn nổi bật trong lĩnh vực sử học. Vào khoảng năm Chính Hòa thứ 18 (1697), ông được vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn giao nhiệm vụ làm Toản tu quốc sử. Trong vai trò này, ông đã cùng với Lê Hy biên soạn các sự kiện lịch sử trong khoảng 13 năm, từ đời vua Lê Huyền Tông (1663–1671) đến đời vua Lê Gia Tông (1672–1675), phần biên chép này được gọi là Tục biên.
Tác phẩm mà ông góp phần biên soạn có tên đầy đủ là Quốc sử tục biên thực lục, còn được biết đến với các tên gọi như Tục biên hay Đại Việt sử ký tục biên. Công trình này do Lê Hy và Nguyễn Quý Đức hoàn thành vào năm 1697, hiện được bảo tồn dưới dạng quyển XIX – Kỷ nhà Lê, trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Sử học, xuất bản năm 1967-1968 (gồm 4 tập).
Quan điểm viết sử của Nguyễn Quý Đức thể hiện rõ trong phương pháp và tư tưởng biên soạn: trước hết là phải nêu lên việc làm tốt, việc làm xấu trong đạo trị quốc; việc tốt thì khen, việc xấu thì chê, nhằm giúp hậu thế rút lấy bài học kinh nghiệm lịch sử. Bộ sử do ông tham gia biên soạn được đánh giá là có phương pháp rõ ràng, ghi chép rành mạch và đặc biệt nổi bật ở những lời bàn nghiêm cẩn, xác đáng.
Bên cạnh đó, Nguyễn Quý Đức cũng để lại dấu ấn trong lĩnh vực sử liệu qua việc đề tựa cho tác phẩm Việt sử thông khảo, cho thấy mối quan tâm sâu sắc của ông đối với việc nghiên cứu và truyền bá tri thức lịch sử cho thế hệ sau.
Dấu ấn thi ca Nguyễn Quý Đức
Nguyễn Quý Đức là một nhà thơ có đóng góp đáng kể cho văn học trung đại Việt Nam. Các tác phẩm thơ của ông bao gồm Thi Châu tập, Hoa Trình thi tập, cùng với 72 bài thơ hiện được chép lại trong Toàn Việt thi lục (quyển 24, từ tờ 35 trở đi). Ngoài ra, một số bài thơ văn Nôm của ông còn được lưu truyền đan xen trong các tác phẩm chữ Hán, hiện nằm trong bộ sách Nguyễn Quý thị văn phả, gồm năm tập, do con cháu của ông lưu giữ tại tư gia.
Trong số các bài thơ trên, nhiều bài được trích từ Hoa Trình thi tập, sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc tiến cống năm Canh Ngọ (1690). Trong lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc thời quân chủ, từ đời Trần đến đời Nguyễn, có khoảng 60 vị sứ thần sáng tác thơ đi sứ, để lại hàng trăm tập thơ và gần một vạn bài, tạo thành một bộ phận quan trọng trong kho tàng thi ca cổ điển Việt Nam. Từ thời Lê Trung hưng trở đi, thơ đi sứ đặc biệt phát triển, với nhiều thi tập của các danh sĩ như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Sĩ Đống, Lê Quý Đôn…
Đánh giá về dòng thơ đi sứ này, danh sĩ Ngô Thì Nhậm từng viết trong lời tựa Tinh Sà kỷ hành của Phan Huy Ích:
Đến như từ Lê Trung hưng về sau, các nhà thơ danh tiếng thấy trong các tập thơ đi sứ. Hoặc thăm chốn thanh u, viếng nơi cổ tích, gặp cảnh mà sinh tình. Hoặc xa cố quốc, nhớ quê nhà, nhân việc mà tỏ ý… Hương thơm có thể nhuần thấm cho đời sau...
Thơ đi sứ của Nguyễn Quý Đức tiêu biểu cho mạch cảm hứng ấy, ghi lại những khoảnh khắc thanh bình và những rung cảm sâu lắng trong tâm hồn vị sứ giả khi ngược xuôi trên hành trình “hoàng hoa”.
Sinh thời ông còn có công đóng góp nhiều xây dựng, trùng tu nhiều công trình tại quê hương. Văn bia Trùng Quang tự bi kí còn ghi: “Năm Vĩnh Thịnh 2 (1706) Quốc lão đại vương Nguyễn Quý Đức đã bỏ tiền ra để trùng tu chùa Trùng Quang. Nhờ có công đức ấy để lại phúc khánh cho đời sau, nên ngày nay cháu đích tôn của Đại vương là Kính Quận công Nguyễn Quý Kính quyền cao chức trọng, gia tộc vinh hoa lại kế nối chí của cha ông mà lưu truyền mãi mãi.”
Nghiên cứu về Nguyễn Quý Đức
Người đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Quý Đức là nhà văn hóa Vũ Tuân Sán (1914–2017), một trong những trí thức hiếm hoi thông thạo cả ba nền văn hóa Pháp – Hán – Nôm. Năm 1974, cụ đạp xe về tận nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý tại Đại Mỗ để tiếp cận tư liệu gia phả và tư liệu Hán Nôm. Bài viết đầu tiên của cụ được đăng trong sách Danh nhân Hà Nội tập 2 (Hội Văn nghệ Hà Nội, 1976), bao gồm khảo cứu về Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân và Nguyễn Quý Kính.
Con cháu họ Nguyễn Quý ghi nhận công lao của cụ Vũ Tuân Sán, lấy các nghiên cứu của cụ làm chuẩn trong việc biên soạn, đối chiếu các dị bản khác.
Nguyễn Quý Đức là bậc hiền tài của đất Thiên Mỗ, một vị Quốc sư, Thám hoa, Tể tướng đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử dân tộc, không chỉ bởi công trạng với triều đình, mà còn bởi khí độ cao quý, trí tuệ mẫn tiệp, lòng sùng học và đạo lý làm người. Những gì ông để lại, từ huyền tích tổ mẫu thiên táng, chuyện sao sa giếng nước, đến các bài thơ, câu đối và sử tích, vẫn được trân trọng gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Tài liệu tham khảo
- Ngô Thì Nhậm. Lời tựa Tinh sà kỷ hành của Phan Huy Ích.
- Nguyễn Quý thị văn phả. Gồm 5 tập. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
- Phạm Đình Hổ. Gia thục quần thư tham khảo (Quyển hạ, tờ 62). Bản Nôm. Thư viện Khoa học Xã hội, Ký hiệu lưu trữ: A478.
- Phạm Khắc Gia (1798). Bút tích đề thơ tại nhà thờ họ Nguyễn Quý. Bản lưu trong gia phả, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
- Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, mục “Văn tịch chí”.
- Phan Kế Bính. Nam Hải dị nhân liệt truyện. Bản in Nôm. (Trích dẫn nội dung liên quan đến địa cuộc của họ Nguyễn Quý tại Thiên Mỗ).
- Thế phả họ Nguyễn Quý. Tư liệu gia truyền, bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
- Toàn Việt thi lục, quyển 24. Chép 72 bài thơ của Nguyễn Quý Đức.
- Viện Sử học (1991). Đại Việt sử ký tục biên (Bản dịch 4 tập). Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
- Việt sử thông khảo. Tác phẩm có đề tựa của Nguyễn Quý Đức.
- Vũ Phương Đề. Công dư tiệp ký (Bản dịch). Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa.
- Vũ Tuân Sán (1976). “Nguyễn Quý Đức – Nguyễn Quý Ân – Nguyễn Quý Kính”. Danh nhân Hà Nội – Tập 2. Hà Nội: Hội Văn nghệ Hà Nội.
- Văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Các tấm bia ghi danh Tiến sĩ từ khoa 1656 đến 1715, đặc biệt các văn bia do Nguyễn Quý Đức nhuận sắc.
- Văn bia tại Miếu Vườn Chùa, Đại Mỗ, Hà Nội. Đặc biệt là bài thơ đề năm Mậu Ngọ (1798) của Phạm Khắc Gia.















Một bình luận
Đã xem